Trang chủ / Review / Không Nơi Nương Tựa

Không Nơi Nương Tựa

Thể loại Quà tặng cuộc sống
Tác giả Dave Pelzez
NXB NXB Trẻ
Công ty phát hành First News – Trí Việt
Số trang 227
Ngày xuất bản 03-2016
Giá bán Xem giá bán

Khát vọng và ý chí tuyệt vời của một em bé trong tận cùng của sự hắt hủi và vùi dập.

Không Nơi Nương Tựa là câu chuyện thật của chính tác giả, kể về thời thơ ấu bị vùi dập đau thương của mình – một trong những trường hợp hắt hủi và bạo hành trẻ em nghiêm trọng nhất lịch sử bang California, Hoa Kỳ. Em bé Dave Pelzer đã bị chính mẹ ruột bỏ đói và đánh đập tàn nhẫn. Người mẹ luôn bày ra những trò không thể đoán trước được, ác độc và gây nguy hiểm đến tính mạng của cậu. Dave phải học cách đối phó với những ngón đòn của người mẹ ruột của chính mình để sống sót vì bà ta đã không còn xem cậu là con trai của mình, mà chỉ là một tên nô lệ; trong mắt bà ta, Dave không phải là một đứa bé, mà là một “con vật”.

Chỗ ngủ của Dave là một chiếc cũi nhỏ và cũ kỹ đặt dưới tầng hầm, còn quần áo của cậu thì rách nát và luôn bốc mùi nồng nặc. Cậu chỉ được mẹ quẳng cho những mẫu thức ăn dư thừa, ôi thiu. Thế giới bên ngoài không hay biết gì về những cơn ác mộng có thật của cậu bé đáng thương ấy. Cậu không có bất kỳ ai để nương tựa, chỉ có những giấc mơ dẫn đường cho cậu tiếp tục sống – giấc mơ về một người nào đó quan tâm đến cậu, yêu thương cậu và gọi cậu là con.

Qua mỗi cuộc chống chọi của cậu bé ấy trong bóng tối cay nghiệt, bạn sẽ thấy như bản thân mình cũng cảm nhận được nỗi đau của cậu, an ủi nỗi cô đơn của cậu và cùng cậu tranh đấu cho sự sống còn. Câu chuyện đầy sức thuyết phục này sẽ giúp chúng ta nhận định rõ hơn về bản chất của nạn bạo hành trẻ em, đồng thời biết rằng chúng ta hoàn toàn có khả năng tạo nên một điều gì đó khác biệt để chấm dứt thực trạng đau lòng này.

Dave Pelzer được xem là một trong những phát ngôn viên quốc gia làm việc hiệu quả nhất và đáng tin cậy nhất, chuyên hoạt động trong các nhóm hội, tổ chức chuyên nghiệp về dịch vụ nhân quyền. Những thành tích nổi bật của Dave đã nhận được những lời khen tặng từ đích thân cựu Tổng thống Ronald Reagan và George Bussh. Năm 1993, Dave được vinh danh là một trong mười Đại diện tiêu biểu nhất của Thanh niên Hoa Kỳ và năm 1994, Dave là công dân duy nhất của nước Mỹ vinh dự được trao tặng giải thưởng Thanh niên tiêu biểu nhất của thế giới. Dave còn được chọn làm người rước đuốc trong Thế Vận Hội năm 1996. Dave đã cống hiến cả cuộc đời mình để giúp nhiều người khác thoát khỏi nghịch cảnh.

Dave là tác giả của quyển The Lost Boy – phần hai trong bộ ba tác phẩm của ông, và phần cuối là A Man Named Dave.

Dave sống một cuộc sống bình lặng ở Ranccho Mirage, California với vợ, con trai Stephen và chú rùa cưng tên Chuck.

“A child called ‘It’” là câu chuyện thật sự cảm động và thu hút, đến nỗi tôi lẫn các đồng sự đều không thể kiềm lòng. Câu chuyện của Dave Pelzer không nhằm mục đích nhấn mạnh hoàn cảnh khó khăn, tăm tối trong quá khứ mà nhằm nói lên ý chí cao độ của anh, đó cũng chính là điều đã làm lay động trái tim của tất cả chúng ta. Dave là một minh chứng sống cho việc tất cả chúng ta đều có khả năng làm cho cuộc đời của chính mình tốt đẹp hơn dù có gặp phải những khó khăn, trắc trở thế nào đi nữa.

Mời bạn đón đọc.

Bảng Review

Nội dung
Văn phong
Độ dễ đọc
Ứng dụng
Chất lượng giấy
User Rating: 4.5 ( 1 votes)

Trích dẫn

CHƯƠNG 1. GIẢI THOÁT

Ngày 5 tháng 3 năm 1973, Thành phố Daly, California.

Tôi dậy muộn. Nếu không rửa xong đống bát đĩa kia đúng giờ, sáng nay tôi sẽ không được ăn sáng. Vì tối qua chẳng được ăn gì nên giờ tôi phải cố làm sao để có cái gì đó cho vào bụng. Mẹ đang rượt đuổi và hét mắng hai người anh em trai của tôi. Nghe thấy tiếng chân huỳnh huỵch của mẹ ngoài hành lang nhà bếp, tôi vội vã nhúng tay vào bồn rửa bát.

Nhưng không kịp rồi. Mẹ đã nhìn thấy tay tôi bên ngoài chậu nước.

BỐP! Mẹ tát mạnh vào mặt tôi khiến tôi ngã bổ nhào xuống sàn nhà. Tôi biết tốt hơn hết là mình nên đứng yên đó mà chịu trận. Tôi đã học được một điều cay đắng là mẹ xem việc tôi ngã, chảy máu hay khóc lóc như một hành động thách thức; và điều đó có nghĩa là tôi sẽ nhận thêm nhiều trận đòn khác, hay tệ hơn là sẽ bị bỏ đói. Tôi lồm cồm ngồi dậy và né tránh cái nhìn của bà, trong khi bà vẫn quát vào tai tôi những từ ngữ đã trở nên quá quen thuộc.

Những lời đe dọa của mẹ khiến tôi dè dặt hẳn. Tôi thì thào:

– Làm ơn! Chỉ cần cho con ăn thôi. Mẹ cứ đánh con nữa đi, nhưng con cần được ăn!

Cú đánh tiếp theo của mẹ dúi đầu tôi vào tường. Như đã giải tỏa được cơn tức giận, mẹ lao ra khỏi nhà bếp. Những giọt nước mắt chịu đựng chảy dài trên mặt tôi. Khi biết chắc mẹ đã đi khỏi, tôi thở phào nhẹ nhõm. Mẹ có thể đánh tôi bao nhiêu cũng được, nhưng tôi không bao giờ để mẹ vùi dập nghị lực sống của tôi.

Rửa xong bát đĩa, tôi dọn dẹp nhà cửa. Phần thưởng cho tất cả những việc này là một bữa ăn sáng – gọi là bữa ăn sáng, nhưng thật ra đó chỉ là những mẩu thức ăn thừa trong khẩu phần của cậu em trai của tôi. Ngày hôm nay như thế là đã may mắn lắm. Nhưng tôi phải ngốn thật nhanh trước khi mẹ thay đổi ý định. Trước giờ mẹ vẫn thường như thế. Mẹ sử dụng thức ăn như một thứ vũ khí lợi hại. Mẹ sẵn sàng quẳng phần thức ăn thừa ít ỏi vào thùng rác vì biết thế nào tôi cũng sẽ moi nó ra mà ăn. Mẹ nắm hết mọi suy nghĩ và hành động của tôi.

Vài phút sau đó tôi nhảy vội lên chiếc xe chở hàng của gia đình. Vì phải lo dọn dẹp nhà cửa nên tôi bị trễ giờ, và mẹ phải chở tôi đi học. Thường ngày tôi vẫn chạy bộ đến trường, mỗi lần như vậy tôi đều đến nơi vừa kịp lúc lớp học bắt đầu nên tôi cũng chẳng thó được chút thức ăn nào từ phần ăn trưa của những bạn khác.

Mẹ để anh tôi xuống xe trước và giữ tôi lại để thông báo cho tôi biết kế hoạch ngày mai. Mẹ sẽ đưa tôi sang nhà cậu. Mẹ nói cậu Dan sẽ “chăm sóc” tôi. Giọng mẹ như hăm dọa. Tôi nhìn mẹ làm ra vẻ sợ hãi. Tuy vậy, trong thâm tâm, tôi lại nghĩ dù cậu có nghiêm khắc đến mấy nhưng chắc chắn cậu sẽ không đối xử với tôi giống như cách của mẹ.

Tôi lao ra khỏi xe, mẹ hét với theo bảo tôi quay lại do tôi bỏ quên hộp cơm trưa. Khẩu phần trưa của tôi suốt ba năm nay vẫn vậy – chỉ là hai chiếc bánh sandwich phết bơ đậu phộng và một vài thanh cà rốt bé tí. Trước khi tôi đóng cửa xe, mẹ còn nói với theo:

– Này, nếu cô giáo có hỏi thì nhớ nói là do mày bị va vào cửa nhé. – Rồi bằng một giọng nói rất ít khi dành cho tôi, mẹ nói tiếp: – Một ngày tốt lành nhé!

Tôi nhìn vào đôi mắt đỏ hoe sưng húp của mẹ, đó là vết tích của một ngày dài căng thẳng hôm qua. Mái tóc óng ả, mượt mà ngày xưa của mẹ giờ chỉ còn là một búi tóc xác xơ. Mẹ ít khi trang điểm. Do thừa cân nên lúc nào trông mẹ cũng nặng nề, và mẹ biết rõ điều đó.

Vì đến lớp khá muộn nên tôi phải lên văn phòng nhà trường báo cáo. Cô nhân viên phòng giáo vụ với mái tóc đã điểm bạc cười chào tôi. Lát sau, giám thị nhà trường đến gọi tôi vào văn phòng rồi hướng dẫn tôi làm thủ tục vào lớp. Cô giám thị nhìn mặt và tay tôi rồi hỏi:

– Mắt em sao thế?

Tôi cúi đầu ấp úng:

– Vâng, do em sơ ý va vào cửa ạ.

Cô mỉm cười và mở ngăn kéo lấy tập hồ sơ. Sau khi lật qua vài trang, cô dừng lại và chỉ vào tờ giấy:

– Đây, thứ Hai tuần trước em cũng nói như vậy.

Em có nhớ không?

Tôi vội vàng đính chính:

– Vâng, em chơi bóng và bị va vào cột. Chỉ là sơ ý thôi ạ.

Tôi luôn cố gắng thuyết phục giám thị là tôi sơ ý tự gây thương tích cho mình. Nhưng cô ấy hẳn đã hiểu là còn nguyên nhân nào khác. Cô khuyên tôi nên nói thật. Cuối cùng, tôi đã không thể nói dối được nữa và đành phải thú nhận mọi chuyện, mặc dù tôi biết lẽ ra mình phải tìm cách nào đó để bảo vệ mẹ.

Cô giám thị an ủi tôi và bảo tôi cởi áo ngoài. Năm ngoái, chúng tôi cũng từng rơi vào tình huống này rồi nên ngay lập tức tôi làm theo lời cô. Chiếc áo sơ mi dài tay này tôi đã mặc liên tục trong hai năm trời nên bị thủng nhiều lỗ còn hơn cả miếng phó mát Thụy Sỹ nữa. Mẹ bắt tôi mặc đi mặc lại chiếc áo ấy như muốn tôi phải xấu hổ trước bạn bè. Chiếc quần tôi đang mặc thì bạc phếch, còn đôi giày thì sờn cũ và rách mũi đến mức ngón chân của tôi có thể thò ra ngọ nguậy. Giám thị nhìn những vết bầm và trầy xước trên cơ thể tôi rồi cẩn thận ghi vào hồ sơ. Cô quan sát những vết cứa trên mặt tôi, cố gắng tìm lại những vết thương mà cô đã bỏ qua ở những lần ghi chú trước. Cô bảo tôi há to miệng và nhìn vào những dấu răng mẻ của tôi do bị đập vào cạnh bàn. Có vẻ như cô không để sót bất kỳ một dấu vết tổn thương nào của tôi. Cuối cùng, cô sửng sốt nhìn vào vết sẹo ở bụng tôi và kêu lên:

– Mẹ đánh em vào chỗ này phải không?

– Vâng, thưa cô. – Tôi trả lời. “Ôi không!” – Tôi nghĩ thầm – “Mình lại phạm sai lầm nữa rồi”. Như đọc được nỗi lo lắng trong mắt tôi, cô giám thị đặt hồ sơ xuống bàn và dịu dàng ôm tôi vào lòng. “Chao ôi! Cô ấy mới ấm áp làm sao”. Tôi không còn muốn đi đâu nữa, chỉ mong được ở lại trong vòng tay của cô mãi mãi. Tôi nhắm nghiền mắt, trong lòng cứ sợ giây phút ngắn ngủi này sẽ không bao giờ có nữa…

Cô giám thị xoa nhẹ đầu tôi. Thế mà tôi cũng không chịu nổi, phải co người lại vì vết sưng tấy trên trán. Khi cô vừa đi khỏi, tôi vội vã mặc quần áo vào; tôi không muốn ai nhìn thấy những vết thâm tím trên cơ thể mình. Một lát sau, cô giám thị quay trở lại cùng với thầy hiệu trưởng Hansen và hai giáo viên của tôi, cô Woods và thầy Ziegler. Thầy hiệu trưởng biết tôi rất rõ. Tôi đến văn phòng của thầy nhiều hơn bất kỳ học sinh nào khác trong trường này. Đọc xong phần ghi chép về tôi trong hồ sơ giám thị, thầy nâng cằm tôi lên. Tôi ngượng ngùng không dám nhìn vào mắt thầy, vì lúc nào thầy cũng muốn biết nhiều hơn, nhiều hơn nữa về mẹ tôi, rằng tại sao mọi chuyện lại xảy ra như thế. Tôi thường tránh nói bất kỳ điều gì với thầy về mẹ. Một năm trước, có lần thầy mời mẹ tôi lên để hỏi về những vết trầy xước trên người tôi. Lúc đó, thầy không biết thực sự chuyện gì đã xảy ra. Thầy chỉ biết tôi là đứa trẻ ngỗ nghịch vì hay đánh cắp thức ăn trưa của các bạn trong lớp. Nhưng chỉ ngay ngày hôm sau khi tôi đến lớp, thầy biết tôi lại bị mẹ đánh khi nhìn thấy những vết bầm mới. Từ đó, thầy không bao giờ mời mẹ tôi đến trường nữa.

Thầy Hansen quay sang nói lớn với mọi người rằng không thể để tình trạng này kéo dài. Nghe thầy nói thế, tôi sợ tái mặt. “Thầy lại gọi cho mẹ mất thôi.” – Tôi bắt đầu hình dung đến những cảnh tượng khủng khiếp có thể xảy ra. Rồi không thể kìm được nữa, tôi òa khóc, người run lên bần bật. Tôi lắp bắp van xin thầy đừng gọi điện cho mẹ: “Xin thầy làm ơn! Làm ơn đừng gọi cho mẹ em hôm nay. Thầy không biết hôm nay là thứ Sáu sao?”.

Thầy Hansen đành phải hứa với tôi là sẽ không gọi cho mẹ tôi, rồi thầy bảo tôi hãy về lớp. Tôi chỉ còn kịp chạy thẳng đến lớp tiếng Anh của cô Woodworth. Hôm nay là ngày thi viết toàn bang mà tôi lại chưa chuẩn bị gì. Tôi vốn là học sinh giỏi, nhưng mấy tháng qua tôi gần như bỏ mặc mọi thứ trên đời, kể cả việc chạy trốn nỗi đau khổ của mình bằng cách vùi đầu vào những bài tập trong lớp.

Khi tôi vừa bước chân vào lớp, tất cả học sinh trong lớp đều bịt mũi lại và xì xào bàn tán về tôi. Người dạy thế là một cô giáo trẻ, cô cũng xua xua tay tỏ vẻ khó chịu. Cô ấy không quen với cái mùi của tôi. Cô chìa tay thật xa để đưa bài kiểm tra cho tôi, nhưng tôi chưa kịp về đến chỗ ngồi của mình ở phía cuối lớp, gần cánh cửa sổ đang mở toang thì lại bị gọi ngược lên văn phòng của thầy hiệu trưởng. Cả gian phòng bắt đầu xôn xao vì những tiếng thì thào của các bạn nhắm vào tôi – một đứa học sinh lớp năm luôn bị xa lánh.

Để lại comment

avatar
7000