Trang chủ / Quà tặng cuộc sống / Đường Mây Qua Xứ Tuyết

Đường Mây Qua Xứ Tuyết

NutritionForLife-convert1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả : Anagarika Govinda

Download sách Đường Mây Qua Xứ Tuyết ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục :  SÁCH HAY VỀ CUỘC SỐNG

2. DOWNLOAD

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ?  Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Hoa Sen Và Mây Ngũ Sắc

Gió lạnh rít từng cơn, mây đen vần vũ phủ kín bầu trời xứ Tholing. Thỉnh thoảng một tia chớp lóe lên soi rõ một ngôi chùa đổ nát nằm chơ vơ trên đỉnh đồi.

Ngày xưa chùa này đã từng là ngôi quốc tự của xứ Tholing, một tiểu quốc nằm ở phía đông Tây Tạng. Nhưng định mệnh đã biến xứ này thành một miền hoang vu không người cư ngụ, và ngôi chùa cũng bị bỏ hoang từ nhiều thế kỷ nay.

Con đường mòn dẫn lên chùa đã bị cỏ mọc kín, chỉ còn trơ lại mấy chiếc cột xiêu vẹo. Chiếc sân gạch bị rong rêu bám kín, rải rác những pho tượng hộ pháp bị thời gian làm hư hại, đầu một nơi, mình một nẻo. Hậu liêu cũng sụp đổ gần hết, chỉ còn chánh điện hoang tàn với vài pho tượng Phật là còn nguyên vẹn.

Một tiếng sấm nổ vang làm rung rinh cả mái chùa, nhiều viên ngói bị thổi bật lên, rơi xuống sân vỡ nát. Chiếc xà ngang đã mục vẫn cố gắng chống đỡ mái chùa từ bao lâu nay, không thể chịu đựng hơn nữa đã nghiêng oằn xuống khiến những viên ngói còn lại đồng loạt chuyển động kêu lách cách…

Sàn chánh điện trước được lót bằng một lớp ván dày nhưng lâu ngày không người săn sóc đã mục nát, rong rêu bám xanh rì…

Giữa những đám rong rêu đó có một bông hoa nhỏ bé vươn lên, một bông hoa kỳ lạ màu trắng tinh khiết. Không ai biết nó từ đâu đến, tại sao lại mọc giữa đám rong rêu bẩn thỉu như vậy!

Bông hoa vô danh run rẩy trước cơn cuồng phong mỗi lúc một mạnh, nó lo lắng nhìn lên cây xà ngang đã nghiêng hẳn xuống. Chỉ một cơn gió mạnh nữa thôi, cây xà ngang sẽ gãy gục và toàn mái chùa sẽ sụp đổ đè nát tất cả những vật ở phía dưới…

Bông hoa vô danh nhìn lên bức tượng đức Bồ Tát Quán Thế Âm gần đó, lẩm bẩm cầu nguyện:

– Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát, xin ngài rủ lòng thương xót cứu cho chốn này thoát khỏi tai nạn bị hủy diệt…

Lời khẩn cầu chí thành đã cảm ứng đến đức Quán Thế Âm Bồ Tát nên ngài hiện ra trên tòa sen:

– Hỡi bông hoa nhỏ bé kia, há ngươi không biết rằng trong cõi thế gian này tất cả đều lưu chuyển biến dịch, không có gì có thể gọi là thường trụ bất biến. Có sinh ắt phải có diệt, có thành ắt phải có hoại. Ngôi chùa này đã đến giai đoạn sắp bị hủy hoại thì cũng là luật vô thường mà thôi. Kiếp sống của bông hoa cũng như vậy, không thể ra ngoài bốn thời kỳ “thành, trụ, hoại, không”. Thay vì lo lắng kéo dài kiếp sống, ngươi hãy cố gắng ý thức tính chất vô thường và nhận thức thực tướng của sự vật.

Bông hoa vô danh cúi đầu đảnh lễ và thưa:

– Bạch đức Bồ Tát, con cầu nguyện không phải cho chính con. Từ khi còn là một hạt giống nằm dưới kẽ nứt trong vách ván, con vẫn được nghe các vị tăng tụng kinh, nhất là bộ Bát Nhã Ba La Mật, nên con ý thức được trên đời có sinh ắt có diệt, tất cả thế gian đều chỉ là huyễn, không có thực. Ngay cả những bộ kinh điển quý báu chứa đựng trong chiếc hòm gỗ bên cạnh bàn thờ, vì là vật hữu hình nên hữu hoại, trước có sau không, nay còn mai mất, không thể bền vững lâu dài. Nhưng con biết bộ kinh quý báu này đã được cất giữ nơi đây từ nhiều thế kỷ chưa được truyền ra bên ngoài, nên con cầu nguyện rằng hãy để cho những bộ kinh đó được làm tròn sứ mạng của nó. Mặc dù lúc này đa số nhân loại đang bị màn vô minh che phủ, chìm đắm trong dục vọng điên cuồng, nhưng vẫn có một số ít người chỉ bị một chút bụi bám vào mắt, chỉ cần một chút ánh sáng soi rõ có thể làm họ quay đầu tỉnh ngộ… Vì lý do này, con cầu xin chư Phật rủ lòng thương xót cho truyền bá bộ kinh quý báu này ra ngoài cho thế gian…

Đức Bồ Tát Quán Thế Âm nghe xong rất lấy làm hài lòng. Ngài quay lại đảnh lễ đức Phật Thích Ca và nhắc lại lời cầu khẩn của bông hoa vô danh. Đức Phật Thích Ca nở một nụ cười hoan hỉ:

– Lành thay, bông hoa nhỏ bé kia đã nói với tất cả tâm thành của một trái tim Bồ Tát. Nó đã biết quên mình mà chỉ nghĩ đến người khác. Ngôi chùa này đáng lẽ phải bị hủy hoại, tất cả những kinh điển chất chứa nơi đây đáng lẽ ra phải chịu chung số phận. Nhưng ta chấp thuận lời phát tâm của bông hoa nhỏ bé mà cho phép những kinh điển đó được truyền tụng cho thế gian, cho đến khi mục đích của những bộ kinh đó được viên mãn.

Đức Phật Thích Ca vừa dứt lời, các vị Hộ Pháp chư tôn Bồ Tát đồng thanh tuyên bố:

– Chúng ta sẽ gìn giữ ngôi chùa này khỏi nạn hủy diệt cho đến khi nó làm tròn phận sự mà đức Phật Thích Ca giao phó.

Chỉ một thoáng giây, trời đất bỗng trở nên quang đãng lạ thường, cơn bão đã tan hết, vầng trăng tỏa nhẹ ánh sáng xuống xứ Tholing. Một mùi hương thơm ngát từ đồi Tsaparang thoảng đi khắp mười phương thế giới. Đức Bồ Tát Quán Thế Âm mỉm cười với bông hoa vô danh:

– Lành thay, con đã phát một hạnh nguyện vô ngã, lợi tha rất lớn. Từ nay ta đặt tên cho con là Tuyết Liên Hoa, một giống sen vô cùng quý báu chỉ mọc tại xứ Tây Tạng, và những kẻ nào ngửi được mùi hương của con cũng đều phát tâm tinh tấn tu hành để thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi.

Lạt Ma Ngawang Kalzang nhập thất đã hơn mười hai năm trong một hang đá hẻo lánh. Không ai biết ngài là ai, không ai nghe đến tên ngài. Ngài chỉ là một trong hàng ngàn tu sĩ sau một thời gian tu học trong tu viện đã phát nguyện tu nhập thất.

Thế gian đã quên ngài nhưng ngài không quên thế gian. Ngài đã đạt đến trạng thái tâm vô phân biệt, không còn thấy thế gian và ngài có sự sai khác nữa. Nếu có quên thì có lẽ ngài đã quên chính mình, đã đạt đến trạng thái Vô Ngã (Egolessness) hòa đồng với bản thể của mọi vật, mình và mọi vật đều là một.

Trong lúc tu thiền, chỉ có một vài thú rừng đến quấn quít chung quanh, còn ngoài ra tất cả hoàn toàn vắng lặng. Gần như không ai đặt chân đến khe núi hiểm trở hoang vu này, vì đường vào khe núi đã bị đá đổ xuống lấp kín lối vào. Đêm hôm đó, một luồng sét ở đâu bỗng xẹt trúng tảng đá, đánh bật nó qua một bên…

Hôm sau, một người chăn dê đi ngang qua khe núi. Đang mải miết đi, bỗng anh nghe thấy tiếng mõ nhịp đều đặn, thỉnh thoảng lại điểm một tiếng chuông. Lúc đầu người chăn dê hoảng sợ vì tại sao giữa chốn hoang vu thế này lại có tiếng mõ, mà âm thanh nghe sao lâng lâng thoát tục, không giống như những tiếng mõ thông thường? Trí tò mò thúc giục anh lần bước theo tiếng mõ vào khe núi cho đến khi đến trước một hang động thì âm thanh chợt im bặt.

Người chăn dê nhìn thấy một tu sĩ đang yên lặng ngồi thiền trong động đá. Thân thể tu sĩ gầy ốm, chỉ còn da bọc xương, nhưng khuôn mặt ngài lại tỏa ra một vẻ hiền từ vô tả.

Người chăn dê thu hết can đảm bước lại cúi đầu đảnh lễ. Khi tu sĩ đưa tay sờ lên trán người chăn dê, thì anh cảm nhận một luồng hơi ấm chạy suốt từ đỉnh đầu xuống gót chân khiến anh cảm thấy vô cùng thư thái, bình an.

Người chăn dê vội vã chạy về làng báo tin. Dân làng không ngờ trong khe núi hiểm trở hoang vu lại có một vị Lạt Ma ẩn tu từ bao năm nay. Truyền thống Tây Tạng rất kính ngưỡng những bậc tu hành như vậy, nên cả làng vội vã kéo đến quỳ cả dưới chân ngài.

Bất cứ ai đến gần ngài cũng đều cảm nhận một sự bình an vô tả… Ngay cả những người nổi tiếng nóng nảy cũng thấy lòng mình dịu lại, và họ chỉ biết chắp tay cung kính ngồi yên, chờ đến khi ngài giơ tay ban phép lành cho họ.

Tiếng đồn về vị Lạt Ma có khả năng mang lại sự bình an này truyền đi rất nhanh. Chỉ một thời gian ngắn, không những dân chúng trong làng mà cả những làng mạc kế cận đều đổ xô đến khe núi hiểm trở. Dĩ nhiên, không phải người nào cũng có thể trèo lên những vách đá gần như dựng đứng như vậy, nên họ đã xin ngài vui lòng quá bộ về làng, để tất cả đều có cơ hội chiêm ngưỡng và tiếp thu một chút gì đó từ những bài kinh pháp của ngài.

***

ĐỌC THỬ

Lạt Ma Kalzang hiểu rằng đã đến lúc ngài phải trở lại thế gian để phổ độ chúng sinh theo đúng tôn chỉ Đại Thừa.

Trong làng chỉ có một ngôi chùa rất nhỏ, nên dân chúng mời ngài tạm trú tại đó cho đến khi tìm được một ngôi chùa rộng lớn và xứng đáng hơn. Tại đây, ngài bắt đầu những bài thuyết pháp ngắn nhưng dễ hiểu, và gần như ai có diễm phúc nghe ngài thuyết giảng cũng đều phấn khởi phát tâm tu hành.

Vì ngôi làng này có tên là Tomo nên người ta đã gọi ngài là Tomo Geshe Rinpoche hay Hòa thượng làng Tomo(1).

Tin một vị Hòa thượng nổi tiếng xuất hiện tại làng Tomo loan truyền về thủ đô Lhasa. Đức Đạt Lai Lạt Ma, người cầm quyền tối cao kiêm lãnh đạo tinh thần xứ Tây Tạng, lập tức cho triệu ngay một phái đoàn tăng sĩ đi điều tra xem thực hư thế nào. Phái đoàn đã đến gặp Tomo Geshe, nghe vị này thuyết pháp và trở về báo cáo với đức Đạt Lai Lạt Ma rằng, Hòa thượng làng Tomo quả thật là một vị cao tăng chân chính. Họ đề nghị phải tìm cho ngài một ngôi chùa khác to lớn, xứng đáng với địa vị của một vị tu hành như vậy.

Nhưng các ngôi chùa lớn đều đã có vị trụ trì, việc xây cất một ngôi chùa mới cũng phải mất một thời gian, nên hội đồng tăng sĩ đã đề nghị cho tu bổ một ngôi chùa cổ đã bị bỏ hoang từ nhiều thế kỷ để ngài về đó trụ trì.

Khi Tomo Geshe bước chân đến trước đồi Tsaparang, ngài chợt nhìn thấy một đám mây ngũ sắc lớn bao phủ chung quanh ngọn đồi. Chính giữa đám mây có một bông hoa sen với những cánh trắng tinh khiết đang tỏa ra những ánh sáng chói lọi như cầu vồng. Linh ảnh này hiện ra rõ rệt trước mắt Tomo Geshe và những tu sĩ trong phái đoàn. Họ đứng lặng yên chiêm ngưỡng cảnh tượng huy hoàng này cho đến khi nó biến mất.

Tomo Geshe bèn cho vẽ lại hình ảnh này trên bức tường chánh điện của ngôi chùa. Về sau rất nhiều chùa khác cũng đã họa lại bức tranh này và bất cứ khi nào nhắc đến Phật giáo Tây Tạng, người ta đều nghĩ đến hình ảnh hoa sen và đám mây ngũ sắc.

Khi khởi công tu bổ lại ngôi chùa, người ta đã tìm được một chiếc hòm gỗ trong để nhiều bộ kinh rất cổ được bọc bằng lụa quý. Khi vừa mở bộ kinh này ra, Hòa thượng Tomo bỗng thấy một ánh hào quang sáng rực bay vút lên trời, tỏa ra khắp mười phương. Ngài hiểu ngay rằng mình đã được giao phó một trọng trách trong việc hoằng dương giáo pháp, không riêng tại Tây Tạng mà còn nhiều nơi khác…

Sau một thời gian trụ trì tại đây, ngài đã lên đường đi khắp các vùng chung quanh dãy Himalaya. Bất cứ nơi nào đi qua, ngài đều dừng chân một thời gian, truyền bá những tư tưởng chân chính, cao thượng, và khuyến khích việc tu học cho những ai muốn cất bước ra khỏi vòng sinh tử luân hồi.

Kỳ Duyên Xứ Tuyết

Để có thể hiểu được những diễn tiến đã xảy ra trong cuộc sống, đôi khi chúng ta phải quay trở lại đi tìm nguyên nhân của những lý do đã khiến đời sống của chúng ta trở nên như thế.

Đôi khi chỉ một cái nhìn, một cử chỉ hay một câu nói, cũng có thể thay đổi hẳn cuộc đời chúng ta.

Cuộc đời của tôi đã bước vào một khúc quanh quan trọng bởi một biến cố dường như vô tình… Tôi là một tu sĩ Phật giáo trụ trì một ngôi chùa nhỏ gần Kandy, Sri Lanka. Trên đường tham dự Đại hội Phật giáo thế giới nhóm họp tại Darjeeling(2), tôi đã gặp một trận bão tuyết nên phải tạm trú trong một ngôi chùa dưới chân rặng Himalaya, vì tuyết đã phủ kín con đường giữa Nepal và Tây Tạng.

Đối với một người vừa chân ướt chân ráo đến thành phố xa lạ này, thì trận bão tuyết quả là một điều bất hạnh. Vì không ý thức được cái lạnh cắt da cắt thịt của vùng đất nằm trên độ cao vài ngàn mét, nên tôi chỉ mang theo một tấm áo cà sa mỏng manh, chỉ đủ che thân chứ không thể ngăn nổi cái lạnh. Tôi ngồi run rẩy thầm nghĩ tại sao mới hôm trước còn thoải mái thiền định dưới ánh nắng ấm áp Sri Lanka, mà hôm nay lại phải co ro trong cái lạnh kinh hồn của xứ tuyết như thế này?

Từ trước đến nay, Tây Tạng không hề gợi cho tôi một hình ảnh gì tốt đẹp. Đối với tôi, xứ này chỉ là một miền man di mọi rợ, không có gì đáng để thăm viếng. Đời sống của tôi đã gắn liền vào nếp sống thanh bạch trong ngôi chùa nhỏ bé nằm giữa Kandy và Nuwara Elisa. Tôi không có một lý do gì lại qua Tây Tạng nếu không có “duyên” với xứ này.

Năm đó, tôi nhận được thiệp mời của Hội Phật giáo thế giới nhóm họp tại Darjeeling. Trong thiệp, ông chủ tịch đã kèm theo một lá thư riêng mời tôi diễn thuyết về một đề tài do chính tôi lựa chọn. Sau một lúc do dự, tôi quyết định nhận lời vì nghĩ rằng đây là một dịp may hiếm có để một tăng sĩ như tôi có dịp mang giáo pháp nguyên thủy của đức Phật ra giảng dạy cho những tăng sĩ không được diễm phúc học hỏi những chân lý ấy. Lạt Ma giáo hay Phật giáo Tây Tạng đối với tôi chỉ là một biến thể của Phật giáo, một nhánh đã gần như đứt khỏi nhành cây những giáo pháp cao quý nguyên thủy của đức Thế Tôn và thay đổi thành một hình thức mê tín dị đoan, thờ ma cúng quỷ gì đó.

Phật giáo thường được chia làm Nam Tông và Bắc Tông (còn gọi là Tiểu Thừa và Đại Thừa). Đối với các tăng sĩ Nam Tông như tôi, thì nhóm Bắc Tông trải qua bao thế kỷ đã “cởi mở” nhiều quá nên không còn “nguyên thủy” nữa, và đã đến lúc họ cần phải trở về nguồn gốc.

Bởi lý do đó, tôi đã thu xếp tham dự kỳ đại hội. Và giờ đây, tôi ngồi co ro giữa những hình vẽ lạ lùng, những biểu tượng huyền bí trong một tu viện Lạt Ma giáo, chờ đợi cơn bão tan. Vì ngôn ngữ bất đồng, không thể nói chuyện với ai, nên tôi chỉ đành ngồi bó gối, im lặng chờ đợi và chờ đợi…

Lúc đầu, vị Lạt Ma trụ trì mời tôi tạm trú trong căn phòng riêng của ông tại hậu liêu, nhưng tôi không thể ngủ trong căn phòng quá chật hẹp với chiếc lò sưởi đốt bằng phân khô ấy. Tôi không chịu được mùi khói nồng nặc cũng như các hương liệu mà ông bỏ vào lò sưởi, nên sau một đêm mất ngủ tôi đã xin phép được ngủ trên chánh điện, là nơi không khí thoáng đãng hơn…

Chánh điện là một gian phòng khá lớn với những hàng cột gỗ sơn son thếp vàng. Chính giữa là một pho tượng đức Di Lặc to lớn cao gần đến trần nhà. Ngoài ra còn có hàng trăm pho tượng Bồ Tát bày dọc hai bên. Bốn vách tường đều có vẽ những bức tranh nổi, mà dưới quan niệm của một tu sĩ Nam Tông như tôi, thì nó không thể chấp nhận được tại một chánh điện trang nghiêm như vậy. Tôi không hiểu tại sao người ta lại có thể vẽ những vị Phật trang nghiêm bên cạnh những hình ma quỷ nhe nanh múa vuốt, các vị Bồ Tát hào quang chói lọi đứng cạnh những quái vật như giao long, thuồng luồng bay lượn lung tung. Rải rác đó đây là những hình ảnh nam nữ giao hợp và những đám mây ngũ sắc có những bí hiệu lạ lùng.

Trong hoàn cảnh ngôn ngữ bất đồng, không thể nói chuyện cũng như hỏi ai, tôi chỉ biết yên lặng chờ đợi cho cơn bão tan đi, nhưng suốt mấy ngày bão vẫn không tan mà còn tăng thêm phần dữ dội. Gió lạnh gầm rú bên ngoài và tuyết càng ngày càng rơi nhiều, phủ kín mặt đất.

Chỗ tôi nằm là một góc khuất trong chánh điện, ẩn sau một cột trụ lớn. Từ đây, tôi vẫn có thể nhìn thấy pho tượng đức Di Lặc lung linh mờ ảo dưới ánh sáng lập lòe của những ngọn đèn dầu.

Mặc dù chánh điện thoáng đãng hơn hậu liêu rất nhiều, nhưng vì lạ chỗ nên tôi vẫn không thể ngủ được. Tôi nằm yên cố dỗ giấc ngủ, và đang trằn trọc thì một tiếng động nhẹ vang lên làm tôi giật thót cả mình. Một cảm giác lạ lùng khiến tôi ngồi bật dậy hình như có một sự thay đổi kỳ lạ nào diễn ra ngoài chánh điện. Tôi có cảm tưởng như những pho tượng đang sống dậy, mỉm cười rạng rỡ và không gian vang vang một cái gì rộn ràng nhưng trang nghiêm. Tôi nhắm mắt lại, cố gắng thuyết phục mình rằng đó chỉ là một giấc mơ, nhưng hình như có sự hiện diện của một cái gì làm tôi phải mở choàng mắt ra.

Tôi nhìn thấy một bóng người đang đứng trước bàn thờ, hai tay chắp vào nhau một cách cung kính rồi lễ xuống nhẹ nhàng… Sau đó, bóng người thong thả quay qua những pho tượng Bồ Tát kế bên và tiếp tục nghi thức đảnh lễ… Việc một người giữa khuya bước vào chánh điện lễ Phật không làm cho tôi ngạc nhiên, nhưng tôi có cảm tưởng như dưới mỗi cái lạy, cả chánh điện như bừng sáng lên. Phải chăng các pho tượng đều cảm ứng trước lòng thành của người này nên họ đều trở nên rạng rỡ? Mỗi khi bóng đen cúi rạp người xuống đất, tôi lại thấy rung động. Tôi chưa từng thấy ai có thể thi lễ một cách thành kính như vậy, mỗi cử chỉ của người đó như toát ra một vẻ sống động lạ thường, khác hẳn với các hành động máy móc, giả tạo mà tôi thường thấy ở một số tu sĩ.

Bóng đen tiếp tục đi từ pho tượng này đến pho tượng khác một cách thành kính, trang nghiêm. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu, tôi nhận ra đó là vị sư già vẫn thường lo việc quét dọn, lau chùi trong tu viện.

Theo chỗ tôi biết thì đa số các tu sĩ trong tu viện đều được gửi đi học tại các đại học Phật giáo hoặc được huấn luyện cẩn thận, trừ vị sư già này vốn là người mù chữ, vô học nên trọn đời chỉ ở dưới bếp làm những công việc tầm thường như giã gạo, xay lúa và quét dọn. Không ai chú ý đến ông và ông cũng chỉ lặng lẽ làm tròn bổn phận một cách khiêm tốn, vô cùng khiêm tốn.

Tại sao một tu sĩ không theo khóa lễ thông thường mà lại hành lễ vào lúc đêm khuya như thế này? Tôi yên lặng theo dõi, và mặc dù bên ngoài trời rất lạnh mà mồ hôi của tôi toát ra như tắm. Tôi nhận thấy mỗi bước đi, mỗi cái vòng tay cung kính lễ xuống của vị này đều bao hàm một cái gì vừa trang nghiêm vừa sống động, có một uy lực vô song mà một tu sĩ hơn nửa đời người hành lễ như tôi cũng chưa bao giờ kinh nghiệm được. Một người giỏi tất nhiên biết một người giỏi hơn, và tôi phải nói rằng từ trước đến nay, tôi chưa thấy ai thành kính lễ Phật được như vậy.

Ít hôm sau, khi trời bắt đầu quang đãng, trục giao thông được tái lập, nhưng tôi không muốn trở về Sri Lanka nữa. Hình như có một mãnh lực nào đó xui khiến tôi ở lại để khám phá những sự kiện lạ lùng mà tôi đã chứng kiến này. Tôi linh cảm rằng cuộc đời mình sắp bước vào một giai đoạn mới, và một điều gì đó sẽ làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *