Trang chủ / Review / Đường Mây Qua Xứ Tuyết

Đường Mây Qua Xứ Tuyết

Thể loại Văn hóa – Tôn Giáo
Tác giả Anagarika Govinda
NXB NXB Tổng hợp TP.HCM
Công ty phát hành First News – Trí Việt
Số trang 316
Ngày xuất bản 09-2016
Giá bán Xem giá bán

Đường Mây Qua Xứ Tuyết (“The Way of the White Clouds”) ghi lại những điều Anagarika Govinda chứng kiến trong thời gian du hành ở Tây Tạng. Hành trình của tác giả diễn ra vào khoảng thập niên 30 đến thập niên 50 của thế kỷtrước, trước thời kỳ diễn biến chính trị phức tạp dẫn đến sự sáp nhập vào lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như hiện nay. Thời điểm đó, một phần phía tây của Tây Tạng bị xem như nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Anh nên việc tác giả đi từ Sri Lanka sang Ấn Độ rồi thâm nhập phía tây Tây Tạng (tất cả đều là thuộc địa của Anh), giấy tờ thông hành đều do người Anh kiểm soát. Về phần sau của hành trình, tác giả đi sâu vào phần phía đông Tây Tạng vốn thuộc sự quản lý của chính quyền Lạt Ma tại Lhasa nên lại phải xin cấp thêm giấy thông hành từ chính quyền này.

Trên thực tế, từ thời cổ đại cho đến tận lúc bấy giờ, Tây Tạng vốn chỉ được xem như một vùng đất bí ẩn khép kín, một mắt xích trên con đường tơ lụa huyền thoại nên dù đã nhiều lần bị xâm chiếm, các chính quyền đô hộ tạm thời đều dần dà “bỏ rơi” vùng đất này; do đó, nơi đây được đứng đầu bởi cố vấn tinh thần là các đức Lạt Ma mà cao nhất là Đạt Lai Lạt Ma. Từ góc nhìn của người phương Tây, Tây Tạng được xem như một phần của vương quốc Ấn Độ (vốn bao gồm cảcác nước Pakistan, Nepal, Bhutan, Bangladesh,… ngày nay) do nơi đây chịu nhiều ảnh hưởng từ tín nguỡng và tôn giáoẤn Độ hơn từ phía Trung Hoa.

Những diễn biến chính trị từ thập niên 50 của thế kỷ trước trở về sau này, hẳn nhiên ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến phong tục và đời sống tín ngưỡng của Tây Tạng. Song, nếu tìm hiểu và đặt tâm trí mình trở về với giai đoạn trước khinhững biến đổi phức tạp này diễn ra, người đọc sẽ cảm nhận rõ nét hơn về cái “Tự do”, sự uyên thâm và tính nguyên thủy của Phật giáo Tây Tạng mà tác giả Anagarika Govinda và dịch giả Nguyên Phong muốn truyền tải.

Bảng Review

Nội dung
Văn phong
Độ dễ đọc
Ứng dụng
Chất lượng giấy

Good

User Rating: 4.3 ( 1 votes)

Trích dẫn

“Đường mây qua xứ tuyết” là cuốn tiếp theo trong bộ sách về văn hóa – tâm linh của dịch giả Nguyên Phong được First News xuất bản. Trong quá trình biên tập, chúng tôi đã tìm hiểu nhiều thông tin liên quan đến bối cảnh địa lý, lịch sử, văn hóa của vùng đất Tây Tạng mà tác giả đề cập trong sách. Do nhận thấy có một số vấn đề khác biệt về mặt địa lý và chính trị của thời điểm sách ra đời và hiện tại, chúng tôi xin có một số lưu ý đến quý độc giả như sau:

1. Về bối cảnh lịch sử của câu chuyện:

Hành trình của tác giả diễn ra vào khoảng thập niên 30 đến thập niên 50 của thế kỷ trước, trước thời kỳ diễn biến chính trị phức tạp dẫn đến sự sáp nhập vào lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như hiện nay. Thời điểm đó, một phần phía tây của Tây Tạng bị xem như nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Anh nên việc tác giả đi từ Sri Lanka sang Ấn Độ rồi thâm nhập phía tây Tây Tạng (tất cả đều là thuộc địa của Anh), giấy tờ thông hành đều do người Anh kiểm soát. Về phần sau của hành trình, tác giả đi sâu vào phần phía đông Tây Tạng vốn thuộc sự quản lý của chính quyền Lạt Ma tại Lhasa nên lại phải xin cấp thêm giấy thông hành từ chính quyền này.

Trên thực tế, từ thời cổ đại cho đến tận lúc bấy giờ, Tây Tạng vốn chỉ được xem như một vùng đất bí ẩn khép kín, một mắt xích trên con đường tơ lụa huyền thoại nên dù đã nhiều lần bị xâm chiếm, các chính quyền đô hộ tạm thời đều dần dà “bỏ rơi” vùng đất này; do đó, nơi đây được đứng đầu bởi cố vấn tinh thần là các đức Lạt Ma mà cao nhất là Đạt Lai Lạt Ma. Từ góc nhìn của người phương Tây, Tây Tạng được xem như một phần của vương quốc Ấn Độ (vốn bao gồm cả các nước Pakistan, Nepal, Bhutan, Bangladesh,… ngày nay) do nơi đây chịu nhiều ảnh hưởng từ tín nguỡng và tôn giáo Ấn Độ hơn từ phía Trung Hoa.

Những diễn biến chính trị từ thập niên 50 của thế kỷ trước trở về sau này, hẳn nhiên ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến phong tục và đời sống tín ngưỡng của Tây Tạng. Song, nếu tìm hiểu và đặt tâm trí mình trở về với giai đoạn trước khi những biến đổi phức tạp này diễn ra, người đọc sẽ cảm nhận rõ nét hơn về cái “tự do”, sự uyên thâm và tính nguyên thủy của Phật giáo Tây Tạng mà tác giả Anagarika Govinda lẫn dịch giả Nguyên Phong muốn truyền tải.

2. Về rặng Tuyết Sơn:

Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi được biết ở trong lãnh thổ phía Đông khu tự trị Tây Tạng có một rặng núi tên là Đại Tuyết Sơn thuộc dãy Hoành Đoạn. Tuy nhiên, dãy núi này không phải là dãy Tuyết Sơn mà tác giả Nguyên Phong đã chuyển ngữ.

Rặng Tuyết Sơn ở đây chỉ chung là hệ thống rặng Himalaya (“Hima” trong tiếng địa phương có nghĩa là “tuyết”), gồm rặng chính Himalaya và rặng phụ Transhimalaya chạy song song, trải dọc qua hàng loạt quốc gia, tạo biên giới tự nhiên giữa Tây Tạng với phần vương quốc Ấn Độ cũ. Có lẽ vì điều này, Tây Tạng trở thành vùng đất thiêng đối với người hành hương Phật giáo vì muốn đến được đây, họ phải trải qua hành trình vô cùng vất vả và khắc nghiệt.

Trong ấn bản được First News phát hành này, chúng tôi vẫn giữ tên “Tuyết Sơn” vì sự trang trọng của tên gọi lẫn sự trân trọng đến phần chuyển ngữ rất thâm thúy của dịch giả Nguyên Phong.

Ngoài ra, sau khi đối chiếu với bản tiếng Anh “The Way of the White Clouds” của tác giả Anagarika Govinda, chúng tôi nhận thấy có một số diễn tiến và tên gọi trong các phiên bản cũ của dịch giả Nguyên Phong đã bị lược mất hoặc chuyển thành các tên gọi có thể gây nhầm lẫn cho độc giả, vì thế First News đã hiệu chỉnh lại theo bản gốc tiếng Anh cho chính xác và phù hợp hơn. Ở những điểm có các thay đổi quan trọng, First News đều có chú thích cụ thể trong sách.

Hoa Sen Và Mây Ngũ Sắc

Gió lạnh rít từng cơn, mây đen vần vũ phủ kín bầu trời xứ Tholing. Thỉnh thoảng một tia chớp lóe lên soi rõ một ngôi chùa đổ nát nằm chơ vơ trên đỉnh đồi.

Ngày xưa chùa này đã từng là ngôi quốc tự của xứ Tholing, một tiểu quốc nằm ở phía đông Tây Tạng. Nhưng định mệnh đã biến xứ này thành một miền hoang vu không người cư ngụ, và ngôi chùa cũng bị bỏ hoang từ nhiều thế kỷ nay.

Con đường mòn dẫn lên chùa đã bị cỏ mọc kín, chỉ còn trơ lại mấy chiếc cột xiêu vẹo. Chiếc sân gạch bị rong rêu bám kín, rải rác những pho tượng hộ pháp bị thời gian làm hư hại, đầu một nơi, mình một nẻo. Hậu liêu cũng sụp đổ gần hết, chỉ còn chánh điện hoang tàn với vài pho tượng Phật là còn nguyên vẹn.

Một tiếng sấm nổ vang làm rung rinh cả mái chùa, nhiều viên ngói bị thổi bật lên, rơi xuống sân vỡ nát. Chiếc xà ngang đã mục vẫn cố gắng chống đỡ mái chùa từ bao lâu nay, không thể chịu đựng hơn nữa đã nghiêng oằn xuống khiến những viên ngói còn lại đồng loạt chuyển động kêu lách cách…

Sàn chánh điện trước được lót bằng một lớp ván dày nhưng lâu ngày không người săn sóc đã mục nát, rong rêu bám xanh rì…

Giữa những đám rong rêu đó có một bông hoa nhỏ bé vươn lên, một bông hoa kỳ lạ màu trắng tinh khiết. Không ai biết nó từ đâu đến, tại sao lại mọc giữa đám rong rêu bẩn thỉu như vậy!

Bông hoa vô danh run rẩy trước cơn cuồng phong mỗi lúc một mạnh, nó lo lắng nhìn lên cây xà ngang đã nghiêng hẳn xuống. Chỉ một cơn gió mạnh nữa thôi, cây xà ngang sẽ gãy gục và toàn mái chùa sẽ sụp đổ đè nát tất cả những vật ở phía dưới…

Bông hoa vô danh nhìn lên bức tượng đức Bồ Tát Quán Thế Âm gần đó, lẩm bẩm cầu nguyện:

– Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát, xin ngài rủ lòng thương xót cứu cho chốn này thoát khỏi tai nạn bị hủy diệt…

Lời khẩn cầu chí thành đã cảm ứng đến đức Quán Thế Âm Bồ Tát nên ngài hiện ra trên tòa sen:

– Hỡi bông hoa nhỏ bé kia, há ngươi không biết rằng trong cõi thế gian này tất cả đều lưu chuyển biến dịch, không có gì có thể gọi là thường trụ bất biến. Có sinh ắt phải có diệt, có thành ắt phải có hoại. Ngôi chùa này đã đến giai đoạn sắp bị hủy hoại thì cũng là luật vô thường mà thôi. Kiếp sống của bông hoa cũng như vậy, không thể ra ngoài bốn thời kỳ “thành, trụ, hoại, không”. Thay vì lo lắng kéo dài kiếp sống, ngươi hãy cố gắng ý thức tính chất vô thường và nhận thức thực tướng của sự vật.

Bông hoa vô danh cúi đầu đảnh lễ và thưa:

– Bạch đức Bồ Tát, con cầu nguyện không phải cho chính con. Từ khi còn là một hạt giống nằm dưới kẽ nứt trong vách ván, con vẫn được nghe các vị tăng tụng kinh, nhất là bộ Bát Nhã Ba La Mật, nên con ý thức được trên đời có sinh ắt có diệt, tất cả thế gian đều chỉ là huyễn, không có thực. Ngay cả những bộ kinh điển quý báu chứa đựng trong chiếc hòm gỗ bên cạnh bàn thờ, vì là vật hữu hình nên hữu hoại, trước có sau không, nay còn mai mất, không thể bền vững lâu dài. Nhưng con biết bộ kinh quý báu này đã được cất giữ nơi đây từ nhiều thế kỷ chưa được truyền ra bên ngoài, nên con cầu nguyện rằng hãy để cho những bộ kinh đó được làm tròn sứ mạng của nó. Mặc dù lúc này đa số nhân loại đang bị màn vô minh che phủ, chìm đắm trong dục vọng điên cuồng, nhưng vẫn có một số ít người chỉ bị một chút bụi bám vào mắt, chỉ cần một chút ánh sáng soi rõ có thể làm họ quay đầu tỉnh ngộ… Vì lý do này, con cầu xin chư Phật rủ lòng thương xót cho truyền bá bộ kinh quý báu này ra ngoài cho thế gian…

Đức Bồ Tát Quán Thế Âm nghe xong rất lấy làm hài lòng. Ngài quay lại đảnh lễ đức Phật Thích Ca và nhắc lại lời cầu khẩn của bông hoa vô danh. Đức Phật Thích Ca nở một nụ cười hoan hỉ:

– Lành thay, bông hoa nhỏ bé kia đã nói với tất cả tâm thành của một trái tim Bồ Tát. Nó đã biết quên mình mà chỉ nghĩ đến người khác. Ngôi chùa này đáng lẽ phải bị hủy hoại, tất cả những kinh điển chất chứa nơi đây đáng lẽ ra phải chịu chung số phận. Nhưng ta chấp thuận lời phát tâm của bông hoa nhỏ bé mà cho phép những kinh điển đó được truyền tụng cho thế gian, cho đến khi mục đích của những bộ kinh đó được viên mãn.

Đức Phật Thích Ca vừa dứt lời, các vị Hộ Pháp chư tôn Bồ Tát đồng thanh tuyên bố:

– Chúng ta sẽ gìn giữ ngôi chùa này khỏi nạn hủy diệt cho đến khi nó làm tròn phận sự mà đức Phật Thích Ca giao phó.

Chỉ một thoáng giây, trời đất bỗng trở nên quang đãng lạ thường, cơn bão đã tan hết, vầng trăng tỏa nhẹ ánh sáng xuống xứ Tholing. Một mùi hương thơm ngát từ đồi Tsaparang thoảng đi khắp mười phương thế giới. Đức Bồ Tát Quán Thế Âm mỉm cười với bông hoa vô danh:

– Lành thay, con đã phát một hạnh nguyện vô ngã, lợi tha rất lớn. Từ nay ta đặt tên cho con là Tuyết Liên Hoa, một giống sen vô cùng quý báu chỉ mọc tại xứ Tây Tạng, và những kẻ nào ngửi được mùi hương của con cũng đều phát tâm tinh tấn tu hành để thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi.

Lạt Ma Ngawang Kalzang nhập thất đã hơn mười hai năm trong một hang đá hẻo lánh. Không ai biết ngài là ai, không ai nghe đến tên ngài. Ngài chỉ là một trong hàng ngàn tu sĩ sau một thời gian tu học trong tu viện đã phát nguyện tu nhập thất.

Thế gian đã quên ngài nhưng ngài không quên thế gian. Ngài đã đạt đến trạng thái tâm vô phân biệt, không còn thấy thế gian và ngài có sự sai khác nữa. Nếu có quên thì có lẽ ngài đã quên chính mình, đã đạt đến trạng thái Vô Ngã (Egolessness) hòa đồng với bản thể của mọi vật, mình và mọi vật đều là một.

Trong lúc tu thiền, chỉ có một vài thú rừng đến quấn quít chung quanh, còn ngoài ra tất cả hoàn toàn vắng lặng. Gần như không ai đặt chân đến khe núi hiểm trở hoang vu này, vì đường vào khe núi đã bị đá đổ xuống lấp kín lối vào. Đêm hôm đó, một luồng sét ở đâu bỗng xẹt trúng tảng đá, đánh bật nó qua một bên…

Hôm sau, một người chăn dê đi ngang qua khe núi. Đang mải miết đi, bỗng anh nghe thấy tiếng mõ nhịp đều đặn, thỉnh thoảng lại điểm một tiếng chuông. Lúc đầu người chăn dê hoảng sợ vì tại sao giữa chốn hoang vu thế này lại có tiếng mõ, mà âm thanh nghe sao lâng lâng thoát tục, không giống như những tiếng mõ thông thường? Trí tò mò thúc giục anh lần bước theo tiếng mõ vào khe núi cho đến khi đến trước một hang động thì âm thanh chợt im bặt.

Người chăn dê nhìn thấy một tu sĩ đang yên lặng ngồi thiền trong động đá. Thân thể tu sĩ gầy ốm, chỉ còn da bọc xương, nhưng khuôn mặt ngài lại tỏa ra một vẻ hiền từ vô tả.

Người chăn dê thu hết can đảm bước lại cúi đầu đảnh lễ. Khi tu sĩ đưa tay sờ lên trán người chăn dê, thì anh cảm nhận một luồng hơi ấm chạy suốt từ đỉnh đầu xuống gót chân khiến anh cảm thấy vô cùng thư thái, bình an.

Người chăn dê vội vã chạy về làng báo tin. Dân làng không ngờ trong khe núi hiểm trở hoang vu lại có một vị Lạt Ma ẩn tu từ bao năm nay. Truyền thống Tây Tạng rất kính ngưỡng những bậc tu hành như vậy, nên cả làng vội vã kéo đến quỳ cả dưới chân ngài.

Để lại comment

avatar
7000