Trang chủ / Quà tặng cuộc sống / Người Gieo Hy Vọng

Người Gieo Hy Vọng

nguoi gieo hi vong1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả : Erin Gruwell

Download sách Người Gieo Hy Vọng ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục :  SÁCH HAY VỀ CUỘC SỐNG

2. DOWNLOAD

Định dạng ebook                  

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ?  Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Lời giới thiệu

VỚI TÂM TRẠNG MỘT NHÀ GIÁO GIÀ, tôi thực sự hào hứng và xúc động khi đọc cuốn sách độc đáo Người gieo hy vọng của nhóm tác giả Những nhà văn Tự do & Erin Gruwell.

Cuốn sách dành gần 400 trang để đăng tải 95 bài viết về công việc thường ngày rất khó khăn vất vả nhưng cũng đầy cảm hứng của nhà giáo, cũng như những suy nghĩ sâu sắc và chân thành về nghề giáo…

Chúng ta hãy đọc những dòng này: “Dạy học là một qua trình cực nhọc – một nghề mà 80% thành công nằm ở sự thể hiện. Bạn luôn luôn có cảm giác như đang quay bánh xe của mình hết tốc lực, cố gắng làm vừa lòng các nhà phê bình khắt khe nhất, mà không bao giờ biết kết quả của nó đến đâu (làm vừa lòng đến mức độ nào). Nhưng thỉnh thoảng tốc độ mạnh mẽ đó đột nhiên ngừng lại. Những rào chắn bạn đã dựng nên để bảo vệ mình bị đập vỡ. Bạn phải đối mặt với giá trị cốt lõi của nghề dạy: tạo ra những ảnh hưởng có ý nghĩa đến cuộc sống của các em học sinh”.

Vâng đúng là như vậy, trọng trách của người thầy giáo không phải là truyền thụ những thứ được viết một cách khô khan, lạnh lùng trong sách vở tới đám học sinh luôn hiếu động, tinh nghịch mà chủ yếu phải là hướng họ đến một cuộc sống với đầy đủ những giá trị chân, thiện, mỹ.

Tôi hết sức khâm phục các tác giả của 95 bài viết, khi họ miêu tả sinh động việc làm của họ trên lớp, trong giờ giảng, trong các buổi dã ngoại, thái độ của họ đối với từng cá thể học sinh, nhất là đối với những học sinh cá biệt vốn không phải là ít.

Hãy nghe một thầy giáo kể về chuyến đi thăm bảo tàng mà thầy đã tổ chức cho học sinh lớp mình phụ trách: Sau khi xem bảo tàng tưởng niệm những người Do thái bị nạn diệt chủng, học sinh gốc Phi Marcus nói với thầy: “Em cứ tưởng chỉ có người Phi chúng em là phải chịu đựng nhiều nhất trong lịch sử. Em không nhận ra rằng những dân tộc khác cũng phải chịu đựng nhiều như thế. Giờ em đã hiểu vì sao chúng ta cần phải học lịch sử”. Khi thầy giáo hỏi em vì sao phải học lịch sử, em nói “để chúng ta không lặp lại sai lầm của người khác, và học cách tôn trọng sự khác biệt của nhau”.

Và thầy giáo đã tâm sự với bạn đọc: “Chỉ riêng việc Marcus hiểu được điều đó đã khiến toàn bộ chuyến đi và công sức của chúng tôi thực sự không uổng phí”.

Nhân đây, chúng ta thấy rất rõ rằng nếu việc học tập bộ môn Lịch sử (và cả những môn học khác) chỉ đóng khung trong bốn bức tường của phòng học, trên trang sách giáo khoa, với mục đích để trả lời các câu hỏi cực kì khó nhớ thì việc dạy và học như vậy không mang lại một hiệu quả nào để hướng học sinh đến những nhận thức và tình cảm tốt đẹp hơn.

Một thầy giáo khi kể về cái chết của một học sinh vì tai nạn giao thông đã viết: “Trong lễ tang, tôi nhìn những gương mặt của các em mà tôi đã từng đuổi khỏi lớp, những em tôi bắt phạt ở lại trường, tất cả những em đã làm cho tôi bạc tóc sớm, và tôi thấy nỗi buồn trên gương mặt các em. Và đó là lúc tôi không kìm được nữa. Tôi không quan tâm nếu các em thấy tôi khóc. Tôi không muốn làm một thầy giáo nghiêm nghị nữa. Tôi muốn làm một con người, và con người sẽ khóc lúc đau buồn. Và thế là tôi đã khóc”.

Tôi hoàn toàn đồng ý với thầy, một người thầy tốt phải là một con người có đầy đủ xúc cảm vui buồn, kể cả khóc trước mặt học trò. Điều đó làm cho thầy trò gần gũi nhau hơn, hiểu biết nhau hơn, và đó là một nhân tố quan trọng khiến thầy giáo thành công.

Một cô giáo hướng dẫn cho học sinh lớp 9 của mình viết về dự án nghiên cứu di sản gia đình. Ba em học sinh: Kate, Luis và Ethan có bài làm tốt đã được Giáo sư và sinh viên trường Sư phạm mời trình bày bài làm của mình.

“Em nghĩ điều gì làm nên một giáo viên giỏi?”, một sinh viên đặt câu hỏi.

“Em nghĩ rằng giáo viên giỏi phải cho học sinh thấy họ yêu thích những điều họ dạy”, Kate trả lời.

“Và làm cho học sinh cảm thấy thích thú với điều đó”, Luis bổ sung.

“Bạn phải cho học sinh biết bạn quan tâm tới họ và các học sinh phải nhận ra điều đó”, Ethan kết luận.

Cuối cùng khi được hỏi “mục đích trong tương lai của bạn là gì ?” thì Luis trả lời: “Em muốn trở thành một giáo viên”, Kate thêm vào: “Một giáo viên tiếng Anh”, còn Ethan toét miệng: “Em mong uớc sẽ trở thành một giáo sư Sử học hoặc Chính trị học…”

Cô giáo của các em viết tiếp: “Ngay khi tôi lau khô những giọt nước mắt, tôi biết mình thật may mắn. Tương lai về ngành giáo dục đã thoáng hiện ra trong tôi”.

Cũng có những bài viết nói lên sự bất cập của nền giáo dục Mỹ: Chúng tôi biết học sinh của mình và những câu chuyện của các em, vậy mà chúng tôi vẫn phải bắt các em làm những bài tập kiểm tra bắt buộc, vì đó là quy định. Người ta dựa vào kết quả của một bài kiểm tra để đánh giá –“mức độ rủi ro”. Nhưng giáo viên chúng tôi hy vọng ở sự thành công của học sinh mình không chỉ trong bài kiểm ta. Chúng tôi hy vọng vào một xã hội văn minh hơn.

Tôi nghĩ rằng tôi sẽ phải đọc đi đọc lại nhiều lần cuốn sách này… Tôi cho rằng mỗi thầy cô giáo trên bất kì quốc gia nào đều nhận ra bản thân mình, học sinh mình trong một hoàn cảnh tương tự như một trong số 95 bài viết của cuốn sách này. Nền Giáo dục của một đất nước được thực sự thay đổi tốt hơn không phải theo hướng từ trên dội xuống, mà phải bắt đầu từ tấm lòng của mỗi giáo viên ở mọi cấp học.

Vài suy nghĩ khi đọc Người gieo hy vọng

Nhà giáo Văn Như Cương

Lời mở đầu

KHI TÔI QUYẾT ĐỊNH trở thành một cô giáo, tôi say sưa học những quy tắc sư phạm ở trường đại học, nhưng khi tôi bước chân vào phòng học 203 tại trường Trung học Wilson, tôi phát hiện ra mình đã thiếu chuẩn bị như thế nào trước những khó khăn khi giảng bài cho các em học sinh cá biệt. Giống như rất nhiều sinh viên đại học mơ mộng khác khi xem các bộ phim về giáo dục, tôi cho rằng mình chờ đợi các em học sinh của mình đứng lên bàn và hô to: “Ôi Thuyền trưởng, Thuyền trưởng của em”, như các em học sinh đã làm trong bộ phim Hội thi sĩ quá cố (Dead Poets Society), hay vượt qua mọi trở ngại như học sinh của Jaime Escalante trong phim Chịu đựng và ban phát (Stand and Deliver). Khi đó, tôi đứng như trời trồng trước cả đám học sinh mới toanh, thờ ơ, ngang ngạnh; viên phấn trắng nằm yên trong tay tôi, còn tôi gượng nở nụ cười méo xệch. Học sinh ngó qua tôi, với những đốm trắng trang trí trên áo tôi, với những hạt ngọc trai trắng muốt của tôi, và “niềm vinh dự trong sáng” của tôi, và ngay lập tức bắt đầu đánh cuộc về việc tôi sẽ tiếp tục được bao lâu nữa. Thật may mắn, vẻ ngây thơ của tôi đã bảo vệ tôi thoát khỏi những kết luận tất yếu của chúng rằng tôi sẽ phải từ bỏ công việc này vào cuối tuần. Một đứa trong đám học sinh đã gấp chương trình bài giảng của tôi thành máy bay rồi phi thẳng về phía tôi; một số đứa gọi tên tôi bằng tiếng Tây Ban Nha đầy châm chọc; và rất nhiều học sinh khác ngỗ ngược khắc tên các băng nhóm của chúng lên bàn học. Điều đó trở thành sự thực đau lòng mà mọi lý thuyết tôi nhớ được trong thời gian học đại học đều đã lu mờ so với những bài học đơn giản mà tôi sẽ học mỗi ngày tại lớp học nơi đô thị này của tôi.

Tôi lập kế hoạch giảng cho học sinh của mình nghe về Shakespeare và những bài thơ trữ tình của ông, về Homer và chuyện Odyssey, nhưng tôi nhanh chóng nhận thấy học sinh của tôi chẳng để tâm mấy đến ngôn ngữ hình tượng và phép ẩn dụ. Ở độ tuổi 14, mọi điều trong cuộc sống của các em chỉ là nghĩa đen đơn giản, tập trung vào những gì có thực. Khi các em cảm thấy đói cồn cào, đó là sự thực. Khi các em bị bắn trên đường tới trường, đó là sự thật. Khi các em tham dự đám tang một người bạn, đó là sự thật. Để tiếp cận được với học sinh của mình, tôi phải hiểu được những khó khăn của chúng và làm cho bài học của tôi phản ánh thực tế cuộc sống của chúng. Những áng thơ của Shakespeare phải phản ánh được những lời chúng muốn gửi gắm trong đám tang của bạn mình, và cuộc chiến đấu của Odyssey để trở về Hy Lạp phải là hiện thân của cuộc chiến đấu thường nhật của các em để khiến gia đình mình sống lại.

Khi tôi phát hiện ra ý nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận từng em học sinh như những cá thể riêng biệt, tôi nhận thấy để các em có thể nâng niu từng bài học, tôi sẽ phải xây dựng một chiếc cầu nối giữa những gì các em đã biết và những gì tôi muốn dạy cho các em. Một trong những hoạt động tôi đã dùng để lôi cuốn các em tham gia vào là Trò chơi xếp hàng. Tôi chia lớp học thành hai nửa, được phân cách bằng một dải băng nhỏ đặt giữa sàn lớp học, sau đó yêu cầu học sinh bước tới hàng kẻ nếu câu hỏi của tôi gắn liền với các em: “Đứng trên hàng kẻ nếu em biết mua ma túy ở đâu.” “Đứng trên hàng kẻ nếu em từng đến thăm người thân trong trại giam.” “Đứng trên hàng kẻ nếu em từng bị mất một người thân quen vì bạo lực của băng đảng điên rồ nào đó.” Trước khi thực hiện bài tập khởi động này, các bài luận của các em viết nộp cho tôi chỉ qua loa đại khái và không gây xúc động cho người đọc. Một học sinh tên là Maria còn viết trong cuốn vở tập viết luận của em rằng: “Tôi ghét Erin Gruwell! Tôi ghét Erin Gruwell!, và nếu không phải vì bị cấm, tôi sẽ đá cho cô ta một phát!” Nhưng khi Maria và các em học sinh khác được khích lệ bước tới hàng kẻ phân cách, thể hiện những điểm dễ bị tổn thương của mình, các em nhận ra ai cũng có một câu chuyện riêng; các em chỉ cần cơ hội để được lắng nghe và một bước khởi đầu đánh thức năng lực viết nhằm hàn gắn những nỗi đau. Ngay lập tức, bài viết của các em ghi lại khi các em chứng kiến cái chết của người anh họ, chứng kiến cha mình bị bắt giam, hay sự hổ thẹn khi sống trong cảnh vô gia cư. Chúng tôi nhìn nhận mỗi em với cái nhìn mới mẻ hơn, và kết quả là, chúng tôi đối xử với nhau khác hơn. Phòng 203 trở thành một thiên đường an toàn cho các em, để các em trở nên thành thật, viết về những khoảnh khắc đau lòng nhất của mình và phá vỡ những khoảng cách giữa chúng tôi.

Khi các em học sinh của tôi trở nên thân thiện hơn như trong một gia đình, tôi đã ngạc nhiên nhận ra rằng việc giữ thăng bằng để trở thành một nhà giáo thực sự khó khăn như thế nào. Vào cuối mỗi ngày, dường như việc bỏ lại đằng sau những vấn đề của các em học sinh trong lớp học là điều không thể. Sau đó, thực tế là đời sống xã hội của tôi bắt đầu bùng nổ từ bên trong, và tôi đã dành khá nhiều tiền túi của mình để cung cấp cho trường học.

Rất thường xuyên, sau khi một bài học xuất sắc bị thất bại vì không có một chút ảnh hưởng nào đối với học sinh, tôi lo sợ rằng tôi không thể đến được với các em học sinh, nên tôi bắt đầu đặt câu hỏi cho bản thân: “Nếu học sinh không quan tâm, tại sao tôi phải quan tâm?”

Khi tôi tìm kiếm sự an ủi từ đồng nghiệp của mình, những người không tán thành trong phòng giám hiệu thường khiến tôi cảm thấy tệ hại hơn. Đối với họ, tôi đã lý tưởng hóa và tạo gánh nặng cho học sinh với những kỳ vọng thiếu thực tế.

Khi tôi mang bài tập của học sinh về nhà để chấm vào ban đêm, tôi cảm thấy dường như tôi đang đè lên vai mỗi em một gánh nặng. Nhưng khi về đến nhà, tôi lại gặp vấn đề của chính bản thân mình: Phải trả món nợ từ ngày sinh viên của tôi; một người chồng muốn tôi chuẩn bị bữa tối hơn là ngồi chấm bài; và tất cả những ảnh hưởng dễ thấy khác của việc mất đi giấc ngủ ban đêm. Và sau một đêm nữa thức khuya để đọc bài viết của học sinh, trước khi tôi biết điều đó, lại đã 6h sáng và tôi phải tập trung can đảm để lại đối diện với tâm trạng chán chường của mình.

Trong 45 phút đi từ nhà trở lại nơi làm việc, khi suy nghĩ về việc phải làm thế nào khiến bài giảng phù hợp hơn với học sinh, tôi cố gắng tảng lờ giọng điệu dai dẳng thường đặt câu hỏi cho chính mình: “Liệu tôi có thực sự muốn trở thành một cô giáo hay không?”

Nhưng mỗi khi một trong số những học sinh của tôi đang phải vật lộn với cuộc sống có được một khoảnh khắc vui vẻ, tôi biết rằng tôi đã có quyết định đúng đắn. Những phút giây vô giá đó là khi gương mặt các em học sinh của tôi bừng sáng, những cánh tay giơ lên trong hào hứng và tôi biết rằng họ đã “hiểu vấn đề,” khiến cho những đêm mất ngủ của tôi có giá trị và bắt đầu làm cho sự nghi ngờ bản thân của tôi nhẹ bớt đi. Những chiến thắng nhỏ nhoi khiến tâm hồn tôi như trẻ lại và đặt nền móng cho sự nghiệp của học sinh. Để tỏ sự tôn trọng đối với các nhà đấu tranh vì quyền công dân thuộc nhóm Freedom Riders (Những nhà đấu tranh vì Tự do) của thập niên 1960, các em học sinh của tôi quyết định tập hợp lại và tự gọi mình là Freedom Writers (Những nhà văn Tự do). Tuy nhiên, không giống như khi chúng tôi mới bắt đầu lập nhóm, Freedom Writers ngày nay tiếp bước những tác giả đi trước họ, chính là những tác giả có tên trong chương trình giảng dạy của tôi và đã từng gấp tờ chương trình thành máy bay để ném vào tôi năm nào.

Khi Nhật kí của Những nhà văn Tự do (Freedom Writers Diary) được thai nghén, đó là tập hợp của 150 câu chuyện. Tuy đâu đó trong sách có những lời tục tĩu, sự thực phũ phàng về tệ phân biệt chủng tộc và sự chia cắt làm tan vỡ những trái tim do nạn lạm dụng tình dục, nhưng một thông điệp xuyên suốt về niềm hy vọng của con người đã được vang lên. Khi người ta đồng ý phát hành cuốn sách, chúng tôi đã sung sướng ngây ngất. Vượt xa khỏi sức tưởng tượng điên khùng nhất của chúng tôi, cuốn Nhật kí của Những nhà văn Tự do đã trở thành sách bán chạy nhất. Chúng tôi biết rằng có nhiều học sinh cũng trải qua những điều tương tự như các em học sinh của tôi, nhưng chúng tôi không thể dự đoán có nhiều độc giả nhận ra thảm kịch của họ đến như vậy. Những người đọc sách của chúng tôi không phải là những người xa lạ với những điều phiền muộn, nghiện hút, lạm dụng tình dục, sự xa lánh và nỗi thất vọng tràn trề. Nhật kí của Những nhà văn Tự do đã thống nhất tiếng nói của họ đối với mỗi độc giả sẽ đọc cuốn sách này.

Với sự thành công của cuốn sách, Những nhà văn Tự do và tôi bắt đầu hiểu ra tầm quan trọng của việc chia sẻ những câu chuyện của chúng tôi. Khi Miep Gies, người phụ nữ đã che giấu Anne Frank(1) nói với chúng tôi rằng chúng ta cần phải “làm nhân chứng”, chúng tôi nhận ra rằng thực ra chúng tôi phải sử dụng cuốn sách này để làm thay đổi cuộc sống của người khác. Bài học đó trở nên bức thiết hơn sau khi chúng tôi đến thăm trại tập trung Auschwitz ở Ba Lan và lần đầu tiên chứng kiến điều gì đã xảy ra khi người ta im lặng. Những người sống sót sau cuộc tàn sát Holocaust(2) chính là sự thách thức đối với Những nhà văn Tự do và tôi, để chúng tôi “không bao giờ biếng nhác”, luôn nêu cao tinh thần kiên định để tạo nên sự khác biệt.

Vào năm 1998, sau khi Những nhà văn Tự do tốt nghiệp phổ thông trung học, tôi bắt đầu giảng dạy ở trường đại học nơi tôi đã từng học để trở thành giáo viên. Những lớp sinh viên đại học của tôi trở nên sống động mỗi khi có khách mời là Những nhà văn Tự do đến “giảng” về tình trạng rối loạn nhẹ của bộ não (dyslexia) đã ảnh hưởng như thế nào đến khả năng đọc của họ và môi trường gia đình tác động ra sao đến việc làm bài tập ở nhà. Họ nói về năng lực đã khiến họ cầm bút thay vì [trở thành côn đồ] cầm súng. Khi tôi quan sát thấy sinh viên của tôi ghi chép lia lịa, đặt câu hỏi và đưa ra những định kiến, tôi nhận ra Những nhà văn Tự do của tôi đã trở thành những người giáo viên. Cùng với các em, tôi lặp lại một số kỹ năng không chính thống mà tôi đã dùng để kéo các em học sinh của tôi tham gia vào bài học tại phòng học 203, như việc đổ đầy rượu táo vào những ly champagne bằng nhựa và Chúc mừng Sự thay đổi để khích lệ những giáo viên tương lai, những người muốn tiếp cận với học sinh của mình theo cách tương tự.

Cùng lúc đó, tôi đắm chìm trong không khí hàn lâm của những giáo sư nghiên cứu lý thuyết, và tôi bắt đầu nhận ra rằng những bài học thực tế mà tôi từng chợt nghĩ ra thực chất lại có giá trị học thuật.

Sau khi thăm một số trường trung học trên cả nước, Những nhà văn Tự do và tôi cảm thấy vui mừng và thấy mình thật nhỏ bé trước những giáo viên đang áp dụng cuốn sách của chúng tôi để giảng dạy trong các lớp học của họ. Đây là động lực để Những nhà văn Tự do – những người làm việc bên cạnh tôi tại Tổ chức Nhà văn Tự do – tái tạo lại điều kỳ diệu tại phòng 203 và xây dựng học viện dành cho giáo viên sử dụng chương trình học của chúng tôi để nhân rộng mô hình thành công này.

Với sự giúp đỡ của Những nhà văn Tự do, tôi bắt đầu qui tụ các giáo viên ở Mỹ và Canada cho đến khi tôi tập hợp được 150 giáo viên. Những giáo viên này cần vững tin rằng đứa trẻ nào cũng có khả năng làm mọi việc; và điều quan trọng nhất là họ phải dạy dỗ một đứa trẻ chứ không phải làm một cuộc thí nghiệm. Và như thế, những hạt giống của cuộc cách mạng đã được gieo trồng.

Những giáo viên này đến Long Beach, tại đây họ học hỏi từ chính Những nhà văn Tự do và tôi, sau đó trở lại lớp học của họ và thậm chí thành công với học sinh của họ hơn tôi đã từng có được với học sinh của mình. Kết quả thật đáng kinh ngạc. Không chỉ học sinh vượt trội mà các giáo viên cũng thực hiện rất xuất sắc. Học sinh của họ bắt đầu tốt nghiệp, giáo viên được thăng tiến và nhiều người trong số họ giành được những giải thưởng giáo dục danh giá. Nhưng yếu tố quan trọng nhất của chương trình học là việc chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm được thực hiện đồng thời thông qua các buổi đào tạo của chúng tôi tại Long Beach cũng như qua phòng học ảo mà chúng tôi thiết lập trực tuyến. Ngay lập tức, có ai đó lắng nghe những giáo viên này, xác nhận những kinh nghiệm của họ có giá trị và cảm thấy không còn đơn độc.

Công nghệ sẵn có cho các giáo viên của Những nhà văn Tự do cho phép chúng tôi làm việc bên cạnh nhau cho dù có sự chia cách về địa lý hay múi giờ. Không giống như Nhật kí của Những nhà văn Tự do , những gì được tạo ra từ những chiếc máy tính được tài trợ cho phòng 203, cuốn sách này được viết từ những chiếc máy tính xách tay do hãng Hewlett Packard tặng cho phòng học trực tuyến được quản lý bởi hệ điều hành Microsoft.

Theo yêu cầu của Những nhà văn Tự do đầu tiên, các giáo viên này đã để ngỏ cuộc sống của mình, thể hiện sự sợ hãi của họ, và bày tỏ những sự thực đau lòng đằng sau việc dạy học. Đó không phải là một quá trình dễ dàng. Đây không đơn giản là một hợp tuyển văn học; đó là sự cộng tác của một gia đình mới được thành lập. Các giáo viên của Những nhà văn Tự do đã viết đi viết lại những câu chuyện đã khía sâu vào quá khứ của họ. Khi tư vấn và biên tập lại những bài viết cho nhau, sợi dây gắn kết giữa họ càng bền chặt hơn. Một số giáo viên trong số họ nỗ lực miệt mài hơn những gì học sinh của họ có thể nhận ra. Khi một người chồng bỏ một cô giáo để ra đi, cô ấy sẽ quay trở lại công việc ngay ngày hôm sau. Khi một học sinh khác bị bắn, người giáo viên vẫn tiếp tục quay trở lại công việc. Khi một trường học bị đánh bom, người giáo viên khác phải làm cho học sinh của mình cảm thấy được an toàn. Những người giáo viên trở lại vì học sinh của họ đang cần họ.

Cuốn sách này phản ánh chu trình một năm dạy học – dự báo của một năm học mới, những thách thức mà học sinh gặp phải, những nỗ lực của giáo viên để thu hút sự chú ý của học sinh, những cảm xúc về sự tan vỡ ảo tưởng thường len lỏi vào mỗi người, và cuối cùng người giáo viên cảm thấy trẻ lại khi tạo động lực cho học sinh của họ có thể làm gì đó. Mỗi phần là một câu chuyện riêng tư được chính những giáo viên gửi đến miêu tả trung thực những gì họ đã trải qua, cả thành công và thất bại cay đắng. Đó là những câu chuyện đầy tính nhân văn.

Tôi ước gì mình có được cuốn sách này trước khi tôi bắt đầu chặng đường làm giáo viên của mình. Tôi sẽ có những điều mong đợi thực tế hơn về quyền lực của một giáo viên, và những rào cản dựng lên xung quanh nhằm thách thức quyền năng đó. Các giáo viên của Những nhà văn Tự do đã hội tụ lại để chia sẻ những câu chuyện chân thực từ lớp học của họ: những thăng trầm, những thảm kịch, những niềm vui, tất cả được thể hiện để tạo dựng một phạm vi hiểu biết mới về ý nghĩa của việc trở thành một người giáo viên.

Tôi rất hy vọng cuốn sách này sẽ đến được với người giáo viên mà bạn yêu thích nhất, rằng mỗi cá nhân sẽ tìm thấy một phần cuộc đời mình qua những trang sách này. Tôi hy vọng bạn sẽ cảm thấy cảm thông và yêu kính các nhà giáo dục. Và tôi hy vọng những người đang làm thầy sẽ nhìn thấy mình trên gương mặt những đồng nghiệp dũng cảm đã chia sẻ những điều không yên ổn trong lớp học và những chiến thắng nhỏ nhoi họ giành được. Thông qua cuốn sách này, các giáo viên của Những nhà văn Tự do đã trở thành người giáo viên của tất cả chúng ta.

Erin Gruwell

ĐỌC THỬ

Những thử thách

MỘT NHÀ CỐ VẤN BẢO VỚI BẠN RẰNG bạn có tất cả các phẩm chất quan trọng: kỹ năng tổ chức, xử lý nhiều việc một lúc, giải quyết vấn đề, luôn tìm ra được điểm tốt ở bất cứ người nào. Thế nên quyết định trở thành giáo viên đến rất dễ dàng, đúng không?

Điều mà không ai cho bạn biết là bạn sẽ bị quá tải bởi áp lực, phải chịu một khối lượng công việc quá sức, và không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải xông vào giữa các trận đánh nhau kịch liệt nhất dù đang mặc quần tất và đi giày cao gót. Khi các Nhà văn Tự do đến với lớp của tôi, các em mang theo đủ loại hành trang. Một số học sinh của tôi từng vô gia cư hoặc có thai khi còn ở tuổi vị thành niên, và những em khác nói đã “tham dự nhiều đám tang hơn tiệc sinh nhật.”

Lúc đầu các học sinh của tôi không muốn cho tôi biết về các vết thương và cố giấu đi những vết sẹo của mình. Các em sợ rằng tôi sẽ gọi điện đến trung tâm bảo vệ trẻ em hoặc giao các em cho cảnh sát.

Khi câu chuyện của các em bắt đầu được trải ra trên các trang giấy, tôi đã rất bất ngờ. Tất cả những gì tôi phải chia sẻ với các em chỉ là kinh nghiệm sống của chính mình. Nhưng thậm chí khi các học sinh của tôi đang đau khổ, tôi vẫn thấy thật khó để quyết định nên tiết lộ bao nhiêu phần quá khứ của mình. “Kể đúng sự thật” luôn là một hành động giữ cân bằng tàn nhẫn.

Những câu chuyện trong phần này cho thấy một số sự thật đau lòng về cuộc sống của một người giáo viên là như thế nào. Rất nhiều giáo viên có học sinh xuất thân từ hoàn cảnh khó khăn. Quá nhiều câu chuyện trong phần này cho thấy những điểm tương đồng đáng buồn giữa hoàn cảnh hiện tại của một học sinh và quá khứ đau lòng của một giáo viên – bị ngược đãi khi còn nhỏ, phải sống với bố mẹ nuôi, và phải đấu tranh vượt qua ý định tự tử. Nhưng nỗ lực của các giáo viên trong việc kể chân thực những điểm tương đồng đó đã tạo ra một môi trường an toàn, nơi các em học sinh có thể đến để bắt đầu quá trình chữa lành vết thương của mình.

1

47, XY + marker! Nó trông giống như một loại mật mã kỳ lạ dùng để liên lạc trong quân đội. “Nó nghĩa là gì?” Tôi hỏi bác sĩ Broome. Bà ấy nhìn tôi như một con cú mẹ già nhìn đứa con non của mình trước khi dỗ nó tập bay. Sau đó, bà ấy bắt đầu giải thích từng chi tiết cụ thể của kết quả cuộc thử máu gien bất thường của tôi. Vợ tôi và tôi đang tìm câu trả lời. Đó là lần thứ hai cô ấy sẩy thai trong vòng hai năm qua. Tôi đã mất hai đứa con sinh đôi của mình. Hình ảnh siêu âm của hai cơ thể đã chết trong bụng cô ấy vẫn ám ảnh tôi trong từng giấc mơ. Từ ngày ấy đến giờ, tôi vẫn luôn khao khát được làm bố.

Trong lúc ngồi trước mặt bác sĩ Broome, rất nhiều cảm xúc và suy nghĩ lướt qua trong đầu tôi. Có phải trong ADN của tôi có gì đó có thể cướp đi niềm vui được nhìn thấy một thiên thần nhỏ của tôi chào đời? Có lẽ tôi đang chết? Hay lẽ nào tôi đang có một căn bệnh về gien như bệnh Parkinson, ung thư? Trong vài tuần vừa qua, sáng nào tôi cũng ho ra máu khi tắm mà không ai biết. Tôi luôn mệt mỏi và thấy kiệt sức. Tôi bắt đầu có những cơn co giật và bị run ở tay phải mà học sinh nào cũng nhận thấy. Tôi đã phải đi cấp cứu nhiều lần trong hai tháng vừa qua. Tôi đang bị gì thế này?

Bác sĩ Broome bình tĩnh giải thích rằng tôi có cấu tạo gien rất hiếm: Tôi có một gien thừa. Tôi có 47 nhiễm sắc thể, trong khi những người khác đều chỉ có 46. Hầu hết những người có nhiễm sắc thể thừa trong cơ thể đều bị mắc bệnh Down, hoặc bị những dị tật nghiêm trọng ở mặt hay cơ thể. Vì tôi không bị những chứng bệnh thường thấy nên bà ấy nghĩ rất có khả năng đó là một gien di truyền, tương tự như một dấu vân tay di truyền từ bố sang con. Bà ấy nói với tôi rằng tất cả các thành viên trong gia đình tôi sẽ phải thực hiện cuộc kiểm tra này. Nếu bố và anh tôi có kết quả dương tính thì sự bất thường này có khả năng sẽ không gây bất cứ vấn đề nào khi vợ tôi có thai sau này. Nếu sự dị thường này là do mẹ tôi truyền lại thì việc thực hiện thêm các cuộc kiểm tra khác là hầu như không thể vì mẹ tôi chẳng còn bất cứ quan hệ nào với gia đình của bà. Sẽ không có cách nào để kiểm tra những người thân khác của mẹ tôi để xem liệu gien này có gây ra bệnh vô sinh, dị tật cơ thể, hay thiểu năng trí tuệ ở những người đó hay không.

Bác sĩ Broome cũng đề cập đến khả năng tôi là người duy nhất có gien dị thường trong gia đình. Khi bà ấy nói như thế, tôi toàn bị sốc. Tôi cảm giác như cuộc sống của mình hoàn toàn đảo lộn. Tất cả những kế hoạch của chúng tôi nhằm xây dựng một gia đình đang dần biến mất. Vợ tôi nắm lấy tay tôi. Cô ấy siết chặt nó như thầm nói dù thế nào cô ấy vẫn ủng hộ tôi. Bác sĩ Broome cho tôi các số điện thoại để đặt lịch cho gia đình tôi.

Tôi bước ra khỏi phòng trong cảm giác như thể đang mang gánh nặng của hai lần sẩy thai và mạng sống của ba sinh mạng trên vai mình. Vợ tôi cố thuyết phục tôi rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn. Cô ấy cố làm chỗ dựa cho tôi theo cách một người vợ tốt nên làm. Giờ cô ấy ôm tôi như cách tôi đã ôm cô ấy khi lần đầu tiên chúng tôi biết mình sẽ mất đứa con đầu lòng. Tôi cảm thấy mất phương hướng, thậm chí tức giận. Vợ tôi xứng đáng được có một gia đình. Cô ấy đáng được hưởng cuộc sống tốt đẹp hơn thế này. Tôi cảm giác mình đã cướp đi giấc mơ của cô ấy. Cô ấy đã cho tôi rất nhiều với tư cách một người vợ, còn tôi đã đáp lại thật ít trong vai trò một người chồng.

Ngày hôm sau, trong tiết đầu của tôi, một trong các em nữ, Veronica, hỏi tôi về cuộc sống hiện tại. Sáng hôm đó, chắc hẳn trông tôi thật thảm hại vì cô bé biết tôi không giống như mọi ngày. Tôi biết mình sẽ không thể làm việc nếu không trút được điều này ra khỏi suy nghĩ. Vì thế tôi đứng dậy từ bàn của mình và bước ra đứng trước lớp. Các học sinh đều đã biết qua chuyện của tôi, thế nên tôi kể cho các em nghe chuyện gì đã xảy ra tại cuộc hẹn với bác sĩ. Trong lúc nói, tôi có thể cảm nhận thấy mình đang bắt đầu khóc và không thể ngăn lại được. Tất cả các em đều ngồi yên lặng và lắng nghe cho đến khi tôi kể xong. Nhiều em nữ và một số em nam khóc cùng với tôi. Tôi nghĩ các em bị sốc khi thấy một thầy giáo thành thật đến thế với mình.

Cuối cùng, một trong các em nữ, Maria, hỏi: “Vậy nghĩa là thầy có thể sẽ không bao giờ có con ạ?”

Tôi trả lời: “Thầy không biết, nhưng thầy nghĩ tất cả những việc này có thể xảy ra bởi vì Chúa đang có một kế hoạch khác cho thầy. Có lẽ các em chính là niềm hy vọng để lấp đầy khoảng trống của những đứa con thầy luôn khao khát. Có lẽ Chúa đang nói rằng thầy đã có một gia đình, đó chính là các em.”

2

Bước qua cửa là các học viên của tôi, những cậu thanh niên 18 tuổi bị bỏ tù vì tội sử dụng bạo lực và/hoặc chất ma túy. Kia là Jose, cao 1,8 m, với một chiếc bụng tròn. Kia là Samson, lúc nào cũng mỉm cười. Nụ cười của cậu rất ấm áp và thu hút ngay cả khi cậu ta đang làm một việc gì đó thật kinh khủng. Còn kia là Jack, thấp hơn những người còn lại một cái đầu. Cậu ta lúc nào cũng nói luôn mồm.

“Samson và Jon đánh nhau trong một buổi trị liệu,” Jack bắt đầu. “Samson mất thăng bằng, Jon đang ở phòng y tế, chúng em vừa chơi ném bóng, một tuần nữa em phải ra tòa…” Tôi nhìn lướt căn phòng và thấy Samson đang vừa cười vừa chọc bút chì vào Jose, “… bọn em đều đã làm xong bài tập lịch sử, căn phòng này có mùi lạ quá, Jose đang bị cấm dùng bút chì…”

Tôi lại gần Samson và lấy bút chì của cậu ấy đặt mạnh lên bàn trước mặt Jose. “Đừng trêu bạn ấy nữa,” tôi nói.

“Cậu ta thích thế,” Samson mỉm cười.

Tôi nhìn vào Jose. Gương mặt cậu ấy lạnh tanh. Cậu ấy không để ý đến Samson hay tôi. Tôi quay lại với Samson: “Đừng trêu bạn ấy.”

Tôi chưa bao giờ thấy Jose biểu lộ bất cứ cảm xúc nào. “Chào Jose,” tôi nói. “Hôm nay em thế nào?”

Mắt của Jose vẫn dán chặt vào khoảng không trước mặt. Cậu ta thở mạnh, bụng phập phồng lên xuống.

Samson đi đến phía trước lớp, nơi một vài cậu nhóc đang chơi trò đánh nhau.

Jack vẫn đang nói: “Bữa trưa hôm nay lại là thịt hộp và bánh mỳ phô mai, và bữa nhẹ của bọn em có vị như thức ăn cho mèo…”

Căn phòng kín gió không cửa sổ giam giữ bất cứ mùi lạ nào. Mười tám cơ thể vừa vào từ một buổi tập thể dục khiến nhiệt độ căn phòng tăng lên khoảng mười độ. Mùi người, đồ tẩy rửa, không khí ẩm ướt. Đầu tôi đau nhức. Chỉ có một lựa chọn duy nhất. “Nghe nào các em, ở ngoài trời rất đẹp. Chúng ta sẽ ra sân và đọc sách. Cầm lấy sách của các em đi.”

Tôi đẩy Samson ra khỏi phòng cùng với những em đi không theo hàng lối. Các em khác đã đứng theo hàng trên hành lang dưới sự quản thúc của hai người lớn.

“Đếm điểm danh,” một trong hai người lớn nói. Các em bắt đầu đếm. Tôi nhìn lướt phòng học để đảm bảo không ai bị sót. Tôi đóng và khóa cửa rồi chạy lên đứng phía trước nhóm học viên.

“Đi thôi.” Tôi bắt đầu bước đi, và các em theo sau. Tôi dẫn các em qua nhiều căn phòng bị khóa tới một chiếc sân bị rào quanh.

“Tìm chỗ ngồi xuống và đọc sách đi nào.”

Các học viên của tôi ngồi xuống trên thảm cỏ và bắt đầu nói chuyện với nhau.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *