Khúc Cầu Hồn

1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả : John Hart

Download sách Khúc Cầu Hồn ebook PDF/PRC/EPUB/MOBI. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : SÁCH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

2. DOWNLOAD

Định dạng EPUB               Download

Định dạng MOBI               Download

Định dạng PDF                  Download

Bạn không tải được sách ? Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH 

Giới thiệu
Một cuốn tiểu thuyết được viết bởi máu – máu của sự sống và cái chết, máu của dòng tộc và máu của quá khứ… Khúc cầu hồn. Khi người em gái song sinh bị bắt cóc, Johnny Merrimon mới mười hai tuổi. Giờ đây, sau một năm, người ta phỏng đoán cô bé đã chết. Quá thương xót con gái, bà mẹ Johnny trở nên kiệt quệ và vô hồn như một cái bóng, cha Johnny không rõ vì sao đã bỏ mẹ con cậu đi xa, không trở về nữa. Và cuộc sống của Johnny chẳng bao giờ được như xưa…
Johnny có trong tay tấm bản đồ cổ của toàn bang, cái xe đạp cà tàng và một kế hoạch chi tiết truy tìm tung tích người em gái. Cậu sẽ đi tìm em, bất chấp việc bị theo dõi và kiểm soát bởi một nhân viên cảnh sát trong thị trấn – viên thám tử cảnh sát Clyde Hunt – người luôn phiền muộn và bị ám ảnh bởi việc truy tìm thủ phạm và tìm cho ra những cô bé bị mất tích trong thị trấn. Ông coi đây như một nhiệm vụ hoặc buộc phải thực thi, hoặc là chết. Ông dành mọi tâm sức và thời gian để tìm kiếm cô em gái của Johnny và biết được những chỗ nào ám muội có vẻ là nơi khả nghi dẫn tới manh mối vụ án. Nhưng có lẽ thám tử Hunt không thể hình dung được Johnny đã đi xa đến mức nào để khám phá ra sự thật về vụ mất tích của em gái – Alyssa. Và ông Hunt cũng không mường tượng nổi ông tìm thấy gì khi tìm ra nơi cất giấu bí mật vụ án…
Trong Khúc cầu hồn người đọc sẽ bắt gặp rất nhiều hình ảnh biểu tượng để lại những ám ảnh cho người đọc sau khi câu chuyện kết thúc. Bằng ngôn ngữ của mình John Hart đã vẽ nên bức tranh phong cảnh vùng Đông nam nước Mỹ, với những đường chân trời xa tít, choáng ngợp và đẹp mê người. Bên cạnh đó, nội tâm của từng tuyến nhân vật cũng được tác giả soi rọi dưới góc nhìn nhân ái và đầy yêu thương để rồi tạo nên một tuyệt tác trầm hùng và đầy sức ám ảnh.
Cuốn hút với những tình huống kịch tính được thể hiện bằng giọng văn điềm tĩnh, lôi cuốn, với Khúc cầu hồn- nhà văn John Hart – tác giả truyện hình sự trinh thám tiêu biểu đương đại, là tác giả hiếm hoi được trao 2 giải Edgar liên tiếp (năm 2009 và 2010) – giải thưởng lớn nhất dành cho thể loại truyện hình sự trinh thám của Viện Hàn lâm Mỹ.

Mở đầu

Nhựa đường cắt ngang miền đồng quê như một vết sẹo dài do vệt lẹm sắc ngọt của cái dao cạo gây ra. Hơi nóng chưa xoắn quyện vào trong không khí, nhưng người tài xế biết chẳng mấy chốc điều đó sẽ xảy ra, ánh nắng nóng rát như đổ lửa, ở một nơi xa ánh sáng như một vệt xanh bị nén xuống. Ông chỉnh lại cặp kính mát, liếc mắt nhìn lên gương chiếu hậu lớn ở tít phía trên kính chắn gió. Chiều dài chiếc xe bus và toàn bộ hành khách đều hiện ra. Ba mươi năm qua, ông đã thấy vô khối loại người qua cái gương ấy: từ những cô nàng xinh xắn tới những gã đàn ông khánh kiệt, những gã say khướt và những kẻ điên rồ, cả những cô nàng ngực bự nóng bỏng và những đứa trẻ nhăn nhúm. Người tài xế có thể tiên liệu vấn đề cả dặm từ xa, ông có thể phân biệt ai bình thường và kẻ bỏ nhà đi hoang.
Ông nhìn một thằng nhóc.
Cậu nhóc này trông như kẻ bỏ nhà đi hoang.
Da bong tróc khỏi mũi cậu, nhưng dưới lớp da sạm nắng là vẻ xanh xao vàng bủng do thiếu ngủ hoặc suy dinh dưỡng, hoặc cả hai. Xương gò má nhô cao dưới lớp da bị kéo dãn hết cỡ. Cậu bé còn nhỏ, độ mười tuổi, mái tóc hoang dại mọc đen trên đầu. Mái tóc cắt không đều lởm chởm, như thể cậu tự cắt cho mình. Quần áo sờn rách từ cổ áo sơ mi và từ đầu gối quần jeans. Đôi giày gần như mòn vẹt. Trên đùi, cậu kẹp chặt cái ba lô màu xanh, và không biết những gì chứa đựng trong đó, cũng không nhiều lắm.
Cậu nhóc trông khá kháu khỉnh, nhưng điều gây ấn tượng nhất với người tài xế là đôi mắt cậu. To và đen thẫm, chúng di chuyển liên tục như thể cảnh giác cao độ với mọi người xung quanh, với cái xe bus cà khổ đầy ích các thể loại người vào một buổi sáng nóng nực của vùng đồi cát Bắc Carolina: nửa tá là người lao động tha phương, vài tay cãi nhau nhìn giống cựu quân nhân, một hoặc hai gia đình, vài người lớn tuổi, một vài tay anh chị choai choai xăm trổ đầy mình tụ họp ở xóm nhà lá tít phía đằng sau.
Đôi mắt cậu bé thường chú ý vào gã đàn ông ngồi hàng ghế đối diện, một người buôn bán chào hàng đầu tóc bóng mượt trong bộ vest nhăn nhúm và đôi giày lười nứt nẻ. Chỗ đó cũng có một người da đen với quyển Thánh Kinh quăn mép và hộp soda kẹp giữa đùi, có vẻ ông ta cũng bắt được cái nhìn của cậu nhóc. Đằng sau ghế cậu là một bà cụ mặc bộ váy da cừu. Khi bà vươn người về phía trước hỏi câu gì đó, cậu bé chỉ khẽ lắc đầu và trả lời cẩn trọng:

Thưa bà không.
Lời của cậu lan nhẹ lên cao như khói tỏa, và bà già an vị trở lại, những ngón tay với đường gân xanh sờ soạng trên sợi dây xích giữ cặp mắt kính. Bà nhìn qua cửa sổ và tròng mắt kính loé chớp, rồi chuyển sang đen thẫm khi chiếc xe rẽ vào con đường rợp bóng cây với những hàng thông xanh vút. Cũng ánh sáng này rọi vào trong xe bus, và người tài xế quan sát người đàn ông mặc bộ vest nhăn dúm. Da ông ta xanh xao và mồ hôi vã ra do chưa tỉnh rượu, đôi mắt nhỏ hí lạ thường và một sự bồn chồn căng thẳng của hắn làm người tài xế chột dạ. Cứ mỗi một hoặc hai phút, ông ta lại cựa quậy trong ghế. Ông ta ngồi bắt chéo chân rồi lại bung đôi chân ngồi bình thường trở lại, chồm người lên trước, rồi ngả ra phía đằng sau. Những ngón tay của ông ta gõ nhịp trên bộ vest luộm thuộm và ông ta luôn nuốt nước bọt mỗi khi hướng cái nhìn lờ đờ về phía cậu trai, rồi lại quay đi chỗ khác, lờ đờ và nấn ná.

ĐỌC THỬ

Một

Johnny học được một điều từ tấm bé. Nếu ai đó hỏi cậu tại sao cậu quá khác người, tại sao cậu có thể vững vàng đến như vậy và tại sao cặp mắt của cậu dường như nuốt chửng được ánh sáng, cậu sẽ trả lời họ rõ ràng. Từ nhỏ cậu đã biết rằng chẳng nơi nào ngoài kia là nơi an toàn, không phải sân vườn hoặc sân chơi sau nhà, cũng không phải con đường tĩnh lặng bọc quanh vòng đai thị xã. Không một nơi chốn nào ngoài đời là nơi an toàn, và không ai có thể bảo bọc cho đời sống của cậu.

Tuổi trẻ là những tháng ngày ảo tưởng.

Cậu vừa choàng tỉnh khoảng một giờ đồng hồ, chờ cho những tiếng động đêm khuya vắng xa, chờ đợi ánh bình minh ló rạng để bắt đầu một ngày mới. Hôm nay là thứ Hai, trời vẫn còn tù mù tối, nhưng Johnny ngủ rất ít. Cậu thức dậy đi rà soát một vòng các cửa sổ. Cậu rung lắc nhẹ các ổ khóa hai lần mỗi tối, dõi mắt trông ra con đường vắng ngắt và cái xe bẩn thỉu nhìn như phủ phấn bụi dưới ánh sáng đêm trăng. Cậu kiểm tra mẹ cậu, ngoại trừ khi nào có ông Ken ở nhà. Ông Ken là kẻ nóng tính cộc cằn và trên tay có đeo một cái nhẫn vàng to mà khi đấm vào ai có thể để lại một vết bầm to tướng.

Đó lại là một bài học khác.

Khoác vào người chiếc áo thun và chiếc quần jeans tơi tả, cậu bước về hướng cửa phòng ngủ và lách cánh cửa mở ra. Ánh sáng hắt xuống hành lang chật hẹp, không khí ẩm thấp. Mùi thuốc lá và rượu bourbon đổ ra sàn nhà xộc vào mũi. Chỉ trong một thoáng, Johnny nhớ lại mùi vị của những buổi sáng, mùi của trứng rán, cà phê và hơi nồng từ thuốc cạo râu của bố. Nó là những kỷ niệm đẹp, cậu cố gạt chúng đi, phải quên đi quá khứ. Hồi tưởng về dĩ vãng chỉ làm cõi lòng thêm tan nát.

Trên hành lang, thảm trải nhà cũ kỹ, nhăn nhúm lùng bùng dưới giầy của cậu. Cánh cửa phòng mẹ cậu trơ trọi chênh vênh treo trên bản lề. Nó là cánh cửa rỗng ruột, không sơn phết gì, và cũng không tiệp với khung sườn. Cánh cửa đầu tiên nằm chỏng trơ ở ngoài sân sau vườn, tua tuả những dăm gỗ nham nhở, nó bị đạp tung ra khỏi khung cửa khi mẹ cậu và ông Ken cãi cọ sau cơn say. Mẹ cậu không hề tiết lộ họ cãi cọ nhau về chuyện gì, nhưng cậu đoán chừng ít nhiều liên quan đến cậu. Chỉ mới một năm trước đây, người như ông Ken không bao giờ với được tới gần một người phụ nữ như mẹ cậu, và Johnny không bao giờ để ông ta quên chuyện đó; nhưng đó là chuyện của một năm về trước. Xa vời dường như cả một đời người.

Họ biết quá rõ về ông Ken đã nhiều năm, và cũng có thể những điều họ nghĩ là đúng. Bố của Johnny là một tay thầu khoán, cùng với ông Ken, họ xây dựng cả khu phố. Họ cùng nhau hợp tác làm việc vì bố Johnny nhanh nhẹn và tháo vát, và một phần cũng do ông Ken thông minh khi biết tôn trọng bố cậu. Bởi lẽ đó, ông Ken lúc nào cũng dễ chịu và cởi mở, ngay cả sau vụ bắt cóc, cho đến khi bố Johnny cảm thấy sự dằn vặt và nỗi uất hận đã vượt quá sức chịu đựng. Sau khi bố cậu bỏ nhà đi xa, ông Ken bắt đầu thường xuyên lai vãng tới nhà. Bây giờ thì ông ta điều hành mọi công việc. Ông ta buộc mẹ cậu luôn ở trong tình trạng bị khống chế và cô độc, đặt mẹ cậu luôn trong trạng thái hoặc say thuốc hoặc say rượu. Ông ta sai phái công việc và mẹ cậu chỉ thi hành. Rán thịt bò bít-tết. Đi vào phòng. Khóa cửa lại.

Johnny uất ức, bực dọc về những chuyện này, và cậu thường loanh quanh ở góc bếp vào buổi tối, đặt ba ngón tay lên trên cán con dao to nằm trong kệ dao, tưởng tượng đến những vùng da thịt mềm trên ngực gã Ken, trầm ngâm suy nghĩ về nó.

Gã đàn ông ấy là loài lang sói, rất đơn giản là như vậy; và mẹ của Johnny dường như chỉ còn là cái bóng mờ không trọng lượng. Bà chỉ nặng có hơn năm mươi kilôgam, thân hình còm cõi, nhưng Johnny từng nhìn thấy ánh mắt của gã đàn ông ăn tươi nuốt chửng bà, cặp mắt thủ đắc của lão Ken mỗi khi bà ra ngoài đường. Nước da của bà xanh xao nhưng không một tì vết, đôi mắt bà to, sâu và ánh mắt hàm chứa tâm trạng của một con thú bị trọng thương. Khi ấy bà ba mươi ba tuổi, có dáng dấp như một thiên thần nếu sự thực điều ấy có thật, mái tóc đen tuyền, mong manh, không có cái vẻ của hồng trần. Cánh đàn ông bỏ dở công việc khi có bóng dáng bà bước vào phòng. Họ trố mắt kinh ngạc như thể da thịt bà tỏa ra hào quang, và bà có thể cất cánh bay về trời bất cứ lúc nào.

Bà cũng chẳng quan tâm chuyện này. Ngay cả trước khi cô con gái của bà mất tích, bà gần như không quan tâm đến diện mạo của mình nữa. Áo thun và quần jeans. Tóc đuôi gà và đôi khi trang điểm. Bà sống trong một thế giới nhỏ bé, hạnh phúc, nơi bà thương yêu chồng con, chăm sóc vườn tược, tham gia việc đạo ở nhà thờ, và ca hát giải khuây trong những ngày mưa bão; nhưng bây giờ tất cả đã là quá khứ. Hiện tại chỉ còn lại sự câm lặng, trống vắng và đau khổ, hoàn toàn tương phản với con người một thời của bà; nhưng nét đẹp vẫn còn vương vất đâu đây. Johnny mục kích điều này hàng ngày, và mỗi ngày cậu nguyền rủa cái sắc nước hương trời phủ lên người mẹ mình. Nếu bà ấy xấu xí, ông Ken có lẽ sẽ không dùng đến bà. Nếu bà đừng sinh hạ những đứa trẻ kháu khỉnh, có lẽ em gái của cậu vẫn còn ngủ ở phòng ngủ cạnh phòng cậu. Nhưng bà đẹp như búp bê hoặc một hình bóng nào đó không như hiện thực, lẽ ra phải được trang hoàng trong tủ kính khoá chặt. Bà là người phụ nữ đẹp tuyệt vời mà Johnny từng biết. Và cậu ghét bà thậm tệ ở điểm này.

Ghét cay đắng.

Cuộc đời cậu đã thay đổi quá nhiều.

Johnny quan sát cánh cửa phòng mẹ cậu. Biết đâu ông Ken có mặt ở đây, có thể không. Tai cậu ép sát vào mặt gỗ, nín thở. Bình thường, cậu có thể phán đoán, nhưng nhiều ngày không ngủ đã khiến cậu đổ vật xuống, khi giấc ngủ đến, cậu liền ngủ say như chết. Cứng đờ và hôn mê. Khi tỉnh giấc, cậu chồm người bật dậy khi cảm giác nghe thấy tiếng kính vỡ. Lúc ấy là ba giờ sáng.

Cậu lùi bước khỏi cánh cửa, không biết phải làm gì, sau đó rón rén bước về cuối hành lang, bóng điện phòng tắm vang tiếng u u khi cậu bật công tắc. Tủ đựng thuốc mở tung và cậu thấy các loại thuốc: Xanax, Prozac, nhiều viên màu xanh, nhiều viên màu vàng. Cậu cầm một lọ thuốc và đọc nhãn ghi trên lọ. Vicodin. Chai này mới. Lọ Xanax đang mở, những viên thuốc nằm trên mặt bàn, trong lòng Johnny dấy lên cơn tức giận. Thuốc Xanax giúp lão Ken lấy lại sự trầm tĩnh sau một đêm ăn hàng thành công.

Cậu hiểu như thế.

Ăn hàng thành công.

Cậu đóng nắp lọ thuốc và bước ra khỏi phòng tắm.

Căn nhà bừa bộn như cái bãi rác, và cậu tự trấn an, mình cũng chẳng còn là chủ sở hữu của nó. Căn nhà trước đây ngăn nắp và gọn ghẽ. Nóc nhà mới lợp và cậu là người phụ một tay lợp mái. Cậu leo lên từng bậc thang mỗi ngày trong dịp nghỉ lễ lập xuân, chuyển các tấm lợp lên cho bố cậu, giúp bố đóng đinh với túi đồ nghề đeo trên lưng có khắc tên của mình trên túi. Nó là một căn nhà tươm tất, với tường đá núi và sân sau nhà vun xới gọn đẹp không chỉ có trơ trọi đất cát và cỏ dại. Nó chỉ cách đây vài dặm đường, nhưng cảm giác xa xôi hơn, trong một khu phố với nhiều căn nhà ngăn nắp trên những thửa đất to và mướt màu xanh cây cỏ. Nơi đó bây giờ chỉ còn trong trí nhớ, và đang bị nhà băng xiết nợ. Người ta gửi cho mẹ cậu vài tờ báo, và cắm bảng phát mãi ở ngoài sân.

Căn nhà này là nhà cho thuê của ông Ken. Ông ta có khoảng một trăm căn, và Johnny cho rằng có lẽ đây là căn nhà tệ nhất, như một cái thùng rác đúng nghĩa ở tít tận cùng của thành phố. Phòng bếp thì nhỏ hẹp, với những mảnh sắt màu xanh và sơn bong tróc ở nhiều góc. Một cái bóng đèn cháy sáng ngay trên đầu bếp lò và Johnny chậm rãi quay một vòng tròn. Một nơi quá bẩn thỉu với toàn những đầu lọc thuốc lá vứt đầy trong chảo, chai lọ ngổn ngang, và những ly rượu dang dở. Chiếc gương nằm trên mặt bàn và Johnny thấy những vệt bột trắng còn vương vãi dưới ánh đèn. Hình ảnh này khiến hơi lạnh như xâm chiếm và lan dần trong lồng ngực cậu. Một tờ giấy bạc một trăm đô-la vấn tròn rơi xuống gầm bàn. Johnny lượm nó lên, duỗi phẳng nó ra. Cả tuần nay cậu không có được một bữa cơm nào tử tế trong khi lão Ken hít bạch phiến bằng tờ giấy bạc một trăm đô-la.

Cậu nhặt tấm gương lên, lau nó bằng khăn ướt, và treo trở lại trên tường. Bố cậu thường ngắm mình trong gương, và Johnny vẫn có thể hình dung ông thắt cà-vạt mỗi sáng Chủ nhật, những ngón tay của ông to và thô cứng, không dễ gì thắt nút cà-vạt một cách gọn ghẽ. Ông chỉ mặc đồ vest khi đi lễ nhà thờ, và ông cảm thấy ngượng ngùng khi biết con trai quan sát mình. Trong ký ức, Johnny có thể nhớ mặt ông bỗng đỏ bừng và nụ cười không hề tạo nếp nhăn. Ông nói, “Cảm ơn Thượng đế đã ban tặng cho ta mẹ của con,” và sau đó bà kéo thắt chặt nút cà-vạt cho ông.

Hai tay ông đặt sau lưng của bà.

Tiếp theo là nụ hôn và cái nheo mắt.

Johnny lau chiếc gương một lần nữa, sửa nó ngay ngắn, chỉnh cho đến khi tươm tất.

Cánh cửa mở ra ngoài sân trước dịch chuyển một cách nặng nề, và Johnny bước ra ngoài sân vào một buổi sáng ẩm ướt, tối tù mù. Một ngọn đèn đường chập chờn chớp tắt khoảng năm mươi mét về hướng cuối con đường. Những ngọn đèn pha xe ô tô chiếu sáng trên đỉnh ngọn đồi ở một khoảng cách khá xa. Xe gã Ken không còn đậu ở sân, và Johnny cảm thấy một sự khoan khoái tội lỗi và mãn nguyện. Gã Ken sống ở phía bên kia khu phố trong một căn nhà to lớn được sơn phủ đẹp đẽ, nhiều cửa sổ to rộng và nhà đậu xe chứa được bốn ô tô. Johnny hít một hơi thật sâu vào đáy buồng phổi, liên tưởng đến mẹ của cậu chồm người lấy chiếc gương, và tự nhủ chính mình rằng bà cũng chưa đi quá xa. Đó là những hệ luỵ của gã Ken, đâu phải của bà ấy. Cậu cố gắng buông tay giãn nắm đấm ra. Không khí buổi sáng trở nên trong lành. Cậu tự nhủ với chính mình hôm nay là một ngày mới, và những chuyện tử tế có thể đến với cậu; nhưng với mẹ cậu buổi sáng là một cực hình. Có một lúc nào đó, trong giây phút ngắn ngủi, đôi mắt của bà mở ra, đó là trước khi bà nhớ ra rằng họ sẽ không bao giờ tìm được tung tích cô con gái duy nhất của mình.

Em gái của Johnny.

Người em song sinh.

Allyssa chào đời chỉ sau Johhny ba phút, và hai đứa trẻ song sinh khác giới tính giống nhau như hai giọt nước. Cả hai giống nhau ở mái tóc và khuôn mặt, cùng giọng cười như nhau. Đúng, nó là con gái, nhưng ở khoảng cách khoảng sáu mét, rất khó có thể phân biệt ai với ai. Cả hai cao bằng nhau, bước chân y chang nhau. Nhiều buổi sáng cả hai dậy sớm cùng lúc, mặc dù ngủ ở hai phòng khác nhau. Mẹ Johnny cho biết cả hai có ngôn ngữ riêng của mỗi đứa khi còn rất bé, nhưng Johnny không hề nhớ điều này.

Cậu chỉ nhớ quãng đời sống tươi đẹp trước kia của mình, chẳng bao giờ cậu đơn độc; có một ý tưởng hai ta là của nhau mà chỉ có hai đứa trẻ mới hiểu được điều này. Nhưng Alyssa đã đi xa, và tất cả những gì liên quan đến nó cũng đội nón ra đi. Điều này là sự thật, không thể nào chối cãi, và nó đã hằn sâu vào tâm trí mẹ cậu. Johhnny đã làm những gì cậu có thể.

Cậu khóa trái cửa mỗi tối và dọn dẹp bãi chiến trường. Hôm nay cậu dọn dẹp hết hai mươi phút, sau đó đặt cốc cà phê lên bàn và nghĩ đến tờ giấy bạc vo tròn. Một trăm đô-la.

Ăn uống và quần áo.

Cậu kiểm tra căn nhà lần chót. Không còn bóng dáng chai lọ. Sạch sẽ dấu tích của xì ke thuốc sái. Cậu mở cửa sổ để gió bên ngoài tràn vào nhà, sau đó kiểm tra tủ lạnh. Hộp đựng sữa tươi kêu lọc cọc khi cậu lắc nó. Một quả trứng nằm trong hộp sữa. Cậu mở ví của mẹ ra. Trong có chín đồng và một ít bạc cắc. Johnny không động đến tiền của mẹ và đóng ví lại. Cậu rót đầy cốc nước và lắc lấy hai viên aspirin ra khỏi lọ.

Cậu bước dọc xuống hành lang và mở cửa phòng mẹ.

Những ánh sáng đầu ngày ép sát mặt kính cửa sổ, một khối đỏ ửng phía đằng xa lấp ló sau những rặng cây đen mun. Mẹ cậu nằm nghiêng, tóc xõa trên mặt. Tạp chí và sách vở phủ đầy trên mặt bàn cạnh giường. Cậu gạt sách ra tìm chỗ để cốc nước và đặt hai viên aspirin lên mảnh gỗ hằn vết. Trong giây lát, cậu lắng nghe hơi thở của mẹ, sau đó nhìn vào đống tiền giấy ông Ken bỏ lại cạnh giường. Vài tờ hai mươi đồng, một tờ năm mươi đồng.

Khoảng vài trăm bạc, những tờ bạc nhàu nát và lem luốc.

Xé một cuộn giấy đựng bạc cắc.

Vứt bỏ giấy bọc.

Chiếc ô tô đậu trên thềm xi măng đã cũ kỹ, một loại xe có thùng phía sau mà bố cậu mua nhiều năm về trước. Nước sơn còn mới, bóng loáng, hơi vỏ bánh xe được kiểm tra hàng tuần, nhưng đó chỉ là những gì Johnny biết để làm. Khói xanh vẫn bì bọp xịt ra khỏi ống bô khi cậu đề máy, cửa kính phía bên hành khách không thể nào quay lên sát mép. Cậu chờ cho đến khi khói chuyển qua màu trắng, vào số và lăn bánh xuống cuối con đường xi măng. Cậu chưa đến tuổi lấy bằng lái, và phải quan sát thật kỹ trước khi cho xe lăn bánh vào đường nhựa. Cậu giữ xe chạy ở vận tốc vừa phải và chỉ chạy trên những con đường mòn vắng người qua lại. Cửa hiệu tạp hoá gần nhất chỉ cách nhà hai dặm đường, nhưng nó là một tiệm lớn, nằm trên con đường chính yếu, và Johnny biết người ta có thể nhận ra cậu. Vì thế, cậu đi xa thêm ba dặm đường đến một cửa hiệu tạp hóa nhỏ chỉ cung cấp những hàng hoá rẻ tiền. Vừa phải tốn tiền mua xăng xe, vừa phải chịu cảnh thực phẩm đắt đỏ, nhưng cậu cũng không còn lựa chọn nào khác. Sở xã hội đã đến thăm nhà cậu hai lần.

Chiếc ô tô hoà vào những chiếc đã đậu ở đó, phần lớn là xe cũ, dòng xe Mỹ. Một chiếc ô tô sậm màu trờ lên sát phía đằng sau xe cậu và dừng lại ngay cổng ra vào. Ánh sáng mặt trời hắt dội lên từ kính xe và một người đàn ông khuôn mặt đanh lạnh ngồi đằng sau tay lái. Gã cũng chẳng buồn bước xuống xe, Johnny quan sát người đàn ông đó khi gã bước vào trong cửa hiệu.

Johnny có một nỗi sợ hãi với bất kỳ kẻ nào đơn độc trong những chiếc xe dừng lại.

Chiếc xe đẩy đựng hàng chòng chành khi cậu rảo bước từ kệ hàng này qua kệ hàng khác. Cậu quyết định chỉ mua những thứ cần thiết: sữa, nước trái cây, trứng, bánh mì, và trái cây. Cậu mua thêm aspirin cho mẹ. Nước ép cà chua dường như hữu ích với bà.

Một viên cảnh sát chặn cậu lại ở kệ hàng thứ tám. Ông ta to cao, tròng mắt nâu đen dường như quá mềm mại so với những lằn ngang dọc trên khuôn mặt, với góc cằm cắt gãy khúc. Viên cảnh sát không có xe đẩy, đứng yên, hai tay thọc trong túi quần, và Johnny nhìn thoáng qua đã biết ông ta theo cậu vào trong tiệm. Cái nhìn của ông ta thong thả, nhẫn nại. Và Johnny lúc ấy chỉ muốn ù té chạy.

“Anh bạn Johnny,” ông ta gọi lớn. “Cậu vẫn khoẻ chứ?”

Tóc ông ta dài hơn so với lần Johnny từng gặp trước đó, vẫn đồng màu nâu với cặp mắt ông, buông dài và xoăn tít ngay phía trên cổ áo pha điểm một ít trắng bạc hai bên thái dương. Khuôn mặt ông trông có vẻ gầy đi, và Johnny nhận thấy năm tháng trôi qua tăng thêm phần khắc khổ trên gương mặt đó. Khổ người to lớn mang dáng dấp một sĩ quan cảnh sát, trông ông ta dường như bị gò ép, tinh quái, nhưng với Johnny cả thế giới này nhìn vào đều có cùng một tạng. Cậu cũng không rõ lắm. Giọng của ông ta trầm ấm và ân cần. Nó gợi lại nhiều kỷ niệm đau thương và trong giây phút đó làm cho Johnny không thể cất bước hoặc cất lên tiếng nói. Viên cảnh sát tiến lại gần, vẫn cái nhìn cảm thông mà Johnny thường thấy, cùng ánh mắt ưu tư lo lắng. Một phần nào đó trong tâm khảm, Johnny cảm thấy thân thiện và tin tưởng nơi ông; nhưng ông ta vẫn là kẻ duy nhất đã để em gái Alyssa của cậu biến dạng biệt tăm. Ông ta vẫn là kẻ làm mất cô bé.

“Tôi vẫn khoẻ,” Johnny trả lời viên cảnh sát. “Ông cũng biết mà, cũng phải cố gắng để sống.”

Ông cảnh sát nhìn đồng hồ, sau đó hướng tia nhìn vào áo quần lếch thếch và mái tóc đen, bù xù của Johnny. Bây giờ là 6:40 phút và là ngày tất cả học sinh đều đến trường học. Ông hỏi, “Thế có tin tức gì từ bố cậu không?”

“Dạ không.” Johnny trả lời, cố che đậy đi sự xấu hổ. “Hoàn toàn không một manh mối gì.”

“Tôi rất lấy làm tiếc.”

Thời gian kéo dài ra, nhưng viên cảnh sát vẫn không hề chuyển dịch. Cặp mắt nâu vẫn chăm chú nhìn cậu, cho đến khi ông ta tiến gần lại phía Johnny, có thể thấy ông ta là một người cao lớn và thâm trầm, cũng tương tự như lần đầu tiên Johnny gặp ông ta ở nhà cậu. Nhưng đó lại là một ký ức khác, Johnny nhìn chòng chọc vào cổ tay to khoẻ của người đàn ông, với móng tay được tỉa gọn sạch sẽ, thô xoè. Cậu run run cất tiếng: “Mẹ tôi nhận được thư đúng một lần. Bà nói ông ấy ở Chicago, và có thể đang chuyển đến California.” Dừng lại chút, cặp mắt di chuyển từ bàn tay xuống nền nhà. “Bố sẽ trở về với chúng tôi.”

Johnny ngồi xuống với vẻ tự tin. Viên cảnh sát gật đầu đúng một lần và xoay mặt đi hướng khác. Ông Spencer Merrimon đã bỏ nhà ra đi chỉ hai tuần sau khi con gái bị bắt cóc. Quá đau khổ. Quá nhiều uất hận. Vợ ông không bao giờ để ông quên điều lẽ ra ông phải đón con, không bao giờ để cô bé một mình đi xuống đường khi trời tối, và nếu ông làm đúng như vậy thì đã không hề có chuyện gì xảy ra.

“Bố tôi không có lỗi gì cả,” Johnny nói.

“Tôi có bao giờ bảo ông ấy có lỗi lầm gì đâu.”

“Ông bận rộn với công việc. Ông quên mất thời gian. Đó không phải lỗi ở ông ấy.”

“Tất cả chúng ta ai cũng một lần mắc lỗi. Tất cả mọi người chúng ta. Bố cậu là một người cha tuyệt vời. Đừng bao giờ nghi ngờ điều ấy.”

“Tôi thì không.” Giọng của Johnny bất ngờ tỏ ra bực bội.

“Không sao.”

“Tôi sẽ không bao giờ.” Johnny cảm thấy sắc diện của cậu thay đổi. Cậu không thể nhớ lần sau cùng cậu nói chuyện với người lớn, nhưng có điều gì đó về viên cảnh sát. Trông ông ta khá già so với tuổi bốn mươi tuổi, và không bao giờ hấp tấp bộp chộp, khuôn mặt lúc nào cũng đậm đà, toát ra một phong thái ung dung tự tại không hề giả dối hoặc toan tính điều gì khiến bọn trẻ con đặt niềm tin vào ông. Cặp mắt ông luôn giữ độ trầm tĩnh, và Johnny có chút gì hy vọng ông ta là một viên cảnh sát giỏi để có thể giải quyết thoả đáng mọi công việc. Nhưng một năm đã trôi qua, và vẫn chưa có tin tức gì về người em gái. Johnny lo lắng về chuyện đang xảy ra trước mắt, và ngay giây phút này viên cảnh sát không phải người bạn đồng minh.

Sở xã hội luôn rình rập để chờ cơ hội ra tay hành động; và những chuyện Johnny đã làm, những nơi cậu lui tới khi trốn học đi hoang, những rủi ro rình rập mỗi khi trốn ra khỏi nhà giữa đêm khuya. Nếu cảnh sát biết những chuyện Johnny đang làm, họ sẽ ra tay hành động. Nhà nuôi dưỡng tạm thời. Tòa án.

Ông ta có thể bắt giữ Johnny nếu ông ta muốn.

“Mẹ cậu sao rồi?” Viên cảnh sát hỏi. Mắt ông ta chăm chú, tay vẫn để trên xe đẩy của Johnny.

“Mệt mỏi,” Johnny trả lời. “Bệnh Lupus, ông biết không. Bà rất dễ bị mệt.”

Lần đầu tiên viên cảnh sát sững sờ. “Lần trước gặp cậu ở đây, cậu nói với tôi bà ấy bị bệnh Lyme.”

Ông ta nói đúng. “Không. Tôi nói bà bị Lupus.”

Mặt ông ta chùng xuống và nhấc tay khỏi xe đẩy. “Ngoài kia có những người muốn giúp đỡ cậu. Có người hiểu ngọn ngành câu chuyện.”

Bất thình lình Johnny trở nên giận dữ. “Chẳng ai hiểu chúng tôi, không hề có ai giúp đỡ. Chưa bao giờ. Mẹ tôi yếu đuối tơi tả. Không còn chút nghị lực nào.”

Viên cảnh sát làm ngơ lời nói dối, nhưng mặt ông vẫn đau khổ buồn bực. Johnny theo dõi cái nhìn chằm chặp của ông xuống chai thuốc aspirin, nước cà chua. Ánh mắt ông ta vương vấn, rõ ràng ông ta biết không chỉ đơn giản như những thành phần nghiện ngập và xì ke. “Johnny. Không chỉ có mình cậu đau khổ. Cậu không hề cô đơn.”

“Tôi không chỉ cô đơn đâu.”

Viên cảnh sát thở dài, dáng dấp mệt mỏi. Ông rút một tấm danh thiếp từ trong túi áo, viết số điện thoại vào mặt sau tờ giấy rồi trao tấm danh thiếp cho cậu bé. “Gọi tôi bất cứ khi nào nếu cậu cần bất kỳ điều gì.” Cái nhìn của ông dứt khoát. “Ban ngày hoặc giữa đêm khuya. Tôi nói thật đấy.”

Johnny liếc sơ qua tấm danh thiếp, nhét nó vào túi quần jeans. “Chúng tôi không sao cả,” cậu nói, và đẩy chiếc xe đi vòng qua viên cảnh sát. Một tay ông đặt trên vai cậu.

“Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy đến với cậu một lần nữa…”

Johnny đanh cứng lại.

“Hoặc xảy ra với mẹ cậu…”

Johnny lắc nhẹ thoát khỏi bàn tay viên cảnh sát. “Chúng tôi không sao,” cậu nhắc lại. “Tôi phòng thủ rất kỹ rồi.”

Cậu đẩy xe đi quá viên cảnh sát, run sợ ông ta sẽ chặn giữ cậu, sợ ông ta sẽ hỏi vặn vẹo hoặc gọi điện báo đến các bà cán sự xã hội có khuôn mặt lạnh lùng. Chiếc xe được đẩy tới chỗ bàn tính tiền, người phụ nữ to con ngồi trên chiếc ghế đẩu sờn cũ cúi nhìn soi mói. Bà này mới làm ở cửa hiệu, và Johnny thấy câu hỏi hiển hiện trên khuôn mặt của bà. Cậu mười ba nhưng nhìn còn rất trẻ con. Cậu móc tờ một trăm đô-la ra khỏi túi, đặt nó nằm ngửa trên băng chuyền cuốn. “Bà có thể làm ơn nhanh tay dùm được không?”

Bà ấy thổi vỡ bong bóng kẹo cao su và cau mặt. “Không có gì em cưng. Ta sẽ bắt đầu.”

Ông cảnh sát đứng hờ hững sau lưng chừng ba mét, và Johnny cảm giác ông ấy ngay gần bên, cậu liếc mắt trông chừng phía sau lưng khi bà béo mập đang tính tiền từng món. Johnny khó nhọc hít hơi, và sau chừng một phút ông cảnh sát bỏ đi, lướt qua mặt cậu “Nhớ giữ tấm danh thiếp,” ông ấy nói.

“Dạ vâng.” Johnny không tài nào dám nhìn vào mắt ông ấy.

Viên cảnh sát quay cổ lại, với nụ cười gượng gạo trên khuôn mặt. “Tôi rất vui được gặp cậu, Johnny.”

Ông ta rời cửa hiệu, sau tấm cửa kính lớn vẫn nhìn rõ hình dáng viên cảnh sát. Ông đi quá chiếc ô tô của Johnny, quay gót trở lại và đứng tần ngần một lúc. Ông nhìn xuyên qua cửa kính xe, sau đó đi một vòng ra sau đuôi xe kiểm soát biển số. Khi đã hài lòng, ông đi về hướng ô tô của mình, mở cửa xe. Lách người vào, ông ngồi thu mình lại.

Ông chờ đợi.

Johnny cố nín thở giữ nhịp tim đập chậm, cậu với tay nhận tiền lẻ thối lại từ bàn tay ẩm ướt và thô xù của bà thu ngân siêu thị.

Viên cảnh sát là thám tử Clyde Lafayette Hunt. Tên in rõ trên danh thiếp. Johnny có một bộ sưu tập danh thiếp cất kỹ trong ngăn kéo trên cùng, giấu dưới những chiếc tất và bức ảnh chụp bố cậu. Cậu nghĩ về số điện thoại trên tấm danh thiếp; nhưng sau đó lại liên tưởng đến những cô nhi viện và nhà tạm dung. Cậu nghĩ về người em gái mất tích, về đoạn ống nước cậu thủ dưới gầm giường và bức tường toả hơi lạnh toát. Cậu nghĩ đến sự thành tâm trong lời nói của ông thám tử. Có thể ông ấy là người tin cậy được. Nhưng cậu không tài nào nhìn chính mình trong gương mà không nhớ đến cô em gái Alyssa, và cứ mỗi lần nhớ đến chuyện đó lại đòi hỏi sự tập trung tinh thần. Cậu mường tượng trong đầu một cô bé tràn đầy nhựa sống, tươi cười, không thể nào một cô bé như thế lại bị giam cầm dưới nền đất của một hầm rượu nào đó hoặc đằng sau thùng hàng xe ô tô. Lần sau cùng cậu nhìn thấy em gái khi cô mới mười hai tuổi. Một con bé mười hai tuổi với mái tóc đen sẫm, cắt ngắn như con trai. Người đàn ông chứng kiến sự việc cho biết cô tiến đến gần chiếc ô tô, vẫn tươi cười khi cánh cửa bật mở.

Vẫn tươi cười cho đến khi họ bắt cóc cô đi.

Johnny nghe mãi những câu này. Tươi cười. Nó dường như chết dính trong đầu của cậu, nó bám chặt không thể nào hất văng ra khỏi. Nhưng cậu thấy hình ảnh của em gái trong giấc ngủ. Cậu thấy đứa em gái của mình nhìn về phía đằng sau khi những căn nhà càng ngày càng thu nhỏ lại. Cậu thấy nỗi lo sợ trên khuôn mặt cô, và cô bé thét lên trong sợ hãi.

Johnny biết người đàn bà thu ngân đang nhìn mình chăm chú, một tay cậu vẫn chìa ra, tay kia nắm chặt tiền thối lại, các thứ lỉnh kỉnh đã được bỏ vào trong túi. Một bên chân mày của bà ta dựng ngược lên, hàm răng vẫn nhai đều kẹo cao su.

“Cậu em có cần thêm gì không?”

Johnny chống chế. Cậu vơ tóm những tờ bạc và nhét nó vào túi. “Không, tôi không cần thứ gì khác.”

Phóng cái nhìn vượt qua cậu, bà ta nhìn về hướng ông quản lý đứng đằng sau quầy cửa kính. Cậu dõi theo cái nhìn của bà ta, vơ tay túm lấy những chiếc túi. Bà ta nhún vai, và cậu ra về, bước ra phía cửa dưới bầu trời trong xanh. Mắt cậu nhìn về hướng chiếc ô tô của mẹ, không buồn để ý đến thám tử Hunt. Những cái túi nhựa cọ xát vào nhau phát ra âm thanh sột soạt. Hộp sữa sóng sánh, thõng nặng ở phía tay phải. Cậu đặt các túi hàng vào ghế ngồi phía sau và chần chừ. Ông thám tử theo dõi cậu từ chiếc xe đậu thẳng góc, khoảng cách không đầy sáu mét. Ông chạm mắt khi cậu de thẳng ô tô.

“Tôi biết lái ô tô,” Johnny nói.

“Tôi không nghi ngờ điều này.” Câu trả lời làm cậu ngạc nhiên. Như là ông ấy đang mỉm cười. “Tôi biết anh bạn trẻ rất cứng cỏi,” ông nói và nụ cười tắt ngúm. “Tôi biết anh bạn trẻ có thể đương đầu với bất cứ thử thách nào, nhưng luật là luật. Johnny cũng không vừa. “Tôi không thể để ông lái xe.”

Johnny nói, “Tôi không thể để ô tô ở đây. Nó là đôi chân duy nhất tôi có.”

“Tôi sẽ chở cậu về nhà.”

Johnny không nói thêm gì. Cậu đang băn khoăn không rõ ở nhà hơi rượu bourbon còn không. Cậu đã dọn dẹp sạch sẽ những lọ thuốc vương vãi.

“Tôi sẽ cố gắng giúp cậu.” Viên thám tử ngừng. “Có nhiều người muốn làm những việc như vậy, cậu hiểu chứ hả?”

Giọng nói cay đắng tuôn trào: “Hạng người nào?”

“Không sao,” thám tử Hunt nói. “Bình tĩnh đi. Cậu cho tôi biết địa chỉ nhà cậu.”

“Ông biết tôi cư ngụ ở đâu mà. Tôi đã thấy ông đôi khi tuần tra trước nhà tôi, tôi thấy ông rõ ràng cho xe chạy chậm lại. Ông đừng giả đò ông không biết gì cả.”

Thám tử Hunt nghe những lời nói đầy vẻ nghi kỵ. “Tôi không có ý gạt gẫm gì cậu. Tôi muốn biết chính xác địa chỉ nhà cậu để tôi gọi hẹn một chiếc xe tuần tiễu ở đó. Tôi cần ai đó chở tôi trở lại đây để tôi lấy xe của tôi về”.

Johnny trầm ngâm nhìn ông thám tử. “Tại sao ông cứ tuần tra quanh nhà tôi thường xuyên vậy?”

“Thì như tôi đã nói với cậu rồi đó. Có nhiều người thực sự muốn giúp đỡ cậu.”

Johnny chưa chắc mình tin tưởng ông ấy, nhưng cậu vẫn đọc cho ông thám tử địa chỉ nhà và quan sát ông ấy gọi điện đàm yêu cầu gửi một chiếc xe tuần tra tới địa chỉ ấy. “Mau chân lên anh bạn.” Hunt bước ra khỏi chiếc ô tô công vụ không gắn huy hiệu, rảo bước qua bãi đậu xe hướng về phía chiếc ô tô của Johnny. Cậu mở cửa phía bên hành khách và ông thám tử trườn người vào ghế tài xế. Johnny đeo dây an toàn, ngồi cứng đờ trong xe. Không hề nhúc nhích một quãng thời gian khá lâu. “Tôi xin lỗi về tai nạn liên quan đến em gái cậu,” thám tử Hunt nói. “Tôi rất tiếc tôi không thể mang cô ấy về với gia đình cậu. Cậu hiểu điều này chứ hả?”

Johnny nhìn chăm chú về phía đằng trước, hai bàn tay ghì chặt trên đùi. Mặt trời vươn cao quá ngọn cây và tỏa những tia nắng nóng bỏng qua lớp cửa kính.

“Cậu có thể nói điều gì đó không?” Hunt hỏi.

Johnny quay lại, giọng trầm đều. “Hôm qua là tròn một năm.” Cậu biết giọng của mình lí nhí. “Ông có biết chuyện đó không?”

Thám tử Hunt bối rối. “Có, tôi biết chuyện ấy.”

Johnny nhìn đi chỗ khác. “Ông làm ơn chỉ lái xe thôi

được không?”

Chiếc xe nổ máy, khói xanh bốc lên bay toả vượt quá cửa kính phía bên Johnny ngồi. “Được, Johnny,” ông thám tử nói.

Ông gài số xe. Họ đi trong yên lặng đến khu ven bìa thị xã. Không một lời nói nhưng Johnny có thể ngửi được hơi của ông ấy. Người ông toát ra một mùi như của xà phòng và dầu lau súng, và có thể là mùi khói thuốc lá ám vào quần áo. Phong cách ông lái ô tô cũng như bố Johnny, nhanh lẹ và vững vàng, mắt quét nhìn mặt đường rồi nhìn lên kính chiếu hậu. Môi của cậu bậm chặt khi xe về đến gần nhà, một lần chót cậu lại có ý nghĩ mình phải mang em gái Alyssa về nhà. Cậu đã tự hứa như vậy, một năm trước đây.

Một chiếc ô tô tuần tra đang nổ máy chờ ở sân nhà khi xe họ đến nơi. Johnny trèo ra khỏi xe và mở thùng xe mang những túi đồ vào nhà. “Tôi có thể giúp cậu những chuyện này,” thám tử Hunt lên tiếng. Johnny chỉ nhìn ông ta. Ông ta còn muốn gì nữa? Ông ta đã để em ấy bị bắt đi.

“Tôi tự làm được rồi,” Johnny nói.

Thám tử Hunt lặng nhìn vào đôi mắt Johnny cho đến khi biết chắc cậu không có điều gì để nói.

Cuối cùng ông nói: “Ngoan nhé”, và rút người nhanh vào bên trong chiếc ô tô tuần tra. Cậu ôm chặt lấy những túi đồ và không nhúc nhích khi chiếc ô tô quay trở ra con đường. Cậu không phản ứng gì với cái vẫy tay của thám tử Hunt, chỉ đứng bên con đường mù mịt bụi bặm, nhìn chiếc xe ô tô tuần tra leo lên trườn dốc ngọn đồi phía xa, và mất dạng. Cậu đứng thẫn thờ cho đến khi trống ngực không còn đánh thình thịch, rồi xách túi trở vào trong nhà.

Những món đồ lỉnh kỉnh mua ngoài cửa hiệu nằm trên mặt bàn trông thật nhỏ bé, nhưng cảm giác về nó thì vô cùng to lớn: một chiến thắng. Cậu cất chúng vào trong tủ, pha cà phê, rán quả trứng gà trong chảo nhỏ. Ngọn lửa xanh reo tí tách trên bếp, cậu trông chừng cho đến khi lòng trắng trứng chuyển màu vàng nâu. Cậu trở trứng một cách khéo léo, và xúc trứng bỏ vào đĩa. Điện thoại reo vang khi cậu với tay lấy tờ giấy lau. Liếc qua số điện thoại hiển thị trên máy, cậu có thể biết được ai gọi. Cậu trả lời trước khi chuông reo tiếng thứ hai. Giọng nói của cậu trai trẻ ở đầu dây bên kia lanh lảnh. Cậu nhóc ấy cũng mười ba tuổi nhưng đã uống rượu và phì phèo thuốc lá như người lớn. “Hôm nay có đi bụi không anh bạn? Tụi mình đi.”

Mắt Johnny hướng về hành lang, giọng trầm xuống. “Chào Jack.”

“Tớ ngắm mấy căn nhà khu hướng tây thị xã. Khu đó cực kỳ kinh hoàng. Rất tệ. Nhiều thành phần có tiền án cư ngụ ở đó. Và cứ nghĩ đến nó thì lại thấy có lý.”

Vẫn một điệp khúc cũ. Jack hiểu những gì Johnny làm khi cậu ấy trốn học hoặc trốn nhà đi hoang khi trời tối. Jack muốn phụ giúp một tay, một phần vì cậu ấy là đứa trẻ ngoan, phần cũng vì cậu ấy là đứa trẻ ngỗ nghịch.

“Đây không phải là trò chơi,” Johnny lên tiếng.

“Cậu có hiểu khi người ta nói về của trời cho không hả? Tớ giúp cậu không điều kiện. Đừng có coi thường tớ như vậy.”

Johnny hoảng hốt thở dốc. “Xin lỗi Jack. Sáng hôm nay tớ có chút vấn đề.”

“Mẹ cậu à?”

Cổ họng Johnny thít lại, cậu gật đầu. Jack là người bạn cuối cùng, kẻ duy nhất vẫn chơi rất thân với cậu, không vì thương hại hoặc xem cậu là kẻ dị kỳ. Cả hai đều có nhiều điểm giống nhau. Jack chỉ là đứa trẻ mới lớn cũng như Johnny, và cả hai đều đang đối diện với những vấn đề cá nhân. “Tớ cũng nên ra khơi hôm nay.”

“Đến ngày phải nộp bài luận lịch sử rồi,” Jack nói. “Cậu làm xong bài chưa?”

“Tớ nộp bài hồi tuần rồi.”

“Ôi chết. Thật vậy sao? Tớ chưa bắt đầu trang nào.”

Jack là kẻ luôn chậm trễ, và thầy giáo cũng làm ngơ luôn chuyện này. Mẹ của Johnny có lần gọi Jack là đồ nhãi ranh, và điều đó quá chính xác. Nó lấy cắp thuốc lá từ phòng giáo sư, bôi kem mỡ làm mái tóc bóng loáng ngày thứ Sáu. Nó uống rượu mà lẽ ra con nít không ai được phép, và nói dối thì như dân chuyên nghiệp; nhưng được cái nó giữ bí mật tuyệt đối khi đã hứa, và trông chừng sau lưng bạn bè khi cần thiết. Nó là người dễ gần, thành thực chân chất, và trong một giây phút nào đó, Johnny cảm thấy rất cao hứng; nhưng chuyện xảy ra vào buổi sáng phủ chụp lên niềm cảm hứng của cậu.

Ông thám tử Hunt.

Những đồng bạc nhớp nhúa ở cạnh giường mẹ cậu.

Johnny nói, “Tớ có việc phải đi.”

“Chuyện trốn học thì sao?”

“Tớ phải đi.” Johnny cúp điện thoại. Sợ rằng cậu bạn sẽ bị tổn thương, nhưng Johnny không làm gì khác hơn được. Cậu cầm đĩa thức ăn lên, ngồi trước hiên nhà ăn sạch trứng với ba lát bánh mì và uống sữa. Cậu vẫn còn đói khi ăn xong, nhưng chỉ còn bốn tiếng nữa là đến giờ ăn trưa.

Cậu có thể chờ.

Rót sữa vào tách cà phê, Johnny đi về phía phòng ngủ của mẹ. Ly nước đã cạn, các viên thuốc aspirin không còn nữa.Tóc bà xoã xuống má, một vệt nắng nằm vắt ngang trên vùng mắt. Johnny đặt ly cà phê trên mặt bàn và mở cửa sổ. Gió lạnh thốc vào từ hướng bóng mát bên hông nhà, Johnny đứng quan sát mẹ. Bà trông xanh xao, mệt mỏi hơn, và thất thần. Bà không buồn tỉnh giấc nhấm nháp cà phê, nhưng cậu cứ để ly cà phê ở đấy phòng chừng. Để đấy cho bà an tâm.

Cậu quay gót, bà rên nhỏ và bỗng nhiên quặt người thật mạnh. Bà lẩm bẩm điều gì đấy và duỗi thẳng chân hai lần, sau đó bà vùng chồm dậy trên giường, hai mắt trừng trừng và kinh hãi. “Ối Chúa ơi! Ối Chúa ơi!” Bà kêu lên.

Johnny đứng trước mặt nhưng bà không trông thấy cậu. Điều làm bà sợ hãi vẫn còn quanh quẩn đâu đây. Cậu nghiêng người đến gần, nói với bà nó chỉ là một giấc mơ, và chỉ trong tích tắc cặp mắt bà nhận ra được cậu con trai. Bà đưa cao hai tay lên rờ nắn khuôn mặt của cậu. “Alyssa,” bà gọi nhỏ và chìm sâu trong giọng nói là một câu hỏi.

Johnny cảm nhận được cơn bão sắp đổ ập đến gần. Cậu nói với mẹ, “con Johnny đây ạ.”

“Johnny sao?”, mắt bà chớp và dường như chợt bừng tỉnh sau cơn mê sảng. Nỗi hy vọng sụp đổ, bàn tay rũ xuống, bà gục người đổ ập, cuộn gọn trong chăn. Johnny chờ vài giây đồng hồ, nhưng bà không mở mắt trở lại. Cuối cùng cậu hỏi mẹ, “Mẹ có sao không?”

“Giấc mộng hãi hùng.”

“Con mang cà phê vào đây. Mẹ có muốn ăn điểm tâm gì không?”

“Sư nhà nó.” Bà tung người ra khỏi chăn và bước ra khỏi phòng mà không hề quay nhìn trở lại. Johnny nghe tiếng cánh cửa phòng tắm đóng sập.

Cậu bước ra sân trước và ngồi dưới hàng hiên. Năm phút sau, một chiếc xe bus đón học sinh tiến đến mép cạnh con đường bụi bặm. Johnny không đứng dậy, cậu không hề lay động. Cuối cùng chiếc xe bus lăn bánh.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *