Trang chủ / Văn học trong nước / Bão Táp Triều Trần Tập 1: Bão Táp Cung Đình

Bão Táp Triều Trần Tập 1: Bão Táp Cung Đình

1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK 

Tác giả : Hoàng Quốc Hải

Download sách Bão Táp Triều Trần Tập 1: Bão Táp Cung Đình ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : VĂN HỌC

2. DOWNLOAD

Định dạng ebook                  

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ? Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Lời giới thiệu

Tôi vốn không có ý định viết gì thêm ngoài những gì đã được trình bày trong sách. Bởi tất cả những ý đồ nghệ thuật, người viết đều bày xếp trong đó cả. Cho nên khi sách đã in rồi, nếu dở cũng không có cách gì biện bác để trở thành hay được. Nếu nó quả thực đã xuôi tai người đọc, hà tất phải dài dòng thêm nữa.

Thế nhưng cứ sau mỗi lần tái bản thì từ các bậc cao niên vào hàng túc nho, cũng nhưng các bậc thiện trí thức ưu thời mẫn thế, đều khích lệ tôi nên hé lộ cho độc giả biết, vì sao tôi viết tiểu thuyết lịch sử. Lại vì sao tôi chọn nhà Trần để viết. Và vì sao tôi không viết theo lối thông sử, lại cắt ngang lịch sử, chọn những thời điểm gay cấn nhất để làm nền cho cốt truyện. Và nữa, các độc giả ít tuổi thì hỏi tôi lấy tài liệu lịch sử ở đâu mà phong phú thế. Tại sao tôi có thể am hiểu đời sống chính trị xã hội cách đây tới bảy, tám trăm năm để có thể tạo dựng lên được gương mặt xã hội thời đó. Tại sao tôi lại biết được cả y phục, ngôn ngữ và phong tục, tập quán thời đó để mô tả… Với các độc giả trong quân đội, khi đọc “Thăng Long nổi giận” thì hỏi tôi dựa vào đâu để có thể dựng lại được cả một mặt trận quy mô như thế. Và với tất cả những mưu mô ác độc của quân thù cũng được phơi bày. Vân vân và v.v…

Vâng, những câu hỏi tưởng như đơn giản nhưng đó lại là một kho vốn liếng cho bất cứ một văn nghiệp nào.

Trước khi tường giải, mong bạn đọc hiểu cho: Sức người có hạn, dù lao động chân tay hay trí óc cũng vậy thôi. Tôi vốn không phải người giỏi giang uyên bác gì. Chẳng qua chỉ chịu khó học và hỏi, rồi tích lũy những điều mình đã học đã hỏi được mà cảm thấy có ích vào một kho chứa, nhưng có thể lấy nó ra dùng bất cứ lúc nào. Vậy là vốn liếng tôi đều vay mượn của thiên hạ.

Nhiều lúc tôi tự hỏi, phải chăng đây là một duyên nghiệp mà định mệnh đã ưu ái ban cho. Và những gì thuộc về huyền linh vô thức đều do định mệnh chi phối, chứ thực quả tôi cũng không có làm gì hơn một tên “phu chữ”.

Tôi xin được phép không đi vào giải đáp lần lượt từng câu hỏi một, mà chỉ xin bày tỏ đôi điều. Và tin chắc sẽ không làm hài lòng tất thảy quý vị độc giả.

Xin thưa, khi đã viết được văn in báo, in sách, thậm chí tới 5 – 6 đầu sách, tôi vẫn chưa dám nghĩ tới việc viết tiểu thuyết lịch sử. Mặt dù tuổi thơ tôi rất hiếu đọc, đặc biệt là các loại tiểu thuyết lịch sử của cả trong nước và ngoài nước. Các truyện nôm khuyết danh tôi không bỏ cuốn nào, và thuộc khá nhiều. Loại truyện danh nhân văn hóa, hoặc tiểu sử các nhà khoa học cũng nằm trong sưu tập của tôi.

Khi lớn lên, tôi tìm đến các bộ lịch sử như: “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn, “Việt sử tiêu án” của Ngô Thời Sỹ, “Lịch triều hiến chương” của Phan Huy Chú, “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên v.v…

Đọc chính sử đối chiếu với các tiểu thuyết lịch sử của các nhà từ “Hoàng Lê nhất thống chí” của văn phái họ Ngô, tiếp đến các nhà văn cận hiện đại như Nguyễn Triệu Luật, Ngô Tất Tố, Phan Trần Chúc, Lan Khai, Trúc Khê Ngô Vân Triện, Đào Trinh Nhất, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Thanh Mại và sau này là Chu Thiên, Nguyên Hồng, Hoàng Yến, Quỳnh Cư, Thái Vũ, Hoài Anh…

Dường như đây là tất cả các tác giả ít nhiều có viết truyện lịch sử của nước ta, kể từ “Hoàng Lê nhất thống chí” ra đời từ cuối thế kỷ 18 tới nay. Con số người viết thể loại này thật quá ít ỏi.

Khát vọng của tôi là muốn mở to đôi mắt nhìn vào quá khứ, thấy được những điều kỳ diệu, và cả những khổ đau xưa cha ông ta đã tạo dựng và nếm trải. Nhưng quá khứ luôn được phủ bởi một lớp sương khói khi thì dày đặc đến mịt mờ, khi thì bảng lảng khiến tôi có thể nhận diện được lịch sử. Và vì vậy, ước vọng của tôi cứ mãi mãi lùi xa.

Có một lần tôi thử làm một nhận xét sau khi đọc hầu như tất cả các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của các nhà. Tôi giật mình nhận thấy, tại sao trải qua các triều đại huy hoàng như Lý – Trần – Lê, mà vẫn chưa có được một bộ tiểu thuyết nào khả dĩ như “Tam quốc”, “Thủy hử”, “Pi-e đại đế”, “Ba chàng lính ngự lâm”, “Aivanhô” v.v… của các nước Trung Hoa, Nga, Pháp, Anh.

Và một điều khinh ngạc nữa là các triều đại với các bậc vua giỏi như Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành… Lý Thái tổ, Lý Thái tông, Lý Thánh tông… Lê Thái tổ, Lê Thánh tông v.v… mà dường như bóng dáng họ đều bặt vắng trên văn đàn, hoặc có được nhắc đến thì cũng đóng vai phụ làm nền cho các danh tướng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Trãi… lừng lững nổi lên như những chủ thể duy nhất của các triều đại ấy.

Chính những điều đó làm tôi trăn trở, nghĩ suy. Thử hỏi không có Trần Thánh tông, Trần Nhân tông là các bậc vua anh hùng đức độ, giỏi về triết học, văn chương, tài năng quán thế về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, đoàn kết hết thẩy mọi tầng lớp người trong nước để huy động vào việc chống ngoại xâm, thì dễ gì các bậc tể thần như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật … làm nên nghiệp lớn.

Lại như khi giặc Minh sang xâm lược, nhà trí thức lớn Nguyễn Trãi, sau khi tiễn cha tới ải Nam Quan trở về, còn nằm nghe ngóng tình hình tại một góc thành Đông Quan, thì Lê Lợi đã phất cờ tụ nghĩa trên đất Lam Sơn, nhiều phen làm cho quân thù điêu đứng. Và mãi tới lần thứ hai ra mắt Lê Lợi, Nguyễn Trãi mới dâng “Bình Ngô sách”, mới nhập cuộc.

Ấy thế mà các tác giả văn học và văn học sử, hầu như chỉ viết về trận mạc với vai trò của một số vị tướng.

Lại những năm gần đây, khi đánh giá Nguyễn Trãi với thời đại của ông, các nhà sử học mải tôn vinh ông mà quên khuấy mất vai trò của Lê Lợi, người anh hùng số một trong công cuộc đánh giặc Minh tàn bạo – người làm ra lịch sử.

Đành rằng như Trần Hưng Đạo là linh hồn, là trụ cột trong cuộc đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ 13, Nguyễn Trãi là linh hồn của nghĩa quân Lam Sơn trong công cuộc bình định giặc Minh thế kỷ 15.

Ngay cả các bậc đại hùng đại trí ấy, cũng chưa phải là nhân vật duy nhất, là nhân tố duy nhất quyết định chiều hướng phát triển của lịch sử.

Một điều nữa làm tôi trăn trở, rằng dân tộc ta có một quá khứ dựng nước và giữ nước đầy nhọc nhằn và kiêu dũng, không thua kém một dân tộc nào, nhưng sao thế giới biết đến ta quá ít.

Cũng bởi bộ môn tiểu thuyết lịch sử của ta chậm phát triển. Đến nỗi thanh thiếu niên của chúng ta rất thông thạo sử Tầu, sử Ấn, sử Hy – La, sử Anh, sử Pháp v.v… Trong khi đó có sinh viên đại học trả lời phỏng vấn: “Trương Định là tướng Lương Sơn Bạc”, và một hoa hậu trả lời các vị nữ anh hùng dân tộc có: “Hai Bà Trưng và Trưng Trắc, Trưng Nhị”; một thanh niên có bằng tú tài sinh ra và lớn lên tại phố Lý Đạo Thành mà không biết nhân vật này là ai v.v…

Những sự thật đau lòng ấy cứ dần dần thôi thúc tôi phải viết một cái gì đây về lịch sử; để cho con cháu hiểu được cội nguồn, tiên tổ. Ấy vậy mà vẫn chưa dám viết. Bởi tôi thấy sự hiểu biết và đánh giá các thời kỳ lịch sử, cũng như vai trò của các nhân vật lịch sử trong tôi chưa chín. Nói cho đúng, trình độ tôi chưa với được.

Mãi tới đầu thập niên tám mươi, tôi thường vào công tác phía Nam. Có năm tôi lang thang tại Sài Gòn và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tới mười tháng. Thấy dân tình có vẻ ngao ngán. Nhiều người bỏ nước ra đi. Những ca, vè đặt ra để phỉ báng lịch sử nhiều hơn là khích lệ mọi người phải vượt lên, khiến tôi nhức nhối.

Các bạn tôi ở Sài Gòn, nhất là tôi có người bạn tâm huyết, học với nhau từ thuở thiếu thời, anh thúc giục tôi, bằng mọi giá phải trở về với cội nguồn văn hóa dân tộc; phải làm một cái gì đấy thật cụ thể … Anh bộc bạch với tôi mọi suy tư của anh về thời cuộc, về truyền thống văn hiến của tổ tiên. Phải nói, anh đã thức dậy trong tôi niềm say mê trở về với nền văn hóa dân tộc. Vì thế, khi “Bão táp cung đình” được in, ngay trong đầu tôi đã có lời đề tặng anh.

Tuy vậy, tôi mới chỉ ráo riết chuẩn bị viết thôi chứ chưa dám bắt tay vào việc.

Duyên may tôi được mời đi dự “Hội thảo về Trần Nhân tông với phái Thiền Trúc lâm”, tổ chức tại Yên Tử – nơi Trần Nhân tông xuất gia tu Phật.

Sau hội thảo này, tôi như được tiếp thêm sức mạnh. Tôi đã lờ mờ nhận ra vai trò của Trần Nhân tông trong lịch sử cũng như trong tôn giáo Việt Nam, nhất là phái Thiền Trúc Lâm.

Nghĩ về phương lược hòa bình của Trần Nhân tông đối với Champa, sau hai cuộc đại thắng giặc Nguyên – Mông 1284 – 1285; 1287 – 1288. Và mối nhân duyên giữa vua Champa Indrvarman III với công chúa Huyền Trân con gái út của ngài, sau gần một năm nhà vua qua thăm Chiêm Thành và điều đình tác hợp. Tôi liền làm một cuộc khảo sát văn hóa – phong tục Champa dọc theo ven biển miền Trung, bắt đầu từ Huế và kết thúc ở Bình Thuận. Qua khảo sát điền dã, kết hợp với các nguồn sử liệu, kể cả huyền thoại, cả những nơi thờ tự hai vị của hai dân tộc Việt – Chăm; lúc về, tôi viết Huyền Trân công chúa.

Nhà xuất bản Thuận Hóa đón nhận bản thảo rất hào hứng, và đưa ngay vào Sài Gòn in luôn 50.000 bản. Số lượng sách sau đó hai tháng đã bán hết. Nhà xuất bản Thuận Hóa đưa về Huế in nối bản 20.000 cuốn nữa mới có sách đưa ra phía Bắc.

Chính sự tiếp nhận của bạn đọc đối với tiểu thuyết lịch sử, là sự khích lệ đáng trân trọng khiến tôi lao vào viết tiếp.

Tức là viết cuốn “Bão táp cung đình”. Đây là thời kỳ chuyển chính quyền từ Lý sang Trần, và nhà Trần đi vào công cuộc hồi sinh đất nước,để chuẩn bị đối phó với quân Mông Cổ đang tràn sang xâm lược Trung Hoa, và chúng lâm le tiến vào Đại Việt.

Tôi thường suy ngẫm về vai trò của nhà chiến lược thiên tài Trần Thủ Độ. Thế nhưng qua sử sách các đời, vẫn coi ông là kẻ tàn bạo, lộng hành và bất trung. Càng nghiền ngẫm, tôi càng thấy không thể đồng tình với các nhà sử gia trung đại. Mặt khác, tôi cũng chờ đợi các nhà lịch sử đương đại phán xét. Nhưng tuyệt nhiên không có một cuộc hội thảo nào, về vai trò của Trần Thủ Độ với vương nghiệp nhà Trần (cho tới trước 1993). Còn với các cuốn sử được viết lại thời nay, tuy không phê phán nặng hơn các sử gia thời trước, song cũng chưa có một đánh giá khả dĩ về nhân vật lịch sử này.

Tôi nghĩ, Trần Thủ Độ đối với nhà Lý tựa như Mạc Đăng Dung đối với nhà Lê. Bởi tới thời điểm lịch sử ấy, hai nhà Lý và Lê đều đã suy đồi tới cực điểm. Song với quan điểm cố chấp, nếu không nói là ngu trung của các sử gia phong kiến, nên đã coi hai nhân vật lịch sử tầm cỡ này như là giặc của nhà Lý và nhà Lê.

Với tấm lòng của kẻ hậu thế, nhìn vào quá khứ với thái độ khách quan, kính cẩn và thận trọng, tôi mạnh dạn viết giai đoạn đầu của nhà Trần với vai trò chủ chốt của Trần Thủ Độ, mong trả lại sự công bằng cho nhân vật lịch sử cũng như giai đoạn lịch sử này. Tác phẩm viết xong từ năm 1988, nhưng mãi năm 1989 mới in được.

Sau khi tác phẩm ra đời, bạn đọc gần xa không những không phản ứng mà còn đồng tình cổ vũ. Thế là tôi lao vào viết tiếp hai tập “Thăng Long nổi giận”, nói về cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ II (1284-1285). Và “Vương Triều sụp đổ”, phản ánh 60 năm suy thoái rồi sụp đổ của cuối vương triều Trần.

Vậy là tôi đã hoàn thành bộ tiểu thuyết bốn tập về nhà Trần với 2.000 trang in. Đây không phải là bộ tiểu thuyết liên hoàn, bởi như phần trên đã nói, tôi cắt ngang lịch sử, chọn thời điểm gay cấn nhất để làm bối cảnh xã hội của truyện. Tuy nhiên, nếu độc giả đọc cả 4 tập theo thứ tự: “Bão táp cung đình” – “Thăng Long nổi giận” – “Huyền Trân công chúa” – “Vương triều sụp đổ”, sẽ hình dung một cách có hệ thống về triều đại này.

Và nếu như độc giả không có trọn bộ bốn tập, mà chỉ đọc riêng từng tập, vẫn nắm được trọn vẹn giai đoạn lịch sử mà tác phẩm phản ánh.

Cũng có bạn hỏi tôi chọn trường phái nào để viết.

Hiện trên thế giới đang tồn tại nhiều trường phái:

– Có trường phái tôn trọng các sự kiện lịch sử như nó đã xảy ra, trên cơ sở đó hư cấu, cấu trúc để tái tạo lịch sử, dựng lại gương mặt lịch sử như nó có. Và khi đọc, độc giả có cảm nhận: lịch sử là như thế. Điển hình cho trường phái này là Alexis Tolstoi nhà văn Nga, và tác phẩm nổi tiếng của ông là “Pi-e Đại đế”, “Con đường đau khổ”.

– Lại có trường phái không coi trọng sự thật lịch sử. Mà lịch sử chỉ là một cái cớ, để từ đó người nghệ sĩ biểu đạt cái mà mình cần phải biểu đạt. Điển hình cho trường phái này là Alexandre Dumas (cha) với tác phẩm “Les trois mousquetaires” (Ba chàng lính ngự lâm). Ông đã từng tuyên bố: “Qu’est ce que l’histoire? C’est un clou, auquel j’accroche mes tableaux” (Lịch sử là gì? Đó là một cái đinh, ở đó tôi treo móc những bức tranh của tôi).

– Và một trường phái khác cũng khá phổ biến, tức là dựa vào sự thật lịch sử, truyền thuyết lịch sử nhưng viết theo nhãn quan chính trị chính thống của thời đại tác giả. Tác phẩm được xem như có 40% sự thật và 60% hư cấu. Đó là trường hợp tiểu thuyết “Tam quốc chí” của La Quán Trung, được Mao Tôn Cương nhuận sắc theo cùng quan điểm.

– Một trường phái khác là dựa vào các sự thật lịch sử, sự kiện lịch sử rồi làm biến dạng nó đi một cách tự nhiên chủ nghĩa. Các nhân vật được đẩy lên hàng thần thánh hoặc tụt xuống hàng ma quái, yêu nghiệt. Và để cho hấp dẫn, các nhân vật được “chưởng hóa”. Loại tiểu thuyết này có tên là dã sử. Các tiểu thuyết đường rừng của nhà văn Lan Khai thuộc loại đó.

Ở Trung Quốc tiểu thuyết dã sử khá phát triển ví như “Phong Thần”, “Bí mật mả Tào Tháo”, “Mả Khổng Minh”, và hàng loạt tiểu thuyết “Chinh đông”, “Chinh tây” v.v…

– Còn một loại nữa, tuy không đủ sức trở thành trường phái nhưng đã thấy xuất hiện ở nước ta.

Đó là thể loại “Kể chuyện lịch sử”. Trong đó tác giả kể về các nhân vật và các chiến công của họ. Loại truyện này thường từ 30 trang tới 100 trang hoặc 200 trang, gồm nhiều mẩu ghép lại. Về dung lượng cũng như sức dựng truyện, dựng nhân vật chưa đạt tới trình độ tiểu thuyết. Và nó cũng không phát triển được.

Hiện nay loại hình hồi ký và tiểu thuyết lịch sử đang phát triển mạnh trên thế giới, nhất là phương Tây. Như nước Anh chẳng hạn, năm 1993 đã có hơn 1.200 đầu sách văn học viết về lịch sử được xuất bản. Riêng thi hào Byron có 300 đầu sách viết về ông.

Nước láng giềng của ta như Trung Quốc, đang ào ạt dựng phim theo tiểu thuyết lịch sử, và hàng loạt các hồi ký của các nhân vật tai mắt của thời đại, đã ra mắt công chúng.

Nhân dân có quyền được thông tin, kể cả thông tin về lịch sử. Đáng tiếc, về mặt này chúng ta làm được quá ít.

Còn một số câu hỏi mang tính bếp núc của nghề văn, như làm thế nào để biết phong tục, tập quán, y phục, ngôn ngữ… thời Trần. Đây là một vấn đề không nhỏ, mang tính nghề nghiệp khá lý thú. Tôi sẽ trình bày vào một dịp khác, mong bạn đọc lượng thứ.

Nhân đây, xin được tỏ lòng biết ơn, nếu như được các bậc cao minh chỉ giáo cho tác giả những điều còn thiếu sót, hoặc lầm lẫn trong khi viết.

Tác giả chịu ơn độc giả nhiều lắm.

Song càng viết, càng cảm thấy thiếu. Vậy xin mượn lời của một nhà thơ trữ tình nổi tiếng để kết thúc bài tựa này:

“Ai rằng vương nghiệp lung lay

Ta thành kính ngược thời gian hoài niệm”.

ĐỌC THỬ

CHƯƠNG 1

Cờ cắm la liệt khắp Hoàng Thành và phố xá. Những lá cờ ngũ hành và cờ phướn màu sắc rực rỡ, không có gió, cứ rũ xuống, nép vào thân cột như những hàng cờ tang. Thăng Long vào hội! Hội mừng đức vua đăng quang[1]. Một ngày hội buồn tẻ chưa từng thấy trong lịch sử hội hè của đất đế đô. Phường phố văng ngắt không một bóng người qua lại. Chỉ thỉnh thoảng có một toán lính tứ sương[2] vác dáo đi tuần lặng lẽ như những bóng ma. Rồi cứ chừng một khắc canh, lại có một đội kỵ binh phi nước đại vút qua đường, làm cuộn lên một lớp bụi mịt mờ, và ném vào cái không khí u tịch của kinh thành những tiếng vó ngựa khua đục đục đều đều, như có hàng trăm chiếc chày gõ nhịp trên sàn gỗ.
Trong hoàng thành, quân thánh dực[3] đứng ken dầy bốn cổng đông – tây -nam – bắc; gươm dáo tuốt trần.
Nội điện đèn lồng, bạch lạp thi nhau tỏa sáng giữa ban ngày. Một tờ chiếu vẽ rồng và mây ngũ sắc trải rộng trên mặt án thư phía hữu ngai vàng, có đóng dấu ấn nhà vua.
Trống đăng văn vừa dứt. Quan hàn lâm phụng chỉ[4] cùng với quan hành khiển[5], mặc áo đại trào màu tía biếc kính cẩn nâng tờ chiếu lên. Và quan hàn lâm thị độc[6] bước lên bảy bước, nhìn vào tờ chiếu đọc. Đây là chiếu sách lập Chiêu Thánh, thứ nữ của nhà vua làm hoàng tử, và nhận ngôi báu cha truyền.
Giọng quan hàn lâm thị độc xướng lên với vẻ xúc động. Nhất là ở cái đoạn: “Ta vì đức bạc, không sinh đặng hoàng nam, lại chẳng may mang trọng bệnh. Mệnh ta sớm tối chưa biết thế nào. Nay ta trao ngôi báu cho Chiêu Thánh, mong các khanh hết lòng giúp rập… ”.
Bá quan nhìn lên chiếc ngai vàng bỏ trống, ai nấy lòng đau như cắt. Dứt lời tuyên đọc, một chiếc kiệu rồng tiến vào, hạ ngay xuống cạnh ngai vàng. Nữ hoàng xúng xính trong bộ triều phục dài rộng quá khổ. Các quan hộ giá tả hữu cúi xuống nâng phẩm phục cho vua nhỏ, và bế nhà vua đặt lên ngai vàng. Đúng lúc nhà vua lắc lắc cái đầu, kêu “Rặm quá!”. Chiếc mũ miện đảo nghiêng rồi rơi bịch xuống thềm điện. Trời tháng mười se se lạnh mà trán nhà vua lấm tấm mồ hôi.
Yên vị xong, quan thừa chỉ[7] bèn dâng nhà vua tôn hiệu: “Thiên chương hữu đạo”. Triều đình im phăng phắc. Các đại thần đưa mắt rụt rè nhìn về phía điện tiền chỉ huy sứ[8] Trần Thủ Độ. Quan điện tiền vươn mình khỏi chiếc thái sư ỷ, đốc kiếm chạm vào tay ghế lạch cạch khiến các quan xanh cả mắt.
Chiêu Hoàng nhấp nhổm trên ngai vàng tỏ vẻ khó chịu, vì chiếc mũ đội đầu vừa nặng, vừa rộng trống trếnh, và bộ triều phục thùng thình, khiến nhà vua có cảm giác như bị vướng bẫy. Bỗng có tiếng nói nhỏ từ bức trướng phía sau ngai: “Nữ chúa ngồi yên!”
Hệt như một đứa trẻ không thuộc bài, sau khi được nhắc, Chiêu Hoàng ngồi lại ngay ngắn, hai chân co lên, đầu gối bằng bặn, cánh tay khuỳnh ra, hai bàn tay với các ngón tay đan khít vào nhau. Giữa lòng bàn tay kẹp một kim hốt. Chiếc hốt vàng mà nữ chúa kẹp trong lòng tay kia, thường là để nhà vua ghi vào đó, những việc cần bàn bạc hoặc phán quyết, mỗi khi thiết triều. Nhưng với Chiêu Hoàng, nó chỉ là một thứ đồ chơi xấu xí.
Quan điện tiền nhìn về phía quan thái phó Phùng Tá Chu. Phùng Tá Chu bèn đứng bật dậy, hướng về phía ngai vàng vái ba vái rồi phủ phục xuống thềm điện:
– Muôn tâu thánh thượng, tôn hiệu quốc triều ta mà quan thừa chỉ vừa dâng, thần thấy rất hợp, chẳng hay tôn ý của bệ hạ thế nào? – Ngẩng nhìn nữ chúa, thấy nhà vua dường như không để ý gì đến việc triều thần đang bàn luận, Phùng Tá Chu nói tiếp: – Theo thiển ý của hạ thần, để tỏ lòng hiếu kính với thượng hoàng, triều đình ta cứ dùng tôn hiệu Kiến Gia của tiền triều cho hết năm.
Lui về chỗ ngồi, quan thái phó thầm nghĩ: “Quan thừa chỉ đúng là một người văn học thâm viễn. Chỉ riêng việc ông dâng tôn hiệu, cũng đủ nói lên cái tâm và cái chí của ông: Thiên chương hữu đạo – Rõ là ông muốn chấn hưng nhà Lý. Muốn Chiêu Hoàng nữ chúa phải theo đúng con đường của vua mở nghiệp. Quả thật, nối tiếp mấy triều gần đây đã đi trệch con đường chính rồi. Cao tôn vô đạo sa vào mê lộ. Ham xây cất cung điện, đền đài, đình tạ, vắt kiệt sức dân. Thường năm mất mùa. Dân phiêu bạt đi kiếm ăn, chết đói, chết rét chật đường chật quán. Nhà vua thì suốt đêm yến tiệc. Tai thích nghe nhạc Chàm ảo não. Mắt thích ngắm những lầu cao, cao mãi. Cung nữ từng bầy, vẫn không thôi tuyển lựa. Cha nào con nấy, hèn gì Huệ tôn chẳng đi vào con đường ngu tối. Triều chính đổ nát. Đời suy. Đạo mờ. Con giết cha. Bầy tôi lập bè lập đảng chống lại vua. Giặc giã nổi khắp nơi. Ra khỏi kinh thành mười dặm đã là đất giặc. Cơ nghiệp nhà Lý thập phần nghiêng ngả.
Khó lắm! Khó lắm!…”
Lá màn phía sau ngai vàng lại lay động. Nữ chúa Chiêu Hoàng như giật thột, đứng phắt lên ngai, cầm chiếc hốt huơ lên rồi phất tay áo thụng, miệng lắp bắp chưa nói được thành lời.
Triều thần đang còn ngơ ngác, thì quan điện súy đô áp nha thống chế[9] chạy xộc vào thềm điện, tay cầm tấm hỏa bài của tốp lính viễn thám, vừa chạy theo đường ngựa trạm báo về. Quan điện súy xá Trần Thủ Độ một xá rồi dâng tấm hỏa bài.
Quan điện chỉ huy sứ sức lực cường tráng, quắc mắt nhìn vào tấm hỏa bài, chữ viết to như quả trứng ngỗng. Ngài lẩm nhẩm đọc: TẶC ĐÁO BỒ ĐỀ[10].
Một vài vị tò mò liếc nhìn tấm hỏa bài. Trần Thủ Độ liền xoay mặt có chữ úp xuống rồi nói lớn: “Các quan không về phủ đệ còn ở đây làm gì?”. Bá quan vội tản ra. Còn nữ chúa được các quan cận thị thự lục cục[11]đỡ vào hậu điện.
Quan điện tiền chỉ huy sứ, sắc mặt không hề thay đổi, ông sai lấy ngựa và tự mình ra chỉ huy việc cản giặc.

CHƯƠNG 2

Từ bữa Trần Thủ Độ ép phải kí vào chiếu nhường ngôi cho tới nay, Huệ tôn thấy trong người vẫn tỉnh. Chính vì tỉnh táo suy nghĩ, nên nhà vua càng không thể nào hiểu được tại sao người ta cứ bắt ngài phải nhường ngôi cho Chiêu Thánh? Tội nghiệp, con bé mới bảy, tám tuổi, còn chưa biết hỉ mũi đã phải làm vua. Ngài đã nói tới bã bọt mép, rằng phải có truyền ngôi cho con gái, thà bắt con Thuận Thiên, trưởng nữ của nhà vua còn hơn. Nó vừa có sức vóc, vừa nhiều tuổi hơn; vả lại nó cũng võ vẽ đọc được dăm ba chữ, chứ con Chiêu Thánh đã học hành gì đâu. Hoặc giả ngài cũng tỏ ý muốn truyền ngôi cho một người cháu họ, không những người ta không thuận, mà nghe đâu họ đã đem thằng bé đi biệt tích. Chắc hẳn chúng nó trầm hà thằng bé mất rồi. Trời, thế là ta đã giết cháu ta! Cái mặt cảm u uất cứ bám riết lấy tâm trí nhà vua, khiến ngài thấy đầu óc nặng nề quá. Để bớt phần bức bối, nhà vua cố gượng dậy đi dạo trong khuôn viên. Và cũng thử xem Trần Thủ Độ có phái tay chân đến rình mò? Nhìn khắp bốn bề đều vắng lặng, Huệ tôn liền ghé vào bụi tầm xuân, thổ lộ những điều mà bấy lâu ngài mang nặng như kết thành một khối ở trong ruột, trong gan. Nhà vua thì thầm: “Ôi cái bụi tầm xuân này. Ta chỉ có tin mày mới không phản ta thôi. Thân xác ta sao thống khổ thế này. Chẳng biết vận số cát hung ra sao mà cái năm Đinh sửu (1217), cái năm ta mới có hăm mươi ba tuổi đầu, đã mắc phải chứng loạn tâm. Mặc dù tới nay ta đã bình phục, nhưng chú cháu nhà Trần Lý nó cứ phao ngôn rằng ta đã mất trí. Ngay cả con mụ vợ ta nó cũng không tin rằng ta đã dứt bệnh. Cha con chú cháu nó giam hãm ta suốt ngày trong cung cấm. Cận thần tâm phúc của ta, nó đầy, nó đổi đi viễn sứ. Nô tì tin cẩn của ta, phần thì nó giết, phần nó bắt đi khẩn đất miền biên viễn. Chúng nó chặt hết chân tay, tai mắt của ta. Ta thật chẳng khác gì Hán Hiến đế bị Tào Tháo lộng hành, áp chế. Nhưng Hiến đế còn hơn ta nhiều lắm. Bởi ông ta còn có bầy tôi tâm phúc, nghĩ suy về sự nghiệp của nhà Hán, và cũng đôi ba lần khởi sự, tuy việc chẳng thành … Còn nhà Lý ta, từ khi Thái tổ được quần thần khuông phò lên ngôi, kế tiếp nhiều đời đã làm cho dân giàu nước mạnh. Mặt Bắc, nhà Tống phải nể phục, không dám càn dỡ. Mặt Nam thì Chân Lạp, Chiêm Thành phải sợ oai nạp cống. Các quan trong triều ngoài nội, nối đời ăn lộc nhà Lý, mà sao không có được lấy một người tâm phúc với ta. Chẳng lẻ tất cả bọn họ đều là phường giá áo túi cơm, úy tử tham sinh? Chẳng lẽ tất cả đều về hùa với chú cháu thằng thuyền chài[1] để hãm hại cha con ta, mưu toan soán đoạt?…”. Huệ tôn xúc động, nước mắt chảy ròng ròng trên hai gò má hơi cao. Thân xác héo khô gầy guộc, mặt mũi hốc hác, râu tóc bơ phờ, nom Huệ tôn không ai có thể ngờ đó lại là một trang nam nhi ba chục tuổi. Chẳng bù với Trần Thủ Độ, ông ta chỉ hơn nhà vua có một tuổi, mà sao sinh lực tràn trề, uy dũng tỏ ra hơn đời nhiều lắm. Chính nhà vua cũng có ý như né tránh ông ta.
Lấy chéo áo lau khô khuôn mặt khắc khổ, hai tay chống gối toan đứng lên, bỗng từ phía bên kia bụi tầm xuân có tiếng sột soạt rồi có người từ đó bước ra, nhà vua hoa mắt, chân tay bủn rủn không thể nào lê nổi bước chân. Bỗng người đó tới trước nhà vua sụp lạy:
– Muôn tâu bệ hạ, con đã nghe hết mọi điều mà bệ hạ nói với bụi tầm xuân.
Không nén được giận dữ, Huệ tôn thu toàn lực vụt đứng lên, ngài rút chiếc dép giơ thẳng cánh ném vào giữa mặt ả thị tì, và mắng:
– Đồ nghiệt súc! Ta căm ghét lũ ngươi. Ở đâu các người cũng rình rập, nghe ngóng. Ngươi cút xéo đi mà tâu với cha con chú cháu thằng thuyền chài!
Cũng may mà thị nữ đã né đầu tránh được. Nàng loay hoay tìm lại chiếc dép đưa cho nhà vua, và khép nép nói:
– Tâu bệ hạ, kẻ tôi đòi này chỉ mong có dịp được bệ hạ sai khiến, chứ không có tâm địa nào hại bệ hạ.
Nhà vua có phần bình tâm, ngài hỏi:
– Vậy chứ kẻ nào sai mi đến đây do thám?
– Trình bệ hạ, chẳng hay bệ hạ có nhớ quan thừa chỉ?
– A, lũ ngươi giảo quyệt. Thằng thuyền chài sai ngươi đến đây để dụ ta vào bẫy hả? – Nhà vua chồm dậy giơ bàn tay yếu ớt của mình lên định tát vào mặt thị nữ. Bàn tay ấy lại từ từ buông thõng xuống. Nhà vua thở dài ảo nảo, tuồng như tất cả ý chí và sức lực của ngài đều trút qua hơi thở.
Thị nữ không cầm được nước mắt. Nàng cũng bối rối, chỉ sợ có ai trông thấy cảnh này, thì vua tôi khó mà toàn vẹn. Chợt lóe trong óc nàng một điều gì đấy, khiến nàng hoạt bát hẳn lên. Nàng tiến lên nửa bước, ghé sát tai nhà vua nói:
– Quan thừa chỉ dặn con, nếu có cơ hội, bệ hạ nên sớm dứt bỏ chốn cung cấm thâm nghiêm này. Xin bệ hạ hãy tỏ ra thối chí, xuất gia tại một ngôi chùa nào đó trong kinh thành. Các bầy tôi trung thành với bệ hạ, vẫn đang chờ thánh chỉ để mưu việc lớn.
Nói xong, thị nữ bèn dâng lên Lý Huệ tôn một chiếc quạt. Đó là chiếc quạt mà nhà vua đã ban cho quan thừa chỉ. Nhà vua nhận ra chiếc quạt của mình và nhớ lại tất cả. Ngài hỏi:
– Ngươi với quan thừa chỉ có thân thích gì không?
– Tâu bệ hạ, mẹ con là con nuôi của quan thừa chỉ. Mẹ con con chịu trọng ân của đức ngài. Dù việc con làm có phải gan nát óc lầy, cũng chưa dễ gì báo đền được ơn phúc đó.
– Ngươi có được hoàng hậu tin cẩn không?
– Bẩm hoàng thượng, hoàng hậu không nghi ngờ gì con. Nhưng chắc con không thuộc loại tâm phúc như những chị quê ở Long Hưng[2], ở Tức Mạc[3] Nhà vua gật đầu. Một thoáng cân nhắc, ngài hỏi:
– Ngươi có thấy quan điện tiền hay ra vào cung hoàng hậu bàn tính gì không? – Nhà vua phải hạ mình đi hỏi một thị nữ, về chuyện riêng của hoàng gia, quả thật là đau lòng. Bởi mấy năm nay nhà vua không được điều hành việc triều chính. Tất cả công việc đều thâu tóm trong tay Trần Tự Khánh, anh ruột của hoàng hậu Trần Thị Dung. Từ năm ngoái, (Quí Mùi – 1223) Trần Tự Khánh chết, quyền hành ấy được chuyển sang Trần Thủ Độ, em họ y – Anh em nhà nó ép ta phải ốm. Chúng bắt ta phải ký vào chiếu do chúng thảo sẵn, để chúng lừa bịp triều đình và sai khiến trăm họ.
Chúng giam hãm ta tại một căn nhà ẩn mãi phía sau nội điện, bốn mặt tường cao, hào sâu, lính canh nghiêm cẩn. Ngay việc ta đi lại thăm hỏi các con ta, chúng cũng cản trở. Thật sự chúng biến ta thành một tên tù.
Ngẫm nghĩ giây lát, thị nữ bèn tâu:
– Trình bệ hạ, quả là quan điện tiền Trần Thủ Độ có năng lui tới cung hoàng hậu. Nhưng các bậc bề trên bàn tính chuyện gì thì kẻ hầu hạ chúng con không được biết. Lưỡng lự một thoáng, thị nữ lại tiếp:
– Tâu bệ hạ, người có nhắn bảo gì quan thừa chỉ, con sẽ thưa lại. Quan thừa chỉ có nhờ tâu cùng bệ hạ rằng: “Người gắng giữ gìn tấm thân muôn quí, để còn lo việc lớn cho thiên hạ. Bêï hạ nhất nhất không được tỏ lộ một điều gì khinh xuất, bởi gia nhân và tai mắt họ Trần nhan nhản đầy triều”.
Nhìn về phía non Tản, mặt trời ánh lên một màu tím sẫm, thị nữ chắp tay vái nhà vua ba vái, rồi nói:
– Lạy trình bệ hạ, mặt trời đã gác núi phía tây, xin bệ hạ kíp trở về hậu điện kẻo quân canh nghi ngờ.
Nhà vua chợt hỏi:
– Vậy chớ bao giờ thì ngươi lại gặp ta?
– Tâu bệ hạ. Con không được phép vãng lai vào khu hậu điện. Xin cũng cứ vào giờ này thi thoảng bệ hạ dạo chơi quanh đây, nếu có tin tức gì con sẽ tìm cách bẩm báo để bệ hạ tỏ tường – Xin bái biệt. Nói xong thị nữ vái dài rồi vụt biến mất, khiến Huệ tôn ngơ ngác, vì chưa kịp hỏi tên nàng.
Trở lại căn nhà vắng lặng như chốn mồ hoang, Huệ tôn sắp phải dùng bữa cơm chiều đạm bạc, thường do một tên lính tốt đưa vào. Nhìn mâm cơm, nhà vua không nén nổi cơn giận, bèn gọi tên lính quát mắng:
– Kẻ kia, về nói với chủ mày tàn ác vừa vừa chứ, không thì chết cả ba họ chúng bay đấy. Tiếc thay ta không nghe lời mẫu hậu, để cho cái dòng họ khố rách áo ôm nhà chúng mày lọt vào triều đình, để đến bây giờ chúng mày tác yêu, tác quái.
Tên lính tốt nhìn lại mâm cơm vua, bây giờ nó mới nhận ra là sơ sài đạm bạc quá. Thật chẳng hơn gì bữa cơm lính. Nhưng biết làm thế nào, nó là lính chỉ biết tuân theo lệnh của người trên. Nó còn được quan đô áp dặn, nếu nhà vua có thét mắng hoặc hờn dỗi không ăn thì cứ việc trả lời: “Khắp nơi loạn lạc, triều đình không thu được thuế. Dân trong nước chết đói gần hết rồi. Nay mai quân giặc sắp ùa vào kinh thành. Đến gạo hẩm, cơm tấm cũng chẳng có mà ăn”. Tuy đã được quan đô áp căn dặn, tên lính tốt cũng không dám hé răng cãi lại nhà vua. Trái lại, nó còn thấy nhen lên một cái gì đó ở trong lòng, như là sự thương cảm ở tình người. Nó chỉ thương ông vua mất hết quyền bính, thân phận như một tên tù.
Đuổi tên lính và bắt nó bê cả mâm cơm đi rồi, nhà vua nằm thở. Bây giờ ngài mới thấy thấm mệt. Vừa đói, vừa mệt, nghĩ lại lời quan thừa chỉ dặn, nhà vua thấy hối hận: “Việc ta mắng nhiếc những kẻ họ Trần kia, quả là khinh xuất. Kẻ kia sẽ ra sức tìm cách ám hại những bầy tôi còn trung thành với nhà Lý”.
Đêm phủ lên kinh thành một màu huyền đục. Bốn bề im lặng. Tiếng chó sủa thưa dần. Tiếng dế, tiếng trùng bật lên rền rĩ như tiếng những oan hồn than khóc. Đĩa đèn của nhà vua ngọn bấc đang lập lòe, ông biết dầu đã cạn. Nhà vua nghiến răng như muốn nghiền nát kẻ nghịch thần bạo ngược. “Y không cho ta lấy một người thiếp hoặc một tên nô để sai khiến. Đến dầu thắp, y cũng chỉ phát cho ta từng đêm. Mà cũng chỉ đến giờ này là lụi bấc. Chao ôi, đạo vua tôi đến thế là cùng! Lại còn con mụ vợ ta nữa. Gần một năm nay mụ không còn đoái tưởng gì đến ta. Quyền bính trong hoàng gia một tay mụ thâu tóm. Quyền hành nơi triều chính do em mụ thống lĩnh. Ta ngu tối vì quá tin kẻ ngoại tộc, đến nỗi trở thành trò cười cho chúng nó. Chị em nhà mụ lúc nào cũng cặp kè với nhau. Bên ngoài, chúng che dấu dưới những điều to lớn như việc nước, việc nhà. Kỳ thự bên trong thì chúng tư thông với nhau. Nghĩ tới đây, nhà vua rùng mình ghê tởm, ngài vội nhắm mắt lại, miệng nam mô niệm Phật. Vì chính ngài không dám tin rằng, con người ta dám làm những điều luân thường bại lý như vậy. Ngọn bấc chợt bừng sáng lên rồi phụt tắt. Đúng lúc, ngoài chòi quan điểm ba tiếng trống sang canh. Tuy căm tức nhưng Huệ tôn thầm khen cho tên rót dầu thật là tài, và tên lính đánh trống cũng thật đúng giờ. Vì đêm nào cũng vậy, cứ vào lúc ngọn bấc phụt tắt là trống sang canh ngoài hoàng thành lại điểm.”
Bình tâm, nhà vua nhớ lại cuộc gặp giữa ngài với quan điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ, không lâu trước ngày đức vua bị bức phải ký vào chiếu nhường ngôi.
Bữa đó trời nóng, nhà vua cởi trần, ngồi đánh cờ một mình. Vì gần một năm nay, Huệ tôn không được ló ra ngoài, không được tiếp xúc với ai, kể cả vợ con. Buồn đến nẫu ruột, tưởng như chứng loạn tâm lại tái phát, nhà vua phải bầy ra chuyện giải khuây, bằng cách đánh cờ. Cuộc cờ đã gần mãn, rút vào thế. Một bên là tốt nhập cung, chỉ cần thọc một nước xe nách là bên kia hết cờ. Một bên chịu nước xe lệch. Nhà vua đang mãi mê lo cho thế cuộc đôi bên, thì Trần Thủ Độ xộc vào. Ông bước đi hùng dũng, thanh trường kiếm đeo trễ một bên hông. Nhà vua chợt ngửng lên. Thủ Độ lướt nhanh trên bàn cờ, rồi nhìn thẳng vào khuôn mặt nhợt nhạt của Lý Huệ tôn, ông nói:
– Tâu bệ hạ, tàn cuộc rồi, đánh ván khác thôi!
Huệ tôn nén giận đáp lời qua giọng nói run run:
– Chẳng cần đánh thì nhà ngươi cũng thắng ta rồi.
– Vậy là bệ hạ đã nắm được cái nhẽ mạnh, yếu ở đời. Tôi xin đi thẳng vào việc.
– Ngươi cứ nói.
Huệ tôn vẫn ngồi trên chiếc giường sơn then, mắt lơ đãng ngắm nhìn vài chiếc quân ngà lạc lõng, kỳ thực tâm trí nhà vua đang rất lao lung, không biết Trần Thủ Độ sắp bày đặt chuyện gì đây.
Thủ Độ hết nhìn nhà vua lại nhìn ra ngoài vòm trời chói chang nắng gắt. Ông đi đi lại lại quanh gian nhà hẹp, như đang bồn chồn chờ đón một điều gì. Đoạn ông đứng lại trước nhà vua, nói:
– Bệ hạ biết đấy. Vận nhà Lý hết rồi!
Huệ tôn giật bắn người, nhà vua tưởng như dứt lời nói ấy, Thủ Độ sẽ rút thanh trường kiếm chém bổ lên đầu ngài. Nhưng không, ông ta vẫn thảng nhiên đứng đó, tay khoanh trước ngực. Phút im lặng nặng nề đầy hăm dọa hơn cả quãng đời tai biến mà nhà vua đã trải. Đức vua chợt nhìn nhanh ra dẻo sân rồi lại ngước lên vòm nhà, chợt thấy một con tò vò đang vo vo giẫy dụa trong chiếc mạng nhện. Huệ tôn thầm nghĩ đến cảnh ngộ mình.
Tự trấn tĩnh giây lát, Huệ tôn lên tiếng:
– Vậy chớ khanh muốn gì ở ta? Mà lúc này ngươi muốn gì chẳng được, kể cả cái đầu ta.
Trần Thủ Độ nhếch mép cười:
– Bệ hạ quá lời. Hẳn ngài đã biết từ cái thuở chạy loạn Quách Bốc[4] rồi từ ấy tới nay, cánh họ Trần chúng tôi đã vì nhà vua mà tiêu hao điền sản. Gia nhân chúng tôi và cả cha chú chúng tôi cũng hiến dâng tính mạng để giữ cho cái ngai vàng của bệ hạ được vững.
– Điều ấy ta biết, nhưng tiếc thay các ngươi làm những việc ấy vì sự bành trướng thế lực của họ Trần chứ không phải vì ta, vì trăm họ. – Huệ tôn vừa nói vừa liếc nhìn thanh trường kiếm nơi hông Trần Thủ Độ.
– Cha con, bác cháu, anh em nhà chúng tôi dốc hết tài sản và sản nghiệp khuông phò bệ hạ, nhưng phải thừa nhận một điều rằng bệ hạ bất tài, nên không thâu tóm được triều đình, bệ hạ cũng mỏng đức nên không sai khiến được thiên hạ.
Thay trời chăn dân, bệ hạ để cho trăm họ ta thán, nguyền rủa. Đất nước yên bình hàng trăm năm mà đi về phía nào cũng thấy cảnh tiêu điều hoang phiếu. Ngả nào cũng có người chết đói, chết dịch bệnh. Từ đời Cao tông tới nay, dân chết đói quá nửa rồi. Bây giờ thì không chỉ đói, rét, bệnh tật, mà còn giặc cướp, loạn lạc nổi lên như muỗi, như ruồi. Bệ hạ thử đoái nhìn sớ tấu các nơi gửi về triều đình xem, có nơi nào không có giặc? Đông, tây, nam, bắc các nẻo đều nổi dậy chống lại bệ hạ. Không xa xôi gì, ngay cửa ngõ kinh thành đây, Nguyễn Nộn cũng hùng cứ, sớm tối đánh vào cửa khuyết lúc nào không hay. Mấy phen y đã đem quân tới Bồ Đề, nếu tôi không sớm ra tay, hẳn là thành tan, ngói vỡ, ngai vàng sụp đổ từ lâu rồi.
Trần Thủ Độ ngừng lời, chợt thấy mặt nhà vua xám ngoét, mồ hôi toát trắng cả ngực, cả lưng, chảy thành dòng, ướt đen cả vùng cạp quần. Chợt trong lòng viên tướng nảy ra một ý nghĩ mơ hồ, ái ngại. Trần Thủ Độ tự biết việc đối xử với nhà vua như vậy là bạo ngược. Giá Huệ tôn là một người thủ đoạn, sắc sảo mưu toan chống lại ông và diệt vây cánh của ông, cũng như thế lực của họ Trần thì lại đi một nhẽ. Đằng này ông ta nhu nhược, chấp thuận … Chợt Trần Thủ Độ ngửng phắt đầu lên, tay nắm chặt đốc kiếm. Dường như ông ta làm như thế là để dứt khoát với chính mình, chặn đứng cái lối nhân theo kiểu đàn bà. Thủ Độ tự nhủ: “Nếu lúc này còn chần chừ là mất hết cơ hội. Khi mà Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn hai thế lực kình chống triều đình lớn nhất liên kết lại với nhau được, thì không những cơ đồ nhà Lý sụp đổ, mà vây cánh họ Trần cũng không có đất để chôn”.
Hành động của Trần Thủ Độ khiến Lý Huệ tôn không còn hồn vía. Nhà vua co rúm người lại, miệng lắp bắp:
– Ta muốn gặp lại các con. Ta chưa hề xử tệ với ông. Ta mong ông hãy gia ân. Dù sao…
Lời van vỉ của Huệ tôn khiến Trần Thủ Độ bừng tỉnh hẳn. Nhìn tấm thân gầy guộc, khuôn mặt sầu héo toát lên vẻ ươn hèn ngu tối của một đấng quân vương, lòng viên tướng dấy lên nỗi khinh ghét, tởm lợm. Một ý nghĩ thoáng nhanh trong óc ông: “Đứng đầu một dân tộc quật cường như Đại Việt mà là kẻ ngu hèn kia sao? Tiếc thay cả dòng họ nhà ta đi khuông phò một tên vô lại”. Đoạn ông nói, lời nói rành rõ như một lời khuyến cáo, lời huấn dụ mà cũng là lời tâm sự thốt lên từ đáy lòng ông:
– Đất nước ngàn cân treo sợi tóc. Bên ngoài người Tống ráo riết nhòm ngó. Bên trong bè đảng nổi lên. Mỗi kẻ trấn trị một phương, cái họa nồi da xáo thịt chỉ là sớm tối. Dân tình đói khổ, rên xiết vì nạn sưu cao thuế nặng của triều đình. Nạn cướp bóc, nạn ức hiếp của giặc giã và bọn hào lý trùm lên đám cùng đinh. Phải lấy non sông xã tắc làm trọng.
Nói tới đây, Trần Thủ Độ liếc nhìn Lý Huệ tôn, rồi ông nói tiếp: – Bệ hạ phải thoái vị!
Huệ tôn tuy đã lường trước được việc này, nhưng ông không ngờ nó lại xảy ra sớm thế, khiến ông bủn rủn cả tay chân, miệng há hốc, mặt trắng bệnh như sáp, nhưng không thốt ra được một lời, như kẻ chết không kịp ngáp.
-Vậy ý bệ hạ thế nào? – Trần Thủ Độ gặng hỏi.
-Ý ông là ý ta. Việc phải làm thế nào thì ông cứ thế mà làm. Có điều ta muốn biết, ai sẽ thay ta? Ông hay Nguyễn Nộn?
– Nhà vua nghĩ quẩn! – Trần Thủ Độ giậm chân thét lớn. – Nguyễn Nộn là giặc của triều đình, bệ hạ coi tôi như một tên giặc hiếp vua? Quá đáng, quá đáng!
Lý Huệ tôn thật sự lúng túng, ông cũng không biết nói thế nào cho hợp ý quan điện tiền. Giây lâu, ông tiếp:
– Hay ta bắt chước người xưa, nhường thiên hạ cho ông? – Huệ tôn ngừng lời để dò biết ý tứ Trần Thủ Độ.
– Nhà vua chưa đủ tư cách của một người hiền để làm việc đó. Thiên hạ không phải của riêng bệ hạ mà muốn cho hay giữ thế nào cũng được. Ngày xưa nhà Lý thay thế nhà Lê là thuận lòng dân, hợp với ý trời. Lý Thái tổ là người mở nghiệp huy hoàng đã đưa non sông Đại Việt lên đài vinh quang chói lọi. Công ấy, sử sách muôn đời cháu con ghi nhớ. Nhưng hiện tình nhà Lý rối rắm quá, còn nát hơn cả nhà Lê trước nữa. Trên khuôn tranh thảm đạm như vậy, bệ hạ định treo một tấm gương gì? Lịch sử là chân thực nhưng sòng phẳng, không thể chơi trò điêu sảo, mập mờ được đâu. Nói xong, Trần Thủ Độ cười sằng sặc, khiến Lý Huệ tôn càng hoang mang khiếp sợ.
Với giọng bạc nhược, nhà vua nói:
– Ta thật sự không biết làm gì trong lúc này, mong ông hết lòng giúp ta.
Trần Thủ Độ bèn thò tay qua tấm áo tía đại trào, nơi thêu cái đầu hổ phù trước ngực, rút ra một tờ chiếu thảo sẵn. Đọc xong, nhà vua thất kinh hỏi:
– “Sách lập Chiêu Thánh làm hoàng thái tử”. Lạ quá! Lạ quá! Biến hoàng nữ thành hoàng nam, trong đời ta chưa từng thấy, mà lịch sử các đời cũng chưa từng có.
Trần Thủ Độ cười khẩy:
– Chúng ta là những người làm ra lịch sử, bệ hạ thử xét xem, trước bệ hạ đã có triều đại nào, chỉ hai cha con kế tiếp trị vì thiên hạ, đã biến đổi được một dân tộc hùng anh như Đại Việt này thành một lũ ăn mày. Cũng chỉ trong vòng mấy chục năm cha con bệ hạ đã tiêu diệt tới nửa số dân của mình bằng đói kém, dịch bệnh. Nếu bệ hạ tiếp tục nắm giữ ngôi trời, tôi tin với tài năng và trí tuệ của bệ hạ, chẳng bao lâu bệ hạ sẽ hoàn tất sứ mệnh diệt chủng!
– Sao khanh quá nặng lời. Chẳng qua chỉ tại tiên đế ham mải các thú vui, còn ta thì bệnh tật dày vò…
Với lòng khinh bỉ, Trần Thủ Độ rút chiếc bút lông thỏ đã quết son gài sau búi tóc đưa cho nhà vua.
Lý Huệ tôn xăng xái rót vào chén trà vài giọt nước xấp xấp ngọn bút lông, ông xoay xoay tờ chiếu rồi nắn nót viết ba chữ tên mình. Đoạn ông đẩy tờ giấy ra xa rồi lẩm nhẩm đọc lại lời văn, và ông dừng lại rất lâu nơi ba chữ ký, tuồng như ông có vẻ mãn nguyện vì vừa làm được một việc độc nhất có ích trong đời…
Vừa đói, vừa mệt, vừa chập chờn hãi sợ, Huệ tôn chìm mình vào giấc ngủ muộn.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *