Trang chủ / Văn học nước ngoài / Yêu Bên Trái Dạy Dỗ Bên Phải

Yêu Bên Trái Dạy Dỗ Bên Phải

1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK 

Tác giả : Kim Vận Dung

Download sách Yêu Bên Trái Dạy Dỗ Bên Phải ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

2. DOWNLOAD

Định dạng ebook                  

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ? Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Lời giới thiệu

Nghiêm túc mà nói, nghiên cứu về vệ sinh tâm lý1 và tâm lý trị liệu2 cho trẻ ở lứa tuổi nhi đồng và thanh thiếu niên mới đúng là chuyên ngành của tôi.

Khoa chính quy tôi học trong trường đại học có cái tên rất lạ là “hệ thống phúc lợi cho thanh thiếu niên và nhi đồng”. “Phúc lợi” ở đây chính là tất cả những vấn đề liên quan đến tâm lý, hành vi, thành tựu hoặc hạnh phúc và lợi ích của trẻ thuộc hai lứa tuổi nói trên. Chính vì vậy, sau khi tốt nghiệp, công việc đầu tiên kéo dài đến năm năm của tôi chính là đảm nhiệm vai trò một nhà tâm lý và tâm lý trị liệu cho lứa tuổi nhi đồng ở trung tâm vệ sinh tâm lý nhi đồng trong bệnh viện tổng hợp. Còn công việc thứ hai của tôi kéo dài hơn hai năm lại là phụ trách việc đào tạo giáo viên phụ đạo trong trường cấp ba tại Bộ Y tế Đài Loan. Khi ấy, tôi buộc phải đến mỗi trường cấp ba ở Đài Loan, ngoài việc mời tất cả những người đảm nhận công việc phụ đạo trong trường ở nơi đây đến tham gia cuộc đào tạo trong thời gian nhất định của tôi ra, có những lúc tôi còn phải đến tận trường để giúp giáo viên phụ đạo của trường đó giải quyết một số vấn đề của những học sinh cá biệt mà họ thấy tương đối hóc búa, không biết phải tháo gỡ thế nào.

1. Vệ sinh tâm lý là những phương pháp và nguyên tắc trong Tâm lý học liên quan đến vấn đề bảo vệ và phát triển sức khỏe tâm lý của con người.

2. Tâm lý trị liệu là hệ thống các phương pháp, kỹ thuật được nhà tâm lý trị liệu sử dụng, nhằm cải thiện sức khỏe, tinh thần, tháo gỡ các trở ngại trong cảm xúc và hành vi của thân chủ, mà nó là nguyên nhân làm cho họ cảm thấy khó khăn trong việc tự quản lý cuộc sống và đạt đến các mục đích mong muốn của mình.

Chính bởi vậy, từ sau khi bắt đầu đặt bút viết sách, trong lòng tôi luôn có một tiếng nói mách bảo mình rằng: “, nhất định sẽ có một ngày, cô phải viết được một cuốn sách liên quan đến vấn đề giáo dục gia đình. Như vậy mới không uổng phí tất cả những kiến thức cô lĩnh hội được về chuyên ngành giáo dục và những kinh nghiệm cô đã tích lũy trong bao nhiêu năm làm việc thực tiễn như vậy”.

Thế nhưng, cùng lúc đó, trong lòng tôi còn vang lên một giọng nói khác nữa, to hơn, luôn nhắc nhở tôi, “, cô chắc chắn muốn viết chứ? Hoặc là, cô xác định bản thân có tư cách viết rồi ư?”. Thực ra, viết một cuốn sách rất đơn giản, song nếu như quyển sách đó bạn viết không trọn vẹn, không tỉ mỉ, không trung lập, không khách quan, không chuyên nghiệp, như vậy sẽ có chút thiên lệch hoặc độc đoán, có thể bạn sẽ làm tổn thương đến những đứa trẻ vốn dĩ có thể trưởng thành, và không có khả năng phản kích. Một việc mạo hiểm như vậy, bạn có thể thử mà không suy nghĩ kỹ càng chăng?

Đương nhiên, giọng nói nhắc nhở tôi luôn lớn hơn rất nhiều âm thanh thúc giục tôi. Cũng chính bởi vậy, với tâm trạng lo sợ và vô cùng cảnh giác, tôi luôn luôn không dám thử hạ bút viết về chủ đề này. Tôi núp mình trong túp lều có tên gọi “Tìm hiểu về lứa tuổi thành niên đã có khả năng phân biệt và nhận biết”, bàn luận về vấn đề giáo dục nâng cao thái độ tích cực, suy ngẫm về triết lý cuộc sống, hay nhận biết về những tinh dầu tự nhiên, mà không dám thảo luận về vấn đề giáo dục trẻ ở độ tuổi vị thành niên.

Mãi cho đến khi con trai tôi trưởng thành, tạm thời kết thúc chặng đường bài vở học hành, có chút thành tích trong công việc, cũng có biểu hiện tích cực và toàn diện về nhân cách lẫn phẩm chất, giọng nói trong lòng tôi mới có chút thay đổi về ngữ khí: “Ừm, , có lẽ đã đến lúc viết sách rồi. Bây giờ, ngoài chuyện đã được thể nghiệm qua những công việc liên quan đến chuyên môn và có kinh nghiệm thực tiễn ra, cô cũng có thể mạnh dạn mà nói rằng, phương thức và lý luận giáo dục của tôi đã được nghiệm chứng trên chính con trai tôi, đồng thời xem như còn vô cùng có hiệu quả!”.

Rất nhiều người bạn thân thiết của tôi đều biết rằng, khi nói chuyện với tôi, nhất định không nên nhắc tới con trai tôi, bởi lẽ cứ hễ chủ đề câu chuyện chạm đến nó, tôi sẽ lại bắt đầu kiêu ngạo mà thao thao bất tuyệt, giống như một bà mẹ có vô số những chuyện vụn vặt về cuộc sống thường ngày xảy ra trong gia đình mình cần chia sẻ vậy đó, chẳng khác gì cả thế giới rộng lớn này chỉ có mình con trai tôi được xem là xuất sắc nhất, tuyệt vời nhất vậy.

Con trai tôi quả thực là rất xuất sắc, thế nhưng cái xuất sắc của nó không hoàn toàn dừng lại ở việc chỉ một thành tích học tập tốt hay một trí thông minh tuyệt đỉnh. Trên thực tế, thành tích học tập của nó chỉ được xếp ở bậc trung. Bắt đầu từ khi lên Trung học Cơ sở, nó đã sang học tập ở Anh. Nó học hệ chính quy khoa Lịch sử và Quan hệ quốc tế ở ngôi trường lúc thì nhảy lên xếp thứ hai khi lại tụt xuống đứng thứ tư trong toàn quốc gia Anh – Học viện Kinh tế và Chính trị Lodon (LSE), đồng thời tiếp tục nỗ lực học nghiên cứu sinh khoa Chính trị và Truyền thông cũng tại ngôi trường này. So với phần đông học sinh Trung Quốc học tập tại các ngôi trường nổi tiếng như Harvard, Yale, Cambridge, Oxford vân vân đạt thành tích học tập xuất sắc mà nói, thì việc học tập của con trai tôi thực sự là không đáng để ở đây mà khoe khoang.

Còn về cái gọi là chút thành tựu trong sự nghiệp của con trai tôi mà tôi nhắc đến, trên thực tế, so với những thanh niên Trung Quốc xuất sắc đang làm việc

tại năm trăm công ty lớn nhất thế giới, những ngân hàng đầu tư nổi tiếng, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thì thực sự cũng chẳng có bất cứ điều gì đáng để khoe khoang cả.

Bắt đầu từ năm lớp Chín, ngoài thời gian học, con trai tôi đã luôn đi làm thuê, liên tục không hề có thời gian bị gián đoạn. Do thời Trung học học trường nội trú dành riêng cho học sinh nam, thứ Bảy hằng tuần, con trai tôi không về ngôi nhà nằm ở ngoại ô Luân Đôn của gia đình, mà ở lại đảm đương công việc rửa tất cả những chiếc ô tô của thầy cô giáo đang nằm ở vườn trường và ký túc xá. Ngoài ra, mỗi tối thứ Sáu, nó còn nhận làm một số việc vặt để giúp thầy cô trông nom con cái. Khi con trai tôi bắt đầu làm những việc này, lúc đầu chúng tôi hoàn toàn không hay biết, mãi cho đến một lần được về nước nghỉ hè, thằng bé đã giúp bố rửa xe bằng cách thức vô cùng thành thạo, chúng tôi mới phát hiện ra rằng, con trai mình đã có một “năng lực chuyên nghiệp” này.

Kỳ nghỉ hè trong năm, con trai tôi dùng tiền tiết kiệm một mình vác ba lô lên tàu hỏa đi du lịch bụi châu Âu một chuyến.

Sau khi vào đại học, con trai tôi lại tiếp tục vui vẻ sống kiếp làm thêm không biết mệt mỏi, chỉ có điều, công việc làm thêm trong giai đoạn này nó chọn là phục vụ trong ngành tổ chức tiệc rượu, công việc có thể giúp nó biết thêm một kỹ năng khác nữa. Trong suốt ba năm học đại học (Hệ thống giáo dục ở Anh gồm bảy năm trung học và ba năm đại học), con trai tôi luôn làm thêm trong công ty tổ chức tiệc rượu, chuyên nhận phục vụ cho các nhân vật nổi tiếng trong xã hội (như những người thuộc Hoàng gia Anh, các đại gia, minh tinh). Bắt đầu từ chàng phục vụ bưng bê khay đĩa, con trai tôi đã trở thành người quản lý và giám sát chất lượng phục vụ, người đứng ở cửa tiếp đón khách, cho đến cuối cùng trở thành người pha chế rượu ở quầy bar. Khi tốt nghiệp đại học bắt buộc phải tạm dừng công việc này lại, con trai tôi đã là bậc thầy pha chế rượu hàng đầu trong công ty tổ chức tiệc rượu cao cấp.

Khi học nghiên cứu sinh, con trai tôi lại thay đổi phương hướng làm thêm. Nó đã đăng ký và được nhận vào thực tập ở phòng làm việc của thủ tướng nước Anh, trở thành một trong những quan sát viên thời sự của thủ tướng nước Anh. Mỗi một buổi sáng sớm tinh mơ, con trai tôi lại phụ trách việc thu thập tin tức của giới truyền thông, đồng thời ngay buổi sáng sớm ngày hôm đó, báo cáo ngắn gọn nội dung tất cả các việc cần làm cho thủ tướng trong cuộc hội nghị cho các kênh thời sự. Cùng thời điểm đó, con trai tôi còn đăng ký vào thực tập ở công ty chuyên về phân tích tính mạo hiểm trong chính trị mang tính chất đòi hỏi một trí tuệ cao. Mỗi một buổi tối, con trai tôi đảm đương công việc phân tích động thái về kinh tế và chính trị của châu Á trong cùng một ngày hôm đó, sau đó căn cứ vào những phân tích ấy, cung cấp cho khách hàng những kiến nghị thích hợp và thiết thực nhất.

Sau này, khi còn chưa dự buổi lễ tốt nghiệp nghiên cứu sinh, con trai tôi đã trở thành nhân viên chính thức của công ty mang tính chất trí tuệ ấy, đồng thời chỉ trong thời gian ngắn ngủi là một năm rưỡi, ở độ tuổi hai mươi tư trẻ trung non nớt, thằng bé đã trở thành bậc thầy đứng đầu trong lĩnh vực phân tích động thái kinh tế chính trị châu Á và chủ quản Vụ Châu Á của công ty ấy, đồng thời cũng nhờ có một tư duy logic và năng lực biểu đạt tốt, nó đã được thay mặt công ty bay đến khắp mọi nơi trên thế giới diễn thuyết, đồng thời đón tiếp các cuộc phỏng vấn của các kênh thời sự.

Cho đến hôm nay, con trai tôi đã quyết định quay về lập nghiệp trên mảnh đất Bắc Kinh với một thị trường rộng lớn. Ngoài việc tiếp tục đem sức lực phục vụ ông chủ của mình và đi khắp nơi thuyết giảng ra, con trai tôi còn thành lập hai công ty với hai tính chất công việc hoàn toàn khác biệt nhau: Một là công ty tư vấn các thương vụ liên quan đến vấn đề kinh tế và chính trị mang tính chất nghiêm túc; một là công ty tổ chức tiệc rượu lại hoàn toàn mang tính thoải mái vui vẻ. Cậu con trai tháng Mười năm nay mới tròn hai mươi sáu tuổi của tôi đã nói với mẹ rằng: “Mẹ, mẹ đừng lo là con sẽ mệt quá, con sẽ dùng bán cầu não trái chủ yếu phụ trách các hoạt động lý tính để phân tích các vấn đề kinh tế chính trị, và dùng bán cầu não phải chủ yếu phụ trách các hoạt động cảm tính để tạo ra niềm vui cho khách hàng. Đó là cách cân bằng tốt nhất đồng thời cũng là cách giảm áp lực tốt nhất. Mẹ yên tâm, con có thể chú ý được đến cả hai công ty!”.

Đọc xong những lời này, các bạn có cảm thấy như bị vốn kinh nghiệm phong phú của cậu con trai tôi đè nặng đến mức khó thở không? Thực ra, từ nhỏ con trai tôi đã rất hiếm khi đạt được điểm số đứng đầu trong các kỳ thi khi đi học, thành tích học tập đại đa số đều là dao động từ mốc thứ hai cho đến bậc thứ năm. Và, mặc dù nó chưa bao giờ trở thành cậu học trò có thành tích học tập mũi nhọn trong lớp, nhưng mỗi một buổi trưa khi ăn cơm, nó đều vác đến cho các bạn trong lớp một thùng canh bằng inox; là người đứng đầu, chỉ huy các đội ngũ trong toàn trường, nhưng vì đưa ra hiệu lệnh lạc lối nên đã làm cho cả đội ngũ rối tung lên; dám tranh cử làm chủ tịch thành phố Đài Bắc với khả năng không mấy chắc chắn rằng mình được đắc cử; thầm thương trộm nhớ cô bé xinh đẹp và giỏi giang nhất lớp Hàng loạt những sự việc chẳng mấy dính dáng đến học tập, toàn bộ đều có phần góp mặt của con trai tôi.

Thế nhưng, việc vượt quá giới hạn nhất của con trai tôi lại xảy ra khi nó vừa học xong lớp Năm ở Đài Loan, tiếp tục đến nước Anh bắt đầu học cấp hai. Một buổi tối nọ, chúng tôi đang ở nhà chúng tôi ở Đài Loan thì nhận được điện thoại của thầy hiệu trưởng gọi đến.

Qua điện thoại, thầy hiệu trưởng cố tỏ ra bình tĩnh nhưng chẳng thể nén nổi nỗi lo lắng mà nói với chúng tôi, sau khi uống mấy loại rượu khác nhau do một bạn học sinh mang trộm từ nhà tới ở trong ký túc xá, ngoài việc say đến mức bất tỉnh nhân sự, con trai chúng tôi còn có một vài hành động sinh lý đáng nguy hại, đã phải đưa đến bệnh viện cấp cứu mấy đêm liền rồi.

Thầy hiệu trưởng gọi điện thoại cho chúng tôi, ngoài việc thông báo đến các vị phụ huynh rằng cậu con trai vẫn đang nằm trong bệnh viện của ông bà đã tỉnh và hồi phục lại sức khỏe ra, ông ấy còn bảo chúng tôi đừng quá tức giận, bởi vì vốn dĩ sáng ngày hôm sau, cậu con trai của tôi sẽ được bước lên bục cao nhận phần thưởng và giấy khen danh hiệu Học sinh ưu tú nhất của cả năm học vừa qua, chẳng qua là cậu bé nghe theo “sự dụ dỗ của đám bạn xấu” nên đã lỡ uống nhiều rượu như vậy mà thôi. Trên thực tế, một tuần sau con trai tôi được nghỉ trở về Đài Loan, nó đã thẳng thắn mà kể lại câu chuyện đó với bố mình, rằng buổi tối hôm ấy trong ký túc xá là do nó muốn được trổ tài nên đã chủ động uống thử mấy loại rượu đó, tuyệt đối không phải là do bị bạn bè xấu lôi kéo để nó uống rượu!

Con trai tôi còn có một chuyện rất thú vị mà có lẽ cho đến tận hôm nay nó vẫn không hề biết. Khi nó lên cấp ba, đồng thời đảm nhiệm chức vụ đội trưởng của đội bóng rổ và bóng đá của trường, nó dồn toàn tâm toàn lực vào đội bóng. Trong bảng kết quả học tập của trường gửi về, chúng tôi nhận thấy thầy giáo thể dục dành cho con trai tôi lời nhận xét rất xác đáng. Thầy giáo thể dục nói rằng: Đối với bộ môn thể dục thể thao, biểu hiện của Kevin đã nhận được sự khẳng định lớn của toàn trường, bởi vì mặc dù kỹ thuật chơi bóng của cậu học trò này tuy chưa đạt đến mức xuất sắc, thế nhưng cậu ấy lại là một cầu thủ nhiệt tình nhất và có số lần tham gia đội bóng nhiều nhất!

Đó chính là con trai tôi – một người không hề nổi bật trong phương diện học tập, đồng thời không chút nổi trội về các mặt năng khiếu, thế nhưng lại có đủ lòng nhiệt tình, sự tự tin dồn hết toàn tâm toàn lực giải quyết bằng được mỗi một việc mình đảm nhiệm. Và tôi tin rằng, con trai tôi có được những đức tính tốt đẹp này, ngoài vì sự ưu ái của ông Trời ra, thì đương nhiên còn bởi sự chăm chút dạy dỗ từ nhỏ của những bậc làm cha làm mẹ như chúng tôi đây.

Do đó, tôi thật lòng hy vọng rằng, sau khi tôi chẳng chút giấu giếm mà khoe khoang về con trai mình như vậy, tôi có tư cách chia sẻ với mọi người về kinh nghiệm dạy dỗ con cái qua cuốn sách này. Còn về góc độ tôi là người đang viết cuốn sách này, xin phép cho tôi được dùng lại câu nói của chính con trai mình đã từng nói: Tôi sẽ dùng bán cầu não trái chủ yếu phụ trách các hoạt động lý tính để làm một người chuyên về tâm lý trị liệu đã được trải qua cả quá trình rèn luyện học tập chuyên nghiệp; đồng thời dùng bán cầu não phải chủ yếu phụ trách các hoạt động cảm tính để làm một người mẹ đã chứng kiến con trai mình trưởng thành khỏe mạnh, khiêm tốn mà kể rõ các khái niệm giáo dục của tôi, đồng thời từ đó tôi chân thành hy vọng, những chia sẻ của mình sẽ đem lại cho rất nhiều trẻ em một quãng thời gian trưởng thành thoải mái và tốt đẹp.

ĐỌC THỬ

CHƯƠNG MỘT

Tâm hồn nhỏ bé; thế giới rộng lớn

Quá trình trưởng thành của trẻ rất dài. Đã có người từng hỏi tôi rằng, bao nhiêu tuổi thì trẻ được coi là trưởng thành?

Tôi trả lời, chỉ cần mẹ còn có sức lực, hoặc nói quá một chút thì là, chỉ cần mẹ còn một hơi thở, trẻ vẫn không được coi là thực sự trưởng thành!

Thật vậy! Vậy thì đối diện với quãng thời gian trưởng thành dài dằng dặc ấy, những điều tôi muốn nói đến và những kiến nghị của tôi nên bắt đầu viết từ đâu đây? Sau khi suy đi tính lại, tôi quyết định nên viết từ độ tuổi sáu đến mười hai tuổi, cũng chính là giai đoạn nhi đồng mới nhập học theo như thuật ngữ chuyên ngành mà những người trong ngành hay gọi. Tôi để ý đến độ tuổi này của trẻ trước tiên, do một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, bắt đầu từ khi bước vào lớp Một, trẻ mới được đối mặt với “sự đua tranh” theo đúng nghĩa của nó, đồng thời kết quả của sự đua tranh ấy được tính bằng điểm số qua mỗi cuộc thi. Nó hoàn toàn không giống với sự thoải mái khi còn học ở trường mầm non. Thời còn học mầm non, mặc dù cũng có cạnh tranh, nhưng thành quả tốt xấu đều do giáo viên cảm nhận mà phán đoán. Cho nên, khi đứng trước hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy, kết quả cạnh tranh khiến người ta phải ngạc nhiên như thế, tâm hồn bé nhỏ của một đứa trẻ sáu, bảy tuổi thực sự rất cần sự dẫn dắt và bảo vệ của các bậc làm cha làm mẹ. Đồng thời, “hình tượng bản thân” mà trẻ thiết lập nên trong thời gian này cũng ảnh hưởng và tạo thành tính quyết định tới tính cách trẻ khi phải đối mặt với hoàn cảnh cạnh tranh sau này.

Thứ hai, sau khi thay đổi từ giai đoạn nhà trẻ đến giai đoạn nhi đồng phải cắp sách tới trường, cuộc sống vốn thuộc về “bản chất” của trẻ cũng có những thay đổi lớn, giờ đây nó đã chuyển sang cuộc sống “mang tính chất công việc”. Khi chưa bước vào lớp Một, bất luận là khi ở trường mầm non hay ở nhà học chữ, trẻ đều được tiến hành trong bầu không khí của những trò chơi, mặc dù thầy cô có giao bài tập về nhà cho trẻ, song bố mẹ và thầy cô đều không có thái độ quá nghiêm túc và nghiêm khắc để thực hiện điều đó. Thế nhưng, khi bước chân vào cổng trường tiểu học, tất cả các hoạt động đều trở nên nghiêm túc hơn: khi lên lớp, phải ngồi ngay ngắn theo đúng quy tắc, phải

chú ý lắng nghe thầy cô giáo giảng bài, về nhà phải

làm bài tập về nhà theo đúng quy định, còn phải tham gia các kỳ thi theo đúng nghĩa là thi. Vì vậy rất nhiều trẻ đã gặp khó khăn với việc điều chỉnh lại bản thân trong quá trình chuyển biến ở phương diện bản chất của cuộc sống, tiềm ẩn nguy cơ trẻ không phát huy hết khả năng của mình sau này.

Thứ ba, từ phương diện nhận thức và tư duy mà nói, độ tuổi nhi đồng đã từ “thời kỳ tư duy trực giác” bước vào “thời kỳ vận dụng cụ thể”, cũng chính là nói, rất nhiều sự việc biết được không nhất thiết phải hoàn toàn dựa vào khả năng quan sát và kinh nghiệm của bản thân, mà có thể biết được thông qua sự giải thích, giảng giải, lấy ví dụ của người khác. Sự thay đổi về tư duy và nhận thức này có nghĩa là thế giới của trẻ đang dần dần được mở rộng, kết cấu kiến thức cũng đang từng bước được hình thành thông qua các cách tiếp xúc khác nhau. Chính bởi vậy, nếu như có thể mở rộng khả năng nhận thức cho trẻ trong giai đoạn này, giúp trẻ thiết lập nên một khuôn mẫu tư duy về sức sáng tạo phong phú và tốt đẹp. Như vậy, dù có phải đối mặt với sự ganh đua trong học tập khắc nghiệt hơn nữa ở tương lai, tự nhiên trẻ cũng sẽ thấy dễ dàng hơn rất nhiều.

Thứ tư, đứng từ phương diện phạm vi hoạt động và cuộc sống mà nói, trọng tâm hoạt động ở độ tuổi nhi đồng đã từ gia đình mở rộng ra thành xã hội, trừ áp lực học tập ngày một nặng nề, ngoài việc tiếp xúc với người nhà, trẻ còn phải bắt đầu đối mặt với các mối quan hệ “phức tạp” giữa người với người, ví dụ như, trong lớp có thể có những bạn học sinh thích bắt nạt người khác, có thể có học sinh thích mách lẻo mọi chuyện với thầy cô giáo, có thể có bạn lại thích được thể hiện, hay thích tranh giành hiếu thắng, do đó, rất nhiều học sinh có những hành vi biểu hiện ở trong trường hoàn toàn khác với ở nhà. Giả dụ trong giai đoạn này, bố mẹ không thể nhận biết ra khó khăn con cái gặp phải trong việc giao lưu với bạn bè ở trường, để trẻ chỉ còn cách một mình chống chọi với cái trở ngại trong phương diện giao lưu giữa người và người, chính vì vậy mà tạo nên những trở ngại về cảm xúc và tâm lý, những trở ngại ấy sẽ lớn lên cùng trẻ, thậm chí ảnh hưởng đến sự tự đánh giá bản thân của trẻ và tiến trình phát triển xã hội hóa sau này.

Thứ năm, sau khi bước chân vào cổng trường cấp một, trẻ bắt đầu bước vào giai đoạn tranh luận với bố mẹ, cũng là giai đoạn bắt đầu nảy sinh những mâu thuẫn. Trong một buổi diễn thuyết với các bậc làm mẹ, tôi đã từng khiến rất nhiều bà mẹ phải rơi nước mắt. Tôi nói rằng, “sự kìm hãm” của chúng ta đối với con cái nhiều nhất cũng chỉ có hiệu lực trong khoảng sáu năm. Trước sáu tuổi, trẻ lúc nào cũng treo trên miệng câu nói, “Mẹ nói”; sáu cho đến mười hai tuổi, câu thường dùng của trẻ lại là, “Thầy giáo nói rằng”; mười hai đến mười tám tuổi, câu nói ưa thích lại trở thành, “Bạn nói rằng”; và sau mười tám tuổi nó trở thành, “Người yêu tôi nói”; sau khi kết hôn, không còn nghi ngờ gì nữa, câu nói ấy đương nhiên sẽ là, “Chồng tôi hoặc vợ tôi nói”. Cho nên, đối với các bậc làm cha làm mẹ mà nói, việc con mình chuyển ánh mắt sùng bái sang người khác là một sự thật khiến người ta buồn rầu nhưng lại không thể không chấp nhận nó, và rất nhiều những mâu thuẫn nảy sinh giữa cha mẹ và con cái thực chất cũng chính là sự đơn giản biến thành phức tạp quanh vấn đề “tranh chấp chủ quyền” mà thôi.

Thứ sáu, khi bước qua tuổi thứ sáu, việc “phát triển tính cách” cũng có những chuyển biến rõ ràng. Ở giai đoạn khoảng chừng ba bốn tuổi bắt đầu có những phát triển về tâm lý, còn ngồi học trong trường mầm non, trẻ đã bắt đầu nảy sinh cảm hứng với bạn khác giới, nhưng bước vào lứa tuổi nhi đồng, cảm xúc ấy tạm thời bị xếp sang một bên. Trẻ thường có những biểu hiện như bài xích các bạn khác giới, thích chơi cùng các bạn cùng giới với mình, thậm chí đôi khi còn tỏ ra ghét bạn khác giới. Chính vì vậy, thời kỳ này cũng được gọi với cái tên “giai đoạn thích chơi với bạn cùng giới” hoặc “thời kỳ ủ bệnh”. Ở độ tuổi này, bé trai sẽ bắt đầu bắt chước bố, bé gái bắt chước mẹ về mọi mặt trong cuộc sống, hình thành nên cái gọi là “nhận biết và bắt chước mọi hành động tâm lý của người cùng giới với mình”. Do đó, bố và con trai cần phải thân thiết với nhau, cùng nhau đi chơi bóng, câu cá, xem các cuộc đấu bóng, để con trai học được từ bố những hoạt động dành cho phái nam; còn con gái lại nên đi cùng mẹ đi chợ, đi dạo phố, trang điểm, để con gái học được từ mẹ cách làm thế nào để trở thành một cô gái. Những điều đó đều là những đặc điểm trong quá trình phát triển tính cách của trẻ, và cũng là sự chuẩn bị cho tuổi dậy thì sắp tới. Chính vì vậy, trong giai đoạn này, nếu như trẻ có thể nhận thức và bắt chước những hoạt động của giới tính mình một cách chu đáo, thì sẽ rất có lợi cho sự phát triển giới tính trong tương lai.

Đương nhiên, đến khoảng mười tuổi, sự phát triển về tính cách của trẻ lại bắt đầu có những biến đổi nho nhỏ. Chúng lại càng tỏ ra bài xích các bạn khác giới hơn, thậm chí còn có những hành vi chế giễu, gây sự, chọc ghẹo đối với các bạn khác giới. Thực ra, tất cả những biểu hiện về tính cách nêu trên đều là những chuẩn bị phòng vệ bản thân, để bước vào lứa tuổi dậy thì. Về mặt tâm lý, chúng đã bắt đầu nảy sinh tình cảm với bạn khác giới, luôn bị thu hút bởi bạn khác giới mà mình thích, nhưng đồng thời chúng lại thấy sợ hãi trước cảm giác kỳ lạ này, không biết phải làm thế nào để đối diện và xử lý nó, do vậy chỉ còn cách phản ứng càng quyết liệt hơn nhằm che giấu nỗi lo lắng trong lòng mình.

Ngoài ra, tính cách của các bé gái sẽ phát triển sớm hơn các bạn trai khoảng chừng một hai năm, sự phát dục của cơ thể cũng tương đối sớm, các bạn nam ít nhiều cũng sẽ do đó mà bị đe dọa trên phương diện cảm xúc và tâm lý, nên càng dùng những hành vi quyết liệt để bảo vệ bản thân mình, nhưng những hành động hết sức bình thường này lại dễ dàng bị các thầy cô giáo và bố mẹ hiểu sai. Nếu như chúng ta có thể hiểu động cơ tâm lý đằng sau những hành động “không bình thường” của trẻ, không những chúng ta có thể giảm bớt những tổn hại gây nên cho trẻ, mà còn có thể giảm bớt cảm giác thất bại và tự trách mình vì “không biết cách dạy con” của các bậc làm cha làm mẹ.

Ha ha, đọc xong sáu nguyên nhân tôi đã nêu trên đây, có phải các bạn đang cảm thấy hễ khoác trên vai chiếc cặp sách, bước vào cổng trường tiểu học, là bầu trời ngây thơ xinh đẹp của thiên sử nhỏ bé ngày hôm qua vẫn còn nằm trong nôi dường như sắp đổ sụp đến nơi rồi không?

Đừng lo lắng, các chuyên gia tâm lý trị liệu đều có một đặc điểm khiến mọi người không vừa ý, đó chính là “thích nói những lời dọa dẫm khiến người nghe hoảng hốt”. Trên thực tế, đại đa số quá trình trưởng thành của trẻ đều trôi qua một cách bình an và khỏe mạnh, đồng thời chỉ cần chúng ta để tâm một chút, chú ý một chút, chúng ta có thể nghe thấy rất nhiều bậc làm cha làm mẹ với vốn kinh nghiệm và sự

từng trải của mình, với trăm nỗi cảm xúc bộn bề trong lòng, thở phào một hơi trước, sau đó nói với bạn câu, “Con trưởng thành thật nhanh, chớp mắt một cái, nó đã thành người lớn rồi!”.

CHƯƠNG HAI

Câu chuyện của A Minh

Trước khi chia sẻ với mọi người về kinh nghiệm dạy dỗ con cái, tôi muốn kể một câu chuyện. Câu chuyện này xảy ra vào hai mươi tám năm trước, và cũng chính vì nhân vật chính trong câu chuyện này mà tôi đã chọn cách rời xa lĩnh vực tâm lý nhi đồng và tâm lý trị liệu, chuyển sang làm người hướng dẫn và cố vấn học sinh trong trường cấp ba.

Tôi cũng đã không nhớ được tên thật của cậu bé, chỉ nhớ rằng mọi người gọi cậu bé là “A Minh”.

A Minh có bốn cô chị gái, bố cậu là thợ gạch ngói, mẹ cậu ở nhà chăm sóc gia đình con cái. Mẹ của A Minh lúc nào cũng mong gia đình có một cậu con trai, chính vì vậy sau khi liên tục sinh ra bốn cô con gái, ở độ tuổi gần bốn mươi, với sự không ngừng cố gắng, bà lại mang thai đứa con thứ năm. Chính vì vậy, khi biết tin đứa trẻ này là con trai, gia đình họ đã vui sướng đến cuồng nộ như thế nào thì không cần nghĩ cũng biết.

Nhưng niềm vui của bố mẹ A Minh kéo dài không được bao lâu. Vì mẹ của A Minh là sản phụ cao tuổi, lại không đi kiểm tra tiền sản theo đúng quy định, nên sau khi đứa trẻ ra đời, mọi người mới phát hiện ra rằng cậu có những điểm không giống với những đứa trẻ khác. Hơn một tuổi, bác sĩ chẩn đoán cậu bé bị thiểu năng trí tuệ ở cấp độ trung, ngoài việc chậm tiếp thu và có một vài trở ngại về phương diện năng lực hành vi, cậu bé còn gặp phải khó khăn trong vấn đề ngôn ngữ.

Khi đó tôi đang làm việc trong trung tâm vệ sinh tâm lý nhi đồng của bệnh viện tổng hợp, bố mẹ A Minh được Sở Y tế địa phương giới thiệu đến trung tâm để chữa trị cho cậu, vừa khéo tôi được phân công phụ trách tiến hành tâm lý trị liệu cho cậu bé. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy A Minh là khi cậu bé mới tròn ba tuổi, cho đến tận hôm nay, tình cảnh của buổi sáng hôm ấy vẫn như hiện rõ trước mắt tôi.

Bố A Minh mồ hôi nhễ nhại, nhưng nụ cười vô cùng chất phác hiền hậu thêm phần ngượng ngùng cõng cậu con trai bước vào. A Minh mặc chiếc áo phông màu đỏ có in hình chú chuột Mickey ở trước ngực và chiếc quần đùi màu trắng. Đôi mắt cậu vừa to vừa đen, hàng mi dài, mũi tẹt tựa hồ chẳng thể nhìn thấy mũi đâu, mái tóc gọn gàng sạch sẽ được chải ngay ngắn sang một bên, giống như kiểu tóc kết hợp với bộ âu phục vậy. Cậu bé có khuôn mặt ngắn ngắn lại tròn tròn, mới nhìn trông có vẻ giống như con chó Nhật khôn ngoan và hoạt bát. Mẹ của A Minh là một phụ nữ nông thôn thật thà chất phác lại hay thẹn thùng. Tôi biết để đến Đài Bắc trị bệnh cho con, họ đã phải xuất phát từ nhà lúc năm giờ sáng, nên trên tay mẹ A Minh vẫn còn xách mấy thứ đồ to to nhỏ nhỏ, nào là hộp cơm giữ nhiệt, nào là phích nước nóng, tất cả đều được bọc vải bông kỹ lưỡng.

Từ sau hôm đó, mỗi một buổi sáng thứ Tư hằng tuần, A Minh lại được bố cõng đến trung tâm để tiến hành trị liệu, và đương nhiên mẹ cậu cũng không ngoại lệ, lần nào cũng lặng lẽ đi theo phía sau hai bố con, trên tay xách theo mấy cái hộp bọc vải hoa, nào to nào nhỏ. Mặc dù A Minh là đứa trẻ dường như không có cách nào để tự lo liệu được cho bản thân trong cuộc sống, nhưng mỗi khi đến phòng trị liệu của tôi, cậu đều mặc những chiếc ao phông màu sắc không giống nhau, song đều in hình chú chuột Mickey ở ngực, chải kiểu đầu thường phối hợp với bộ âu phục, xinh xắn và sạch sẽ, giống như chú chó Nhật thông minh vừa được tắm táp xong.

Phương pháp tâm lý trị liệu của tôi đối với A Minh chủ yếu là giúp cậu bé rèn luyện khả năng tự đảm đương những việc trong cuộc sống hằng ngày, ví dụ như, biết cách thể hiện để mẹ biết mình muốn đi đại tiểu tiện, có thể tự cầm thìa ăn cơm, và biết nói những từ đơn giản, vân vân. Đương nhiên, cũng bao gồm cả việc tôi giúp A Minh chuẩn bị trước tâm lý khi phải đối mặt với sự tò mò, chế giễu thậm chí bắt nạt của các bạn khác trong tương lai. Tiến trình trị liệu của chúng tôi rất chậm rãi, dường như phải mất khoảng hai tháng, chúng tôi mới dạy được A Minh cách cầm thìa thật chắc mà xúc đồ ăn đưa vào miệng.

Sau khoảng nửa năm chúng tôi tiến hành tâm lý trị liệu cho A Minh, một buổi sáng nọ, tôi vừa bước vào phòng làm việc, còn đang đọc và nghiên cứu các bệnh án về những người chuẩn bị gặp mặt ngày hôm đó, bất chợt nghe thấy tiếng bước chân chạy rầm rập ngoài hành lang truyền vào, sau đó thì nhìn thấy bố của A Minh, khuôn mặt đỏ bừng, lệ như mưa tuôn, cõng trên lưng cậu con trai mặc áo phông màu vàng có in hình chú chuột Mickey, chải kiểu đầu quen thuộc chạy vào, miệng không ngừng gào lớn, “Nó biết gọi bố ơi rồi, nó biết gọi bố ơi rồi!”. Chứng kiến tình cảnh này, tôi vô cùng kinh ngạc, một lúc lâu cũng không biết phải phản ứng như thế nào cho “chuẩn xác”, nước mắt lưng tròng, chỉ còn nghe tiếng A Minh vẫn đang phấn chấn mà gọi mãi không thôi, “Bố ơi, bố ơi!”.

Cuối cùng, tôi đã không thể bảo vệ được nguyên tắc “thấu hiểu nhưng không đồng cảm” mà một người làm công tác tâm lý trị liệu chuyên nghiệp nên có.

Toàn thân chấn động, tôi ôm lấy bố mẹ A Minh cũng đang chấn động hệt như mình. Chúng tôi cùng ôm lấy A Minh, vừa khóc, vừa cười, vừa nhảy loạn lên, hoàn toàn không để ý đến ánh mắt chẳng chút vui vẻ của bệnh án cùng chủ nhân của nó đã đợi tôi trong phòng trị liệu rất lâu rồi.

Sau hôm đó, mỗi sáng thứ Tư hằng tuần, tôi vẫn tiến hành công tác tâm lý trị liệu cho A Minh, nhưng tôi phát hiện ra rằng tâm tư tình cảm của mình đã có sự thay đổi rất lớn. Sự tiến triển của quá trình trị liệu cho A Minh đã bắt đầu ảnh hưởng đến cảm xúc của tôi, thậm chí tiến trình làm tâm lý trị liệu cho những đứa trẻ khác giờ đây cũng tác động đến cảm xúc của tôi. Khi đó tôi biết rằng đã đến lúc mình phải rời bỏ công việc này rồi, bởi vì tôi đã hoàn toàn không có cách nào để đối diện với một đứa trẻ đang phải chịu khổ cực bằng một thái độ khách quan và sự “thấu hiểu” chuyên nghiệp được nữa. Đứng trước những đứa trẻ như vậy, trái tim tôi sẽ cảm thấy thật xót xa, sẽ bị tổn thương rất lớn, mà đối với việc trị liệu cho bọn trẻ mà nói, thì tình cảm này của tôi vô cùng không thích hợp và không có tính xây dựng.

Do đó, tôi quyết định rời bỏ công việc này, đến bên cạnh những đứa trẻ đã có khả năng về hành vi và có khả năng bảo vệ được bản thân mình.

Hôm nay, ở cuốn sách này, vừa bắt đầu hạ bút, tôi đã quyết định kể với bạn đọc câu chuyện trên, hy vọng có thể mượn câu chuyện của A Minh để bày tỏ thái độ của tôi về vấn đề nuôi dạy con cái: “Rất nhiều lần, các bậc làm cha làm mẹ đã phải hèn mọn mà khẩn cầu cho con cái mình khỏe mạnh bình thường, vậy những người làm cha làm mẹ đã có con khỏe mạnh bình thường cũng nên vì thế mà hiểu được thế nào là lòng biết ơn, và biết cách đón nhận nó”.

CHƯƠNG BA

Bài học của não trái – Một vài nghiên cứu quan trọng liên quan đến việc phát triển tâm lý học quan đến việc phát triển tâm lý học

Trước tiên chúng ta hãy dùng não trái chủ yếu phụ trách các hoạt động lý tính để tìm hiểu về những lý luận và nghiên cứu quan trọng được coi là vấn đề then chốt và có liên quan tới sự phát triển tâm lý học. Tôi biết, đọc những lý luận này rất khô khan, thậm chí còn khiến người ta giật mình, nhưng sau khi đã hiểu rõ về chúng, có thể bạn sẽ phát hiện ra rằng quan điểm cư xử với trẻ của bạn nảy sinh một vài thay đổi nho nhỏ, đồng thời cái thay đổi nho nhỏ đó có lẽ lại chính là những thứ mà trẻ cần nhất, và hữu dụng nhất. Cho nên tôi vẫn phải nói rõ về chúng. Có điều, tôi sẽ cố hết sức để dùng những phương pháp tương đối đơn giản thoải mái để giới thiệu một cách sâu sắc về nội dung của nó; còn bạn, nhất định phải nhẫn nại kiên trì đọc hết nó.

Còn đối với việc sau khi đọc hết những lý luận và nghiên cứu ấy, chúng ta phải làm thế nào để hiểu được ý nghĩa của những lý luận đó, đồng thời vận dụng chúng như thế nào vào việc cùng hoạt động với con cái, trước tiên tôi xin mời bạn hãy tĩnh tâm một chút, sau đó hãy tìm hiểu, phân tích và suy nghĩ nhé!

Định thức tâm lý – phát huy khả năng “tín nhiệm” và “kỳ vọng” đáng quý

Định thức tâm lý hay còn được gọi là “tư duy quán tính” hoặc “hiệu ứng kỳ vọng”. Nó dùng để chỉ: Trạng thái chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đối với một hoạt động nhất định của chủ thể. Chủ thể có thể dựa vào trạng thái tâm lý đã chuẩn bị sẵn sàng này để quyết định phương hướng của hoạt động, đồng thời dựa vào đó để phản ánh trong quá trình và kết quả của hoạt động.

Có một thí nghiệm vô cùng nổi tiếng và thú vị có thể giải thích rõ cho hiện tượng này. Thí nghiệm ấy do một nhà tâm lý học người Mỹ nổi tiếng, và cũng là giáo sư trong trường Đại học Harvard mang tên Robert Rosenthal tạo lập nên vào năm 1963. Mục đích của thí nghiệm nhằm nỗ lực chứng minh sức mạnh của “phiến diện”, đồng thời sức mạnh này còn có khả năng ảnh hưởng tới kết quả học tập.

Trong thí nghiệm này, ông đã phân những học sinh tham gia vào cuộc thí nghiệm ra làm hai nhóm, đồng thời đưa cho mỗi nhóm một con chuột bạch có trí lực và thể lực hoàn toàn giống nhau, sau đó yêu cầu các học sinh dạy cho con chuột bạch này cách đi trong một mê cung. Nhưng, trước khi cuộc thí nghiệm bắt đầu, ông đã cố ý nói với một nhóm học sinh trong đó, rằng con chuột bạch mà nhóm được nhận là con chuột đã được chọn lựa kỹ càng, không chỉ thông minh mà còn có sức khỏe vô cùng tốt; sau đó ông lại đi nói với nhóm còn lại rằng con chuột của nhóm này là con chuột chuẩn bị đào thải, vì vậy trong quá trình chọn lựa, chúng đều có những phản ứng thể hiện rõ sự ngu ngốc của mình về cả thể lực và trí lực.

Kết quả là, sau khi các học sinh đã dùng một khoảng thời gian và phương pháp dạy con chuột bạch đi trong mê cung trong phòng thí nghiệm hoàn toàn giống nhau, mọi người đã phát hiện ra rằng, tốc độ con chuột bạch đi trong mê cung của nhóm được nói rằng con chuột của nhóm mình thông minh lanh lợi nhanh hơn rất nhiều so với con chuột của nhóm bị nói rằng con chuột của nhóm mình ngu dốt đần độn, đồng thời biểu hiện trên khả năng học tập cũng mạnh hơn rất nhiều.

Kết quả của lần thí nghiệm này đương nhiên không nằm ngoài dự liệu của Robert Rosenthal. Giải thích của ông về kết quả của cuộc thí nghiệm như sau: Thu được kết quả này là bởi người làm thí nghiệm ôm ấp một kỳ vọng và tín nhiệm tương đối cao đối với con chuột bạch được cho là thông minh, do đó thái độ trong quá trình huấn luyện tương đối thân thiện, ôn tồn; còn một đội khác tâm lý đã mang theo cái nhìn phiến diện từ trước, nên thái độ đối với con chuột bạch ngu ngốc này luôn là gắt gỏng, không thể kiên nhẫn thêm được nữa, do đó đã ảnh hưởng đến cảm xúc học tập của con chuột bạch, đồng thời tiến thêm một bước là ảnh hưởng đến khả năng học tập của chúng.

Để tiến thêm một bước chứng minh cái giả thiết “phiến diện sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập” là đúng, vào năm 1968, Robert Rosenthal đã cùng đồng nghiệp của mình tên là Jacobson đến một ngôi trường tiểu học ở miền Trung nước Mỹ, từ trong các khối từ Một đến Sáu của trường, mỗi khối họ chọn ra học sinh của ba lớp để tham gia vào cuộc thí nghiệm. Đầu tiên, họ cho các học sinh này làm một cuộc trắc nghiệm mang tên “đoán trước về sự phát triển trong tương lai”. Sau khi có được kết quả của bài trắc nghiệm, họ lại chọn ra ngẫu nhiên một vài cái tên từ đám học sinh tham gia làm bài trắc nghiệm, sau đó vờ như danh sách này là danh sách những học sinh có “khả năng phát triển hơn hẳn những người khác”, rồi đưa cho giáo viên, còn làm như thể có thật mà dặn dò các thầy cô giáo một lần nữa rằng tuyệt đối không được để lộ tên học sinh trong danh sách đó ra ngoài.

Tám tháng sau, Robert Rosenthal và Jacobson lại quay về ngôi trường tiểu học này, gọi tất cả các học sinh lần trước đã tham gia thí nghiệm đến và yêu cầu làm bài trắc nghiệm trí tuệ một lần nữa. Kết quả phát hiện rằng, trí tuệ và năng lực của những học sinh có tên trong danh sách “học sinh vượt trội” giả chọn ngẫu nhiên lần trước được nâng cao hơn một chút so với những học sinh khác, đồng thời quan trọng nhất chính là, trên phương diện biểu hiện cảm xúc tình cảm, chúng rõ ràng cũng trở nên hoạt bát, cởi mở, ham học hỏi, tích cực phối hợp cùng các thầy cô giáo trong mọi lĩnh vực, tình cảm nồng nàn.

Giải thích của Robert Rosenthal về k ết qu ả cuộc thí nghiệm lần này cũng giống như lần thí nghiệm trước. Ông cho rằng, mặc dù những thầy cô giáo có danh sách học sinh trong tay không hề tiết lộ ra ngoài, mà luôn giấu kín nó ở trong lòng, nhưng họ không giấu nổi sự tín nhiệm và kỳ vọng vào những học sinh ấy, thông qua ánh mắt, nụ cười, giọng nói và ngôn ngữ cơ thể, các thầy cô giáo cũng có thể làm ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh, khiến những bạn học sinh đó càng thêm tự tin vào bản thân mình, và càng có động lực và niềm say mê mỗi khi đến lớp hơn.

Kết quả của lần thí nghiệm này chính là “hiệu ứng Robert Rosenthal” (Robert Rosenthal Effect) nổi tiếng trong lĩnh vực tâm lý học giáo dục, hoặc được biết đến với tên gọi “hiệu ứng kỳ vọng”. Đương nhiên, nó đã mang đến cho giới giáo dục một sự suy ngẫm vô cùng lớn, khiến các thầy cô giáo hiểu rằng, sự tín nhiệm và kỳ vọng cùng với thái độ đối xử với học sinh của chúng ta kỳ thực chính là một nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến kết quả học tập của trẻ.

Nhưng, điều tôi muốn đặc biệt chỉ ra ở đây chính là “hiệu ứng Robert Rosenthal” có thể là đi đúng hướng, nhưng cũng có thể là đi lệch hướng (hãy nhớ lại những con chuột bạch bị khoác lên mình cái tiếng “loại kém” và những học sinh không có tên trong danh sách học sinh có tiềm năng). Ngoài ra, do bị hạn chế bởi hiện thực khách quan, nền giáo dục tiểu học hiện hành của Trung Quốc hoàn toàn không giống với các quốc gia Âu Mỹ, một lớp chỉ bao gồm hơn m ư ờ i h ọ c s i n h , c h o n ê n v iệ c c h ú n g t a m o n g đ ợ i đ ộ i ngũ giáo viên có thể hiểu được sức mạnh của “hiệu ứng Robert Rosenthal”, đối xử công bằng với mấy chục học sinh trong một lớp, trên thực tế cũng có độ khó nhất định.

Cho nên, tôi càng hy vọng hơn rằng các bậc làm cha làm mẹ hoặc những người lớn khác trong gia đình có thể hiểu được “hiệu ứng Robert Rosenthal”. Bởi vì thời gian trẻ ở cùng chúng ta nhiều hơn, mà đối tượng để lứa tuổi nhi đồng có thể tìm kiếm sự đồng cảm, ngoài người thầy giáo có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến trẻ ra, thì các bậc phụ huynh cũng không thể đổ trách nhiệm cho người khác.

Căn bệnh bi quan – hãy chia cả con đường mơ ước dài dằng dặc thành những nấc thang có thể cố gắng bước lên được

“Căn bệnh bi quan” là cụm từ chuyên ngành thường được dùng đến trong chẩn đoán bệnh, khi chúng tôi phải đối diện với một đứa trẻ đang gặp khó khăn trong học tập. Nó dùng để chỉ, sau khi một cá thể đã trải qua một môn học nào đó, vì gặp phải những tình cảnh không mấy vui mừng mà có những biểu hiện tiêu cực hoặc trạng thái tâm lý đặc thù trên phương diện tình cảm và nhận thức. Có hai thí nghiệm có thể nói rõ về phản ứng tâm lý đặc thù này.

Trong lần thí nghiệm đầu tiên, người thí nghiệm đã thả một con bọ chét vào chiếc cốc thủy tinh để ngỏ miệng, kết quả là không bao lâu, con bọ chét đó đã có thể nhảy ra khỏi chiếc cốc. Sau nhiều lần làm như vậy, người thí nghiệm lại thả con bọ chét vào trong một chiếc cốc thủy tinh, nhưng đến lần này, người thí nghiệm đã cho thêm một cái nắp bằng thủy tinh dày lên miệng cốc. Con bọ chét vẫn cho rằng lần này vẫn có thể dễ dàng nhảy ra khỏi chiếc cốc, thế nhưng nó không ngờ rằng, khi nhảy lên lại bị cái nắp phía trên cản trở và rơi xuống dưới. Con bọ chét không hề nhụt chí, lại cố gắng nhảy tiếp mấy lần lên phía trên, thế nhưng lần nào cũng bị nắp cốc chắc chắn kia đẩy ngược trở lại xuống dưới.

Cuối cùng, con bọ chét cũng nản chí ngã lòng, không muốn nhảy lên thêm lần nào nữa, cho dù người làm thí nghiệm đã lấy cái nắp ra khỏi chiếc cốc rồi, còn cố ý dụ dỗ để bọ chét nhảy tiếp lên, nhưng khi con bọ chét nhảy tiếp lên, nó cũng chỉ có thể nhảy được đến độ cao cách miệng cốc một đoạn an toàn, không dám thử nhảy cao hơn lên phía trên một lần nào nữa.

Một đối tượng thí nghiệm khác chính là chú chó nổi tiếng của giáo sư tâm lý học trong trường Đại học Pennsylvania nước Mỹ mang tên Martin E. P. Seligman. Martin E. P. Seligman đã nhốt con chó vào trong một chiếc lồng đã được cài khóa, đồng thời lắp một cái loa bên cạnh chiếc lồng đó. Chỉ cần mỗi lần loa kêu, tấm lưới sắt của chiếc lồng sẽ được tiếp nối với một dòng điện lưu, độ mạnh của dòng điện lưu này đủ để khiến chú chó cảm thấy đau, nhưng không thể làm hại đến thân thể của nó.

Lúc đầu, khi loa phát ra âm thanh, chú chó bị giật điện và chạy loạn khắp trong chiếc lồng, ra sức tìm kiếm một lối thoát hòng thoát thân. Thế nhưng, sau khi thử qua vài lần đều không thành công, chú chó đã hoàn toàn tuyệt vọng, và thôi không còn chạy loạn nữa. Mặc dù cái loa vẫn cứ kêu, dòng điện lưu vẫn cứ đánh vào người, nhưng chú chó vẫn chỉ nằm im ở đó lặng lẽ chịu đau, mà không cật lực tìm cách đào thoát như trước nữa.

Sau đó, Martin E. P. Seligman chuyển chú chó sang chiếc lồng khác to hơn, ở giữa chiếc lồng này có một tấm ngăn, ngăn chiếc lồng ra làm hai, một bên nối với điện, một bên không nối với điện, đồng thời độ cao của tấm ngăn đủ để cho chú chó có thể dễ dàng nhảy qua được. Martin E. P. Seligman đã nhốt một chú chó trước giờ chưa phải trải qua một thí nghiệm nào cùng với chú chó đã được làm đối tượng thử nghiệm trước đó ở trong cùng một bên có nối với điện để đối chiếu. Khi loa phát ra âm thanh, lồng sắt được truyền điện, sau cơn hoảng hốt trong thời gian ngắn của hai chú chó được lấy ra đối chiếu, chúng bắt đầu nhảy loạn lên, chạy đến nơi an toàn để ẩn nấp. Thế nhưng, con chó đáng thương đã từng trải qua thí nghiệm lại chỉ có thể mở to mắt nhìn bạn của mình dễ dàng vượt qua được hàng rào và sang được bên kia của chiếc lồng, còn bản thân thì nằm im trong lồng, không dám thử thêm lần nào nữa.

Tôi biết, thí nghiệm này nghe có vẻ rất tàn nhẫn, đối với những người yêu quý động vật mà nói thì nó tàn khốc đến mức không thể tưởng tượng nổi. Song, nếu như chúng ta đối chiếu kết quả của thí nghiệm này lên người bọn trẻ, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, chúng ta đối xử với những đứa trẻ có thành tích học tập tương đối kém cũng tàn nhẫn giống như đối xử với chú chó phải chịu thí nghiệm kia.

Những học sinh có thành tích học tập không cao, biểu hiện không tốt trong nhà trường cũng giống như chú chó bị nhốt trong lồng sắt vậy, nó đã từng cố gắng tìm cách thoát ra, thử mọi cách để chiến đấu với hoàn cảnh, thế nhưng khi phát hiện ra bản thân mình chỉ là “lực bất tòng tâm”, hoặc khi bị điện giật quá mạnh, hoàn toàn vượt xa sức chịu đựng của bản thân, trẻ sẽ bi quan mà vứt bỏ mọi đấu tranh và nỗ lực. Trẻ có thể chấp nhận rằng bản thân mình không đủ khả năng, không chịu cầu tiến, cứ thế lặng lẽ chịu đựng nỗi đau của thất bại; cũng có thể do đó mà sau này bản thân đứa trẻ sẽ có thay đổi lớn, nó thà chọn một thành tích thấp, còn hơn phải chịu đòn tấn công của thất bại lần nữa.

Cho nên, chúng ta có thể kiểm tra kỹ lưỡng lại một lần nữa những mục tiêu mình đưa ra cho trẻ, đồng thời giúp trẻ chia con đường dài cần đi đến điểm đích thành những đoạn mà trải qua quá trình nỗ lực nhất định, trẻ có thể vượt qua hay không?

Gán ghép ý nghĩ của mình cho người khác – tránh cách nghĩ chủ quan, phiến diện rằng “chắc chắn là như vậy”

“Gán ghép ý nghĩ của mình cho người khác” có lẽ là một cơ chế tâm lý mà vô tình chúng ta biểu hiện ra thường xuyên nhất trong đời sống hằng ngày. Trong tâm lý học, nó chỉ một người vô tình áp đặt những đặc trưng, cá tính của bản thân mình như ý nghĩ, thái độ, ước mơ, tình cảm vào những sự vật xung quanh hoặc vào người khác, và cứ thế tạo thành sự ảnh hưởng lên nhận thức.

Trước đây, trong phòng trị liệu hôn nhân của mình, khi đối diện với cặp vợ chồng gặp khúc mắc trong hôn nhân, tôi thường phát hiện ra rằng “gán ghép ý nghĩ của mình cho người khác” chính là một trong những nhân tố quan trọng nhất gây nên trở ngại trong việc nói chuyện cùng nhau. Nếu như hai vợ chồng ai cũng cố chấp, khăng khăng giữ lập trường rằng “ý nghĩ ban đầu là đúng” (nhưng theo đúng lương tâm mà nói, người phụ nữ đang lún sâu trong cảm xúc thường dễ dàng phạm phải lỗi này), khi nói chuyện thường sẽ anh nói của anh, tôi nghe của tôi, kết quả dù có nói chuyện hàng giờ thì cũng chẳng ai hiểu được những điều đối phương muốn nói.

Khi đối diện với con, đặc biệt là đối diện với việc học hành trường lớp hoặc kỹ năng học tập của con, bởi vì giữa hai bên có sự chênh lệch rất lớn về quyền hạn, nên các bậc làm cha làm mẹ cũng rất dễ dàng sử dụng cơ chế tâm lý “mình luôn đúng” để đứng ở địa vị bề trên dạy dỗ bề dưới.

Nước Mỹ có một câu chuyện ngụ ngôn nói về cơ chế tâm lý đó như thế này: Ở bên ngoài một căn phòng lớn, bốn mặt bao bởi những tấm cửa kính chạm đất, vô cùng đẹp mắt, có một chú chim rất muốn vào được căn phòng đó. Mỗi ngày, chú chim ấy đều ra sức bám riết không thôi mà lao vào tấm cửa kính kia, thế nhưng lần nào cũng không thành công, mà mỗi lần lao vào cánh cửa kính xong, chú chim đáng thương đó lại ngã lăn trên bệ cửa sổ. Thực ra, bên cạnh chiếc cửa kính dài chạm đất ấy rõ ràng có một cánh cửa vẫn luôn mở, thế nhưng chú chim nọ luôn luôn nhắm chặt mắt mà lao vào tấm cửa kính, hoàn toàn không phát hiện ra ô cửa luôn luôn mở rộng đó.

Nhìn thấy hành động ngốc nghếch ấy của chú chim kia, những người qua đường đều buồn bã mà chế giễu rằng, “Xem kìa, đúng là chú chim ngốc nghếch, lẽ nào chú ta không bi ết rằng bên cạnh có một cánh cửa đang mở đó hay sao? Sao chú ta c ó thể ngốc đến như thế nhỉ!”.

Vào một ngày, có một cụ già đi ra ngoài với một cái ống nhòm, vô tình đã chĩa ống nhòm về phía con chim ngốc. Sau khi quan sát tỉ mỉ hành vi của chú chim kia qua kính viễn vọng, ông ấy đã hết sức ngạc nhiên phát hiện ra rằng, hóa ra chú chim ngốc nghếch ngày ngày nhắm chặt mắt lao đầu vào tấm cửa kính kia kỳ thực không hề muốn vào trong căn phòng đó. Thực ra chú chim ấy đang vui vẻ mà mổ con côn trùng đang dính chặt trên tấm cửa kính, đồng thời thỏa mãn nằm dài trên bệ cửa để thưởng thức đồ ăn ngon!

Tôi rất thích câu chuyện ngụ ngôn này, bởi vì trong quá trình giải quyết rất nhiều vụ có khó khăn về tình cảm hoặc có những hành vi mang tính cố chấp, bất luận là học sinh tiểu học hay học sinh cấp hai, cấp ba, tôi thường xuyên gặp trường hợp phụ huynh và học sinh mâu thuẫn và bất đồng quan điểm với nhau về vấn đề học cái gì. “Tôi biết nó rất thông minh, nhưng nó không chịu chăm chỉ học hành!”, “Tôi biết nó rất thích, nhưng nó cố tình chống đối với tôi!”, “Tôi là mẹ nó, lẽ nào tôi không biết nó thích cái gì sao?” Bản thân tôi cũng là một người mẹ, đương nhiên cũng muốn con cái của mình giỏi giang nên người, thành ông nọ bà kia, thế nhưng vấn đề là, liệu rằng ông nọ bà kia trong lòng chúng ta có phải là ông nọ bà kia mà con cái chúng ta muốn trở thành?

Có một ví dụ thực tế trong sách quản lý học thường xuyên dùng để giải thích về kỹ năng giao tiếp, tôi rất muốn nói lại một lần nữa ở đây, để chúng ta hiểu rõ thêm về những “hiểu lầm” dẫn đến việc gán ghép ý nghĩ của mình cho người khác trong cuộc sống.

Có một lần, trong chương trình Talk show11ở Mỹ, người dẫn chương trình Linklater đã phỏng vấn một cậu bé rằng, “Sau này lớn lên, cháu muốn làm nghề gì?”. Cậu bé chẳng chút phân vân mà trả lời ngay rằng: “Cháu muốn trở thành một phi công”.

Để kiểm tra tốc độ phản ứng của cậu bé, đồng thời cũng để tăng thêm hiệu quả cho chương trình, Linklater tiếp tục hỏi: “Nếu như có một ngày, máy bay của cháu đang bay trên bầu trời, ở dưới là biển cả mênh mông, thì đột nhiên tất cả các động cơ đều ngừng hoạt động, khi đó cháu sẽ xử lý như thế nào?”.

Cậu bé nghĩ một lúc, sau đó trả lời, “Cháu sẽ bảo tất cả mọi người đang ngồi trên máy bay hãy thắt chặt dây an toàn, sau đó cháu sẽ nhảy ra ngoài cùng chiếc dù trên lưng cháu”.

Vừa nói xong câu đó, cả khán phòng lập tức dấy lên một loạt những tiếng xì xào không giống nhau, có người không nhịn nổi cười bởi câu trả lời ngây thơ trẻ con của cậu bé, kẻ lại thở dài lắc đầu trước hành động nhát gan, ích kỷ của cậu bé. Nhưng, sau khi những tiếng ồn ấy dần lắng xuống, khán giả lại ngạc nhiên nhìn thấy cậu bé vẻ mặt thương xót, nước mắt viền mi, tiếp tục nói, “Bởi vì cháu phải nhanh chóng nhảy xuống lấy nhiên liệu!”.

Chính vì vậy, khi chúng ta cho rằng đã rất hiểu con cái, chúng ta thật sự hiểu chúng hay là đang dùng tâm lý “gán ghép ý nghĩ của mình cho người khác” mà cho rằng mình hiểu chúng?

1. Là một chương trình truyền hình hoặc phát thanh mà một nhóm người ngồi lại với nhau để thảo luận một số chủ đề mà người dẫn chương trình đưa ra. Thông thường, các Talk show có một ban (panel) khách mời hiểu biết rõ hoặc có nhiều kinh nghiệm liên quan đến vấn đề đang được thảo luận trong chương trình đó.

Nhận thức và góc nhìn nhận thức – tôn trọng sự phát triển về nhận thức của trẻ, nắm chắc cách thức dạy dỗ có chừng có mực

Khi học tâm lý học lứa tuổi nhi đồng ở trường, tôi bị ảnh hưởng rất sâu sắc về lý luận của một bậc thầy về tâm lý học lứa tuổi nhi đồng người Thụy Sỹ tên là J. Piaget. Lý luận của ông ấy ngoài việc giúp tôi hiểu thêm về các giai đoạn phát triển ở lứa tuổi nhi đồng, mà quan trọng nhất chính là, nó đã giúp tôi hiểu được rằng làm thế nào để dựa theo sự phát triển về nhận thức và góc nhìn nhận thức của trẻ để có những biện pháp bắt chẹt, trừng phạt và dạy dỗ thích hợp, có chừng có mực.

Trong lý thuyết phát triển nhận thức và góc nhìn nhận thức luận ở lứa tuổi nhi đồng của ông ấy, có hai câu chuyện về phép đối vô cùng nổi tiếng như sau:

A: Có một cậu bé mang tên Sylical. Bố của cậu bé vắng nhà. Cậu bé cảm thấy lọ mực của bố mình rất thú vị, nên đã nghĩ ra trò lấy cái bút máy đặt trên bàn học của bố hút mực vào đó. Thế nhưng, đang nghịch, cậu bé đã vô tình làm mực dính đầy lên chiếc khăn trải bàn khiến nó trở thành một màu đen.

B: Có một ngày, cậu bé Augustus phát hiện ra mực trong lọ của bố đã cạn. Sau khi bố đi ra ngoài, cậu bé muốn đổ đầy mực vào trong lọ, để khi bố trở về bố có thể dùng ngay lập tức. Thế nhưng, khi mở nắp lọ ra, cậu bé đã vô tình làm đổ mực lên chiếc khăn trải bàn, khiến nó trở thành một màu đen.

J. Piaget hỏi rằng:

1. Sự sơ suất của hai cậu bé này có giống nhau không?

2. Trong hai cậu bé, ai hư hơn, vì sao?

Ông ấy còn đưa ra một câu chuyện về phép đối khác nữa:

A: Có một cô bé tên là Marry. Mẹ của cô bé vắng nhà, cô bé cảm thấy mấy chiếc cốc thủy tinh trên bàn rất thú vị, bèn lấy chúng xuống chơi, sau đó vì không cẩn thận, cô bé đã làm vỡ mất một chiếc.

B: Có một cô bé tên Nini muốn giúp mẹ làm việc nhà. Vào một ngày mẹ vắng nhà, Nini liền mang cốc chén đi rửa giúp mẹ, thế nhưng, cô bé đã làm vỡ mất ba chiếc cốc.

J. Piaget lại hỏi:

1. Sự sơ suất của hai cô bé này có giống nhau không?

2. Trong hai cô bé, ai hư hơn, vì sao?

Bạn có biết vấn đề của bọn trẻ đối với hai câu chuyện kể trên trả lời thế nào không?

Dựa vào phản ứng của trẻ, J. Piaget đã khái quát nên một quy luật phát triển về góc nhìn nhận thức của lứa tuổi nhi đồng: Sự phát triển về góc nhìn nhận thức của lứa tuổi nhi đồng cơ bản chia làm hai giai đoạn. Trước mười tuổi, những phán đoán của trẻ về hành vi đạo đức chủ yếu dựa theo tất cả những tiêu chuẩn bên ngoài do người khác đặt ra, đồng thời, chúng sẽ dựa theo hậu quả của hành vi mà phán đoán về đúng sai của hành vi ấy, mà không nghĩ đến động cơ dẫn đến hành vi đó. Giai đoạn này chúng ta gọi là “giai đoạn phát triển nhận thức do lực lượng bên ngoài quyết định”.

Nhưng khi mười tuổi trở đi, trẻ bắt đầu dựa vào những tiêu chuẩn bên trong của bản thân để suy nghĩ và phán đoán về các hành vi đạo đức, đồng thời nhận thức được rằng động cơ của hành vi quan trọng hơn nhiều so với kết quả. Giai đoạn này, các nhà tâm lý học lứa tuổi nhi đồng gọi là “giai đoạn phát triển nhận thức do chính bản thân mình quyết định”.

Chính vì vậy, một đứa trẻ dưới mười tuổi sẽ có khuynh hướng cho rằng ai làm diện tích vết bẩn ở khăn trải bàn càng lớn, ai làm vỡ chén càng nhiều thì đứa trẻ đó hư hơn; còn trẻ mười tuổi trở lên đã có thể nghĩ được rằng bất luận kết quả có như thế nào, chỉ cần động cơ của đứa trẻ nào đúng đắn hơn thì đứa trẻ ấy sẽ là đứa trẻ có thể tha thứ được.

Cho nên, nếu như chúng ta đã hiểu tiến trình phát triển nhận thức và góc nhìn nhận thức của nhi đồng mà J. Piaget muốn nói với chúng ta, vậy thì có phải chúng ta sẽ càng chú ý hơn đến lời nói và hành động của bản thân đối với trẻ, càng hiểu rõ hơn nên làm thế nào để củng cố nguyên tắc và tiêu chuẩn giáo dục, đồng thời càng rõ hơn trước khi trách phạt, trước tiên phải tìm hiểu xem đằng sau việc làm ấy có động cơ tâm lý nào không?

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *