Trang chủ / Văn học nước ngoài / Sống Khó Hơn Là Chết

Sống Khó Hơn Là Chết

1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả : Trung Trung Đỉnh

Download sách Sống Khó Hơn Là Chết ebook PDF/PRC/EPUB/MOBI. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

2. DOWNLOAD

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ? Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

TRUNG TRUNG ĐỈNH, NGƯỜI LẠC PHỐ.

(Thay lời tựa)

Trong ấn tượng của tôi, Trung Trung Đỉnh lúc nào cũng có cái vẻ ngơ ngác. Dường như sau bao năm chiến tranh ở vùng rừng núi Tây Nguyên về, nhà văn gốc Hải Phòng này vẫn còn bị ám ảnh bởi những lần chui rúc trong rừng…

GIẢI PHÓNG RỒI MÀ CHÚNG MÀY KHÔNG BIẾT À?

Yên-Ba (Y.B): Thưa anh Trung Trung Đỉnh! Trong giới nhà văn-chiến sỹ có lưu truyền một câu chuyện khá hy hữu rằng anh là nhà văn duy nhất không biết đất nước đã giải phóng trong khi đang ở chiến trường! Thực hư của chuyện đó ra sao?

Trung Trung Đỉnh(T-T.Đ).: Chuyện đó có thật và cũng đơn giản thôi. Vào cuối năm 1974, mấy tháng trước khi bắt đầu chiến dịch Tây Nguyên, tôi đang là lính ở tỉnh đội, được gọi ra quân khu để học một khoá chiếu bóng. Địa điểm tập trung tại Trà My, vùng Nước Oa Nước Ồ tỉnh Quảng Nam. Anh em về tập trung trình độ không đều nhau lắm, lại có người về trước, người về sau, bao nhiêu khó khăn về nơi ăn chốn ở, phải mất hàng tháng mới khắc phục được. Tuy nhiên khoá học vẫn được tiến hành. Trước khi mãn khoá, một số ở xa như chúng tôi được lệnh chờ ở trạm để trên có thể trưng dụng đi phục vụ cho chiến trường. Thời gian chờ đợi lại không xác định được nên ăn không ngồi rồi mãi cũng chán, tôi bèn rủ anh RơMahChuốt người GiaRai và một anh lính của Trạm, người HRê đi săn, cũng tính lấy ít thịt cho Trạm giao liên. Anh trạm trưởng đồng ý ngay và cấp cho ba anh em tôi mỗi người khoảng 20 cân gạo, 5 cân muối. (Đó là cả một tài sản lớn) và bảo, cứ săn được càng nhiều thịt càng tốt. Bao giờ có lệnh thì anh cho người vô rừng gọi về. Cả tốp đi sâu vào trong rừng. Khi đi anh Chuốt có cái đài bán dẫn, nhưng bắt sóng rất yếu, chúng tôi chọc ngoáy mấy bận thì hỏng luôn. Thế là mù tịt thông tin! Chính đó là thời điểm đánh Buôn Ma Thuột đầu tháng 3 năm 75. Đến cuối tháng 5, thấy thịt nhiều rồi, lại hết muối gạo, nên quyết định ra, đưa thịt về. Coi như là ở trong rừng suốt cả tháng 3, tháng 4 và tháng 5, đầu tháng 6 mới mò ra. Khi ra, vẫn nghĩ là còn địch, nên rất cẩn thận đề phòng biệt kích. Ba anh em “bám địch”, mò vào một cái làng dân tộc ở Trà My thấy vắng tanh. Ba thằng bám ra rẫy thấy một ông già đang say rượu nằm ngủ ở đấy. Hỏi ông ấy thì ông ấy bảo: giải phóng lâu rồi mà chúng mày không biết à? Tụi mày ở đâu ra thế này! Lúc đó, cả ba thằng có bao nhiêu đạn, chĩa súng lên trời bắn sạch…Sướng quá mà! Bắn hết đạn rồi, mới rủ nhau về Trạm. Đi mất hai ngày liền, về đến nơi thì Trạm cũng chuyển đi đâu mất rồi. Mãi sau mới gặp xe tải quân mình lên chuyển đồ từ chiến khu về, thế là theo xe về Đà Nẵng. Lúc ấy Đà Nẵng cũng như tất cả miền Nam đều đã được giải phóng. Tôi tìm chỗ các anh văn nghệ của quân khu chơi, gặp mấy bố đang uống rượu ở nhà số 1B Ba Đình. Lúc đó nhà thơ Trần Vũ Mai mới từ Pleiku về đang kể chuyện hăng lắm. Nói thật là lúc đó, với tâm trạng của một thằng lính, tôi ngượng quá! Cả một thời gian dài, chiến dịch lớn thế mà không biết tý ty gì, ở mãi trong rừng! Sau đó tôi về Pleiku. Lúc đó tỉnh đội Kon Tum và tỉnh đội Gia Lai đang sát nhập vào với nhau. Tôi về, được phân công làm đội trưởng đội chiếu bóng. Thế là bắt đầu công việc đi chiếu bóng cho các địa phương. Không khí sôi nổi hào hứng lắm…

Y.B: Điều gì sau đó khiến anh cầm bút viết văn?

T.Đ: Hồi ấy, khi đang làm chiếu bóng, tôi đã quyết tâm ôn thi đại học. Tôi nghĩ: học gì cũng được, nhưng mà phải đi đại học. Đến giữa năm 1977 thì có Trường Đại học Văn hoá mở ở Đà Nẵng, cơ quan chọn tôi đi học về thư viện. Tôi mừng vô cùng! Hồi ấy tôi làm thơ nhiều, viết văn xuôi còn ít lắm! Tôi tiếc nhất là chuyện không giữ được sách. Lúc bấy giờ tôi khá thân với ông Thiệu phó ty văn hoá. Bên ấy truy thu các loại văn hoá phẩm của chế độ cũ, sách thu về xếp cả kho, tôi được đặc cách chọn sách quý khuân về, cho vào mấy cái tủ sắt cất kỹ. Đi chiếu bóng, hễ cứ rỗi tí nào là đọc sách. Toàn sách dịch thôi! Đọc nhiều, đọc liên tục. Đọc mờ cả mắt! Đọc sướng lắm! Đó chính là thời gian tôi đọc được nhiều sách nhất, đủ loại, từ văn học cho đến Kinh Thánh… Nhất là những nhà văn được giải Nobel. Hồi ấy ở miền Bắc làm gì có! Mấy hôm trước khi xuống Đà Nẵng nhập học, tranh thủ lúc tôi đi vắng, anh em ở nhà khuân hết mấy tủ sách của tôi ra sau vườn, kê đá lên rồi chất lửa đốt sạch. Mấy ông tướng ấy thương mình thôi, sợ mình đem đống sách ấy về Đà Nẵng thì bị kỷ luật, vì toàn là sách của địch(!). Thế là về Đà Nẵng chẳng còn gì cả! Lúc đó tôi đang viết một cái trường ca. Cũng không nghĩ là tham gia vào tầng lớp văn nghệ ở Đà Nẵng lúc ấy đâu, nhưng do quen biết nên tôi cũng hay đến chỗ các anh ấy chơi. Thực ra các anh Bùi Minh Quốc, Thu Bồn đã lên Giai Lai tìm tôi mấy lần mà không gặp. Sau giải phóng, mấy anh cũng chỉ biết tôi đang là lính ở trên đó. Thế rồi tôi đến gặp nhà văn Nguyễn Chí Trung, ông hỏi: “Bây giờ em đang ở đâu?” Tôi trả lời: “Báo cáo thủ trưởng, em đang học thư viện.”. Anh ấy bảo: “Bây giờ không học hành gì nữa hết, em mang ba lô về ngay trại sáng tác, học hành tính sau.”. Rồi anh ấy hỏi: “Có biết uống rượu không?” Tôi sốt săng: “Dạ có. Em với thủ trưởng đi làm vài li nhé?”. Không ngờ anh ấy gầm lên: “ở đây không rượu chè gì hết, uống rượu là tôi trả về Gia Lai ngay! ở đây chỉ có sáng tác thôi! Theo mấy ông Thái Bá Lợi, Thu Bồn, Thanh Thảo, là không được!”. Tôi sợ quá vâng dạ liên hồi. Thủ trưởng lại hỏi: “Thế em biết đi xe máy không?” Tôi biết chứ, nhưng vừa bị quạt vì vụ rượu nên rút kinh nghiệm trả lời: “Không! Báo cáo thủ trưởng không ạ!”. Anh Nguyễn Chí Trung lại gầm lên: “Giải phóng mấy năm rồi, thế anh làm cái gì mà không tập để biết đi xe máy?…”. Tôi đành thú thật là có biết đi. Anh dẫn tôi vào quân khu làm thủ tục, nhanh như ta nấu một bữa cơm vậy. Xong xuôi, anh ấy bảo: “Bây giờ em lên “cắm” ở Tây Nguyên thôi, địa bàn của em đấy! Phải “cắm” sâu mới viết được”. Thế là tôi lại khoác ba lô “ngược”! Tôi bám các đơn vị đang phá rừng làm kinh tế mới để viết. Rồi theo các đơn vị đánh Fulrô và lên chốt đánh Pôn Pốt. Mấy năm ròng nằm ở biên giới Tây Nam cùng anh em Trung đoàn 95, chẳng còn biết hoà bình nó ra làm sao nữa. Mãi đến khi giải phóng xong CămPuChia tôi mới được về Gia Lai. Lúc đó coi như văn nghệ sĩ đi thực tế rồi, không phải là lính tráng như hồi trước nữa! Oách lắm! Và tôi bắt đầu viết các truyện ngắn…

ĐỌC THỬ

TOÀN BỘ NHỮNG TÁC PHẨM CỦA TÔI ĐỀU VIẾT BẰNG KÝ ỨC

Y.B: Vậy là toàn bộ ký ức của những năm tháng ở rừng ấy, có phải là chất liệu để anh viết cuốn Lạc Rừng không?

T.T.Đ: Thực ra mà nói, toàn bộ những tác phẩm của tôi chủ yếu là viết bằng ký ức. Bịa bằng ký ức! Tôi có một cái may là sau giải phóng khoảng 3, 4 năm liên tục được đọc rất nhiều sách. Đọc một cách tương đối có hệ thống, có người hướng dẫn nên vỡ ra nhiều. Hồi ở trên rừng Tây Nguyên, cũng do ham mê văn chương nên tôi suy nghĩ nhiều và ghi nhớ mọi chuyện có thể viết lại sau này. Lúc ấy đã nghĩ là để một lúc nào đó viết lại…Hồi ở trong rừng tôi đã làm đến mấy trăm bài thơ! Còn truyện ngắn đầu tiên viết trong rừng là lúc đi đánh nhau. Đánh đồn địch vồ được một cái máy chữ, mấy ông trong đơn vị cứ tưởng mìn nên ôm cái máy chữ ra, ôm theo cả mấy cuộn giấy to như cái phích nước. Ra ngoài mới biết là cái máy chữ trong hộp. Thế là tôi kỳ cạch ngồi tập đánh. Tập đánh máy chữ riết hoá ra viết được cái truyện ngắn, cốt chuyện lấy ngay từ chuyện ở đơn vị, anh em bàn bạc nhau trước khi tổ chức một cuộc phục kích địch trên đường Hoàng Hoa Thám ở khu vực An Khê. Phục ở dưới đất mãi, đánh bụp xẹt mãi cũng ngán, có một người đề xuất ta trèo lên mấy cây khoọc bên đường phục. Phục từ trên cao, địch không cảnh giác. Nghe thấy hay, thấy khá táo bạo, cũng định làm một trận. Nhưng ra tới nơi, leo lên rồi chúng tôi lại tụt xuống vì lạnh lưng quá! Tôi viết và tả một trận đánh ngon lành kiểu ấy, diệt được xe tăng và khá nhiều địch, gửi ra quân khu theo đường giao liên hú hoạ, may mà đến được chỗ anh Nguyễn Chí Trung. Mấy anh đọc và cho in ngay trên Văn nghệ quân Giải phóng. Hình như đó là đầu năm 72 thì phải. Mấy anh văn nghệ Quân khu biết tôi từ đó, nghe nói cũng định rút tôi ra trại sáng tác mấy lần, nhưng điện về đến tỉnh đội là tắc! Mấy bố tỉnh đội đọc truyện ấy xong cho trợ lý tuyên huấn về điều tra, gọi tôi từ phía trước về, bảo: đây là việc nghiêm trọng về vấn đề tư tưởng. Nếu là chuyện có thật thì chúng tôi sẽ đề nghị cấp trên tặng thưởng cho anh em; còn nếu không có thì đồng chí phải hoàn toàn chịu trách nhiệm! Tôi khiếp quá kể lại đầu đuôi, anh ấy bảo để anh ấy về xin ý kiến thủ trưởng. Tôi cứ nghĩ mình không có duyên với văn chương, mới viết thế mà đã phải “hoàn toàn chịu trách nhiệm” thì khó quá. Lại nữa, tên tôi là Phạm Trung Đỉnh, viết truyện đó, tập đánh máy, đánh thế nào lại thành ra Trung Trung Đỉnh. Có lẽ cũng là một cái điềm không hay rồi! Sau này thấy cái tên ấy nghe cũng giòn giã và cũng là một kỷ niệm nên tôi lấy luôn làm bút danh…

Y.B: Xin quay trở lại cuốn Lạc rừng của anh. Cùng với cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, cả hai đều viết dựa trên những ký ức của chiến tranh, đều được giải và có tiếng vang nhất định. Vậy theo anh có phải những cuốn sách viết về chiến tranh thì dễ đoạt giải hơn những cuốn sách viết về đời thường không?

T.T.Đ: Theo tôi, những năm sau giải phóng và nhất là sau khi đổi mới, những cuốn sách đoạt giải được chọn lựa, đánh giá tương đối chính xác. Như cái đợt có giải thưởng của Bảo Ninh. Hồi ấy cuốn “Tiễn biệt những ngày buồn” của tôi cũng được xem là ứng cử viên cho giải. Hội nhà văn bảo tôi đưa qua 10 cuốn để đọc và xét giải, nhưng tôi lại không làm. Đến bây giờ tôi vẫn luôn xem đó là cuốn sách hay nhất của mình. Tôi cũng có đọc cuốn “Thời xa vắng” của Lê Lựu khi còn đang là bản thảo. Nghe lời ông Trần Vũ Mai hồi ấy làm biên tập khen nức nở nên tôi đọc. Thấy sướng lắm! Nói về đổi mới tiểu thuyết, theo tôi Lê Lựu là người đầu tiên. Đó là cuốn đầu tiên và đáng kể. Viết về thân phận con người thời kỳ hậu chiến tương đối cởi mở. Tôi rất phục ông Lê Lựu từ hồi đó. Tôi thấy rằng những người thuộc lớp như tôi, thực sự cầm bút viết sau 1975, viết về chiến tranh chủ yếu bằng ký ức. Cả một thế hệ! Thực ra khi viết không ai nghĩ đến giải thưởng đâu. Nhìn chung là hầu hết đều có viết về chiến tranh, về những điều mình chứng kiến, trải qua. Những người sống trong thời kỳ chiến tranh thì lại càng viết nhiều về nó. Cái hồi 75, ngay sau khi mới giải phóng có ba cuốn nổi bật lên ngay là của Khuất Quang Thuỵ (Trong cơn gió lốc), Chu Lai (Nắng đồng bằng) và Nguyễn Trí Huân (Năm 1975, họ đã sống như thế). Bây giờ đọc lại thì thấy đó không phải là những tiểu thuyết hoàn chỉnh (theo cái nghĩa cổ điển của thể loại này, và cũng là theo cách nhìn nhận của tôi). Đó mới chỉ là những trang ký sự chiến tranh, công nhận là rất không khí. Lúc ấy, những cuốn đó tạo nên ấn tượng khá mạnh.

Y.B: Nếu vào những năm 90, với các cuốn sách viết về thời bình, chắc chắn sẽ khó tạo nên thiện cảm đối với các Ban giám khảo.

T.Đ: Đúng rồi! Ngay cái năm đoạt giải của Bảo Ninh, thì cả cuốn của Dương Hướng: (Bến không chồng) và Nguyễn Khắc Trường: (Mảnh đất lắm người nhiều ma) đều có âm hưởng của chiến tranh. Theo tôi, cho đến bây giờ, cuốn của Bảo Ninh vẫn hay nhất viết về chiến tranh. Hồi ấy tôi đọc là mê ngay và bị choáng bởi cuốn đó.

TÔI THẤY MÌNH LẠC LÕNG Ở PHỐ PHƯỜNG

Y.B: Vậy có phải những người như anh và Bảo Ninh, viết về chiến tranh thì viết hay, viết được, nhưng viết về cuộc sống, xã hội thời bình thì lại không? Liệu có một thế hệ như thế không? Có những người viết về chiến tranh thì rất hay, nhưng khi chuyển qua thời bình lại không chuyển mình kịp. Và mất tăm! Phải chăng đó là bi kịch của một thế hệ nhà văn Việt Nam?

T.T.Đ: Chuyện đó có đấy! Nhưng không phải tất cả. Chỉ một vài trường hợp đơn lẻ thôi! Ví dụ như tôi, sau những năm 90, cuốn “Ngõ lỗ thủng” của tôi viết hoàn toàn về đời sống hiện đại. Cuốn “Góc tăm tối cuối cùng” của Khuất Quang Thuỵ cũng vậy. Tất nhiên nó vẫn có hơi hướng của chiến tranh. Bên cạnh đó vẫn có một số tác giả không thoát được cuộc chiến . Có thể họ vẫn viết được về thế hệ mới hôm nay, nhưng thế nào cũng có hơi hướng của chiến tranh trong đó. Sẽ là bi kịch khi viết những cái ngoài khả năng của mình. Đến bây giờ, tôi viết cái gì cũng xuất phát từ thực tế đời sống xã hội mà tôi được chứng kiến. Chiến tranh cũng vậy thôi! Như ông Lê Lựu, ông ấy gia nhập vào đời sống xã hội sau chiến tranh rất nhanh, nhưng tất cả những tác phẩm của ông ấy vẫn mang âm hưởng của cuộc chiến.

Y.B: Anh thử đánh giá một cách khái quát 3 cuốn sách đã viết của mình trước cuốn Lạc rừng: Ngõ lỗ thủng, Ngược chiều cái chết; Tiễn biệt những ngày buồn?

T.T.Đ: Ba cuốn đó viết theo 3 kiểu bút pháp khác nhau. Ngược chiều cái chết mang âm hưởng của chiến tranh ở Tây Nguyên. Hai cuốn kia viết về đời sống đương đại những năm đó. Tôi ý thức được sự thay đổi bút pháp trong 3 tác phẩm. Cuốn Tiễn biệt những ngày buồn là cuốn viết kỹ lưỡng, theo lối cổ điển. Các nhân vật có thân phận rõ ràng và đều được thể hiện một cách có chủ đích. Đến khi tôi viết cuốn Ngõ lỗ thủng là một sự bứt phá hoàn toàn, vượt qua sự ảnh hưởng của 2 cuốn kia. Tôi đánh giá 2 cuốn viết về đời sống đương đại của mình cao hơn hai cuốn viết về chiến tranh. Các tác phẩm luôn thể hiện cái tâm thế của mình. Kinh nghiệm cuộc sống rất đáng quý, nhưng đôi khi nó cũng rất có hại cho quá trình sáng tác. Với tôi, nếu viết hoàn toàn thời bình cũng không được, mà hoàn toàn về chiến tranh cũng không ổn.

Y.B: Anh đã viết Lạc rừng sau khi viết Ngõ lỗ thủng, Tiễn biệt những ngày buồn. Phải chăng khi đã quay về với cuộc sống phố phường rồi, anh vẫn còn bỡ ngỡ, thấy mình lạc lõng, nên anh lại quay về với rừng núi, trở về với địa hạt chiến tranh quen thuộc của mình?

T.T.Đ: Đúng vậy! Đôi khi muốn thoát ra khỏi điều đó nhưng không được. Về phố rồi mà tôi vẫn cảm thấy mình bị lạc ở đâu đó, nhiều khi không hiểu ra làm sao cả. Cả một thế hệ chúng tôi, hầu hết đều như vậy. Cái ký ức đó sâu nặng quá, và nó luôn ám ảnh tất cả.

Y.B: Sau hai tác phẩm về đời sống đương đại là Ngõ lỗ thủng và Tiễn biệt những ngày buồn, anh đã quay lại địa hạt quen thuộc của mình và ngay lập tức thành công với Lạc rừng được trao giải thưởng. Trong khi hai cuốn kia anh đánh giá cao nhưng lại không gây tiếng vang được như Lạc rừng?

T.T.Đ: Đúng như vậy. Có lẽ tôi thích hợp với ký ức và hồi tưởng. Thú thực là trong đời tôi cho đến nay, chủ yếu chỉ có hai giấc mơ. Thứ nhất là mơ về thời thơ ấu cực đẹp. Hồi nhỏ tôi sống ở quê. Đó là thời điểm sau 1954, hoà bình lập lại. Bố tôi là một ông đồ nho và vẽ tranh dân gian. Ngày đó tôi được sống trong một không gian trong lành vô cùng, và trong một môi trường rộng mở, tươi sáng. Tôi thường mơ thấy mình còn nhỏ đi chơi đánh đáo, đánh khăng, bơi lội, thả diều…Thứ hai là những giấc mơ về chiến tranh, về các trận đánh du kích, chạy tung hà-bằn (theo cách nói của chúng tôi, nghĩa là tung váy!). Về việc chạy bom, chạy pháo và kinh khủng hơn là chạy máy bay quạt. (Đó là loại máy bay trực thăng nhỏ, cánh quạt của nó quạt xé rừng!)…Tôi đang viết hai cuốn tiểu thuyết về chiến tranh. Đây là hai cuốn mà tôi đã “nhay” hàng chục năm nay rồi, vậy mà chưa biết đến bao giờ xong. Tôi viết chậm lắm. Thôi thì cứ “khoe” ra đây, có khi lại có thêm động lực để viết.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *