Pippi Tất Dài

1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả : Astrid Lindgren

Download sách Pippi Tất Dài ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

2. DOWNLOAD

Download ebook                      

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.


Bạn không tải được sách ?  Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

 

Lời giới thiệu

Pippi Tất dài là tên nhân vật chính, đồng thời là tên tác phẩm nổi tiếng viết cho thiếu nhi của nhà văn Thụy Điển Astrid Lindgren. Câu chuyện kể về cô bé kỳ lạ mặt đầy tàn nhang, chưa bao giờ đi học và khoẻ đến nỗi nhấc được cả một con ngựa này đã được xuất bản tại hơn 90 nước và bảy lần dựng thành phim tại các quốc gia khác nhau. Trở thành một trong những nhân vật kinh điển được yêu quý nhất của văn học thiếu nhi Châu Âu và thế giới.

Người ta thường hỏi Astrid Lindgren, bà đã đến với Pippi Tất dài như thế nào. Bà trả lời rằng: “Năm 1941, Karin, con gái bảy tuổi của tôi, mắc chứng viêm phổi. Mỗi buổi tối khi tôi ngồi bên giường, con bé đều nằn nì: ‘mẹ kể một câu chuyện đi mẹ,’ và rồi một buổi tối nọ, sau khi đã cạn sạch vốn, tôi hỏi lại Karin: ‘Mẹ kể gì bây giờ cho con nhỉ?’ và con bé liền bảo: ‘Kể về bạn Pippi Tất dài!’ Karin đã bật ra cái tên cô bé ngay tại đó, ngay lúc đó. Còn tôi, tôi đã không hỏi Pippi Tất dài là ai, tôi cứ thế bắt đầu câu chuyện, từ một cái tên lạ lùng để rồi trở thành một cô bé cũng thật lạ lùng. Karin, và sau đó là các bạn của con bé, đã trở nên mê tít Pippi, cho nên tôi cứ phải kể đi kể lại câu chuyện đó.”

“Một ngày tháng Ba năm 1944, tôi bị ngã, bị bong gân mắt cá chân. Để giết thời gian trong khi bình phục, tôi bắt đầu ghi lại những câu chuyện về Pippi dưới dạng tốc ký. Hai tháng nữa sẽ là sinh nhật lần thứ mười của Karin, tôi định viết lại truyện Pippi và tặng con gái bản thảo làm quà sinh nhật… Và rồi tôi quyết định gửi câu chuyện tới một nhà xuất bản… Tôi vẫn nhớ mình đã kết lại bức thư gửi kèm như sau: ‘Tôi hy vọng quý nhà xuất bản không thông báo cho Uỷ ban Chăm sóc Trẻ em, bởi tôi cũng có hai đứa con và mẹ nào lại đi viết những cuốn sách như thế chứ!”

Nhà xuất bản đó đã từ chối bản thảo, nhưng hai năm sau, khi một nhà xuất bản khác tổ chức cuộc thi về sách dành cho các bé gái, Lindgren gửi Pippi Tất dài và giành Giải Nhất, cùng một bản hợp đồng.

Mặc dù Pippi Tất dài (nguyên văn tiếng Thụy Điển là Pippi Langstrump) ngay lập tức trở nên nổi tiếng tại Thụy Điển, tác phẩm đã gây ra nhiều tranh cãi. Các nhân vật nữ trong hầu hết truyện thiếu nhi đương thời đều dịu dàng, ngọt ngào và lịch lãm, còn Pippi, tất nhiên chẳng có điểm nào chung trong những nét tính cách ấy. Báo chí đã đặt câu hỏi về mỹ cảm của ban giám khảo khi trao giải cho một cuốn sách như thế. Một vài vị phụ huynh thậm chí còn viết thư cho ban biên tập để phàn nàn về lối ứng xử của Pippi.

Nhưng Pippi đã trở nên nổi tiếng đến mức thu hút cả sự chú ý của các nhà xuất bản nước ngoài. Tại Mỹ Pippi Tất dài được xuất bản lần đầu năm 1950 bởi The Viking Press, là điều khiến tác giả của Pippi bật cười, bởi nhà xuất bản này được đặt tên theo vùng Scandinavi xa xưa! Ở Mỹ, Pippi Tất dài khởi động khá chậm, từ năm 1951, và May Massee, biên tập viên người Mỹ của cuốn sách đã từng viết cho Lindgren rằng: “Không có vẻ gì chứng tỏ Pippi sẽ gặt được thành công vang dội tại đây như đã từng ở Thụy Điển.”

Vậy mà ai biết được rằng sau đó, Pippi sẽ chứng tỏ mình là một trong những nhân vật văn học thiếu nhi có được thành công lâu bền nhất, với ba bộ phim truyện, cũng như được dịch ra hơn năm mươi ngôn ngữ cùng hơn sáu triệu bản được bán riêng tại Mỹ.

Điều gì ở Pippi Tất dài khiến cô bé trở nên nổi tiếng như vậy? Pippi là một nữ nhân vật của văn học thiếu nhi không giống với bất kỳ ai khác. Cô bé sống đúng như điều một đứa trẻ có thể lựa chọn trong thế giới kỳ diệu do chính mình tưởng tượng ra. Chẳng có bố mẹ để ngăn cấm bất cứ điều gì ta thích làm, vì mẹ cô bé là một thiên thần đang trìu mến dõi theo Pippi từ trên thiên đàng, và bố Pippi là ông vua của một hòn đảo ở Biển Nam. Pippi có một vali đầy ắp những đồng tiền vàng và một tủ com-mốt tích trữ cả kho đồ chơi dường như vô tận. Cô bé luôn có thể hạ đo ván người lớn ngay trong những trò chơi của chính họ. Khi cô giáo hỏi: “Em có muốn khi lớn lên sẽ trở thành một quý bà thanh lịch không?” Pippi liền đáp: “Chị muốn nói một bà đeo chàng mạng trước mũi và cằm sệ ba ngấn ấy ạ?”

Dường như để nhấn mạnh một điều, rằng Pippi hiện thân cho tưởng tượng của trẻ thơ về một cuộc sống ao ước, Lindgren thường nói: “Đó chính là thời thơ ấu mà tôi khát khao trở lại… Và nếu mạo muội nhắc tới cảm hứng, tôi phải nói rằng chính ở đó, thời thơ ấu của tôi, là nơi tôi có được nhiều động lực sau này sẽ xuất hiện trong những câu chuyện của mình.”

Astrid Lindgren sinh năm 1907 trong một ngôi nhà cổ màu đỏ, bao quanh bởi những cây táo, trong một trang trại rộng lớn tên là Nas gần thành phố nhỏ Vimmerby, Thụy Điển. Bà kể: “Có một cây táo đặc biệt bên ngoài ngôi nhà của chúng tôi – chúng tôi thường dậy từ sớm và là những người đầu tiên ra ngoài để chén bất cứ quả táo nào rụng xuống từ cái cây trong đêm. Rồi còn có một “cây cú”, là nơi bọn cú làm tổ nhưng trở thành cái cây leo trèo của chúng tôi trong suốt cả ngày. Đó là một cây dại, giống như cái cây của Pippi, nhưng là cây đu chứ không phải cây sồi như trong truyện Pippi. Chúng tôi yêu quý cái cây ấy. Một lần anh tôi đặt quả trứng gà vào tổ cú, và cú ta ấp ra một chú gà con cho anh.” (Về sau, Lindgren để một nhân vật làm chuyện này trong cuốn Bọn trẻ của ngôi làng ầm ĩ). Cái cây của bà vẫn còn đó, dù giờ đây nó đã già cỗi và xác xơ.

Một tiểu sử ngắn ngủi không thể đủ soi sáng cuộc đời phong phú muôn màu của Lindgren. Sau khi học xong trường làng, bà chuyển tới Stockholm kiếm sống bằng nghề thư ký – mỗi cuốn sách của bà đều được viết ra trước tiên dưới dạng tốc ký. Làm vợ rồi làm mẹ của hai đứa con, Lars và Karin, đó cũng là quãng thời gian Lindgren đảm nhiệm công việc phân loại hồ sơ cho chính phủ Thụy Điển sau Thế chiến thứ II. Sau khi xuất bản một vài cuốn sách đầu tiên, bà trở thành độc giả và dịch giả cho nhà xuất bản của mình: Ab Rabén và Sjogren. Trong số nhiều tựa sách khác nhau, bà có công mangHoàng tử bồ câu của Robert McCloskey và Charlotte và Wilbur của E.B. White tới cho độc giả Thụy Điển.

Trở thành nhà văn thiếu nhi là con đường dễ hiểu với Lindgren, nhưng ngoài ra, bà còn là một nhà hoạt động vì sự tiến bộ xã hội ngay trên quê hương mình. Thời thơ ấu điền viên, cuộc sống tự do mà bà được hưởng cùng sợi dây gắn bó với tạo vật đã có ảnh hưởng sâu sắc tới quan điểm chính trị của bà. Năm 1976, bà viết một bài báo về tình trạng thuế má cao, trong đó có kể lại chi tiết câu chuyện một người đàn ông bần cùng vì thuế khoá phải đi ăn xin. Khi chính phủ thất bại trong cuộc bầu cử năm đó, Astrid Lindgren được ghi nhận đã góp phần vào sự sụp đổ ấy và giúp đem lại mức thuế thấp hơn cho người dân Thụy Điển. Có bao nhiêu phần của chính Lindgren trong cô bé Pippi Tất dài? Chúng ta còn nhớ những gì Pippi đã nói: “Người lớn chẳng bao giờ có được chút gì vui vẻ. Họ chỉ có vô khối những công việc tẻ nhạt, những bộ quần áo ngốc nghếch, những bắp ngô và cả đống thuế má của chính phủ.”

Vào dịp sinh nhật lần thứ tám mươi của mình, Astrid Lindgren được Thủ tướng Thụy Điển, Đại sứ Mỹ, Đại sứ Liên Xô tới thăm. Nhưng với bà, điều có ý nghĩa hơn mọi sự tôn vinh, đó là thông tin mà ngài Thủ tướng lúc đó mang tới: Chính phủ sẽ ban hành một đạo luật bảo vệ động vật mới của Thụy Điển, đạo luật được biết đến rộng rãi với cái tên “Lex Lindgren” (Luật của Lindgren). Luật đó viết rằng: “Gà phải được thả khỏi những lồng cũi chật hẹp, bò phải được ra bãi cỏ và lợn nái không bị nhốt lại.”

Chiến dịch này được dấy lên từ một bài báo Lindgren từng viết về một con bò cái phải chạy hơn sáu dặm để tìm bò đực. Sau đó, Lindgren trở thành người cộng tác trong loạt bài về hiện tượng ngược đãi vật nuôi, và sự phản ứng dữ dội của công luận đã khiến Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Thụy Điển phải nhượng bộ. Như Lindgren từng nói: “Trong cuộc sống có đôi điều người ta không thể mua được bằng tiền, đó là niềm kính ngưỡng sự sống.”

Niềm kính ngưỡng dành cho sự sống, thiên nhiên, thơ ấu và tự do quý giá đã làm nên nền tảng cho các tác phẩm của bà. Bà đã từng nói: “Tôi đâu có viết sách cho thiếu nhi. Tôi viết cho chính đứa trẻ trong tôi. Tôi viết về những gì thân thương đối với tôi: cây cối, nhà cửa, thiên nhiên, chỉ để làm vui lòng chính tôi mà thôi.”

Một lần, khi một người phỏng vấn bà bình luận rằng dường như cô bé Pippi Tất dài có ở khắp mọi nơi, Astrid Lindgren đã đáp lại rằng: “Có thể, cô bé đang đợi ai đó tình cờ bắt gặp và cất bút về mình mà thôi.”

ĐỌC THỬ

1. Pippi dọn đến ở Biệt thự Bát nháo

Bên rìa thị trấn nhỏ có một mảnh vườn cũ bỏ hoang. Trong vườn là một ngôi nhà cũ, và Pippi Tất dài sống trong ngôi nhà đó. Cô bé lên chín, sống hoàn toàn một mình. Pippi không cha, không mẹ – thật tình như thế lại rất hay, bởi chẳng ai có thể nhắc nhở cô bé đã đến giờ đi ngủ giữa lúc nó đang chơi mải mê nhất, cũng chẳng ai có thể bắt nó ăn viên dầu cá trong khi nó khoái chén kẹo hơn.

Trước kia Pippi từng có một người bố mà nó yêu ghê gớm. Vâng, cố nhiên cô bé cũng từng có mẹ, nhưng từ xa xửa xa xưa rồi, lâu đến nỗi nó không tài nào nhớ nổi nữa. Mẹ Pippi mất từ lúc cô bé hãy còn là một hình hài tí xíu nằm trong nôi mà gào to tới mức những người xung quanh không ai chịu nổi. Pippi đinh ninh giờ đây mẹ nó đang ở trên trời, ghé mắt qua một lỗ nhỏ nhìn xuống con gái mình. Nó thường ngửa cổ vẫy mẹ, và kêu lên:

“Mẹ đừng lo cho con! Con tự lo liệu được !”

Bố thì Pippi không quên. Bố từng là thuyền trưởng, lênh đênh trên biển lớn, và Pippi luôn ở bên bố trên tàu, cho đến lần nọ bố bị bão cuốn xuống biển mất tích. Nhưng Pippi hoàn toàn tin chắc có ngày bố sẽ trở về. Cô bé không tin bố mà lại có thể chết đuối. Nó nghĩ bố bị dạt vào một hòn đảo có rất nhiều người da đen, ngày ngày bố đi dạo quanh đảo, đầu đội vương miện bằng vàng.

“Bố tớ là vua của dân da đen. Nói thật, đâu phải nhiều đứa trẻ có được một người bố tuyệt đến thế!” Pippi thường nói hết sức hãnh diện. “Chỉ cần bố tớ đóng được một con tàu là ông sẽ đến đón tớ liền, khi ấy tớ sẽ trở thành công chúa của người da đen. Ái chà, cuộc sống lúc đó mới sung sướng làm sao!”

Nhiều năm về trước, bố Pippi đã mua ngôi nhà cũ trong vườn này, ông định sẽ cùng Pippi sống ở đó một khi ông đã có tuổi và không đi biển được nữa. Nhưng rồi đã xảy ra cái chuyện ngu ngốc là ông bị gió cuốn xuống biển, và trong khi chờ đợi bố trở lại, Pippi lên đường về nhà, đến Biệt thự Bát nháo – tên của ngôi nhà đó. Trong nhà, đồ gỗ và mọi thứ được trang bị sẵn sàng chờ đón Pippi. Vào một tối mùa hè đẹp trời, cô bé chào tạm biệt tất cả thuỷ thủ trên tàu của bố. Họ rất quý Pippi và cô bé cũng mến họ.

“Tạm biệt, các chàng trai,” Pippi nói và lần lượt hôn lên trán từng người một. “Đừng lo cho cháu. Cháu tự xoay xở được.”

Cô bé đem theo hai thứ trên tàu. Một con khỉ tên gọi ông Nilsson, và một chiếc vali xách tay to, đựng đầy những đồng tiền vàng mà bố để lại cho nó. Đám thuỷ thủ đứng trên mạn tàu trong theo cô bé cho đến lúc nó khuất dạng. Pippi bước đi những bước rắn rỏi, không hề ngoái lại, với ông Nilsson trên vai, và cái vali trong tay.

“Một đứa trẻ kỳ lạ,” một thuỷ thủ nói , tay gạt giọt lệ đang trào ra nơi khoé mắt, trong khi Pippi mất hút ở đằng xa.

Anh ta có lý. Pippi là một đứa trẻ rất đỗi kỳ lạ. Điều khác thường nhất là cô bé rất khoẻ. Khoẻ kinh khủng, tới mức khắp gầm trời này không có anh chàng cảnh sát nào đọ nổi nó. Pippi có thể nâng bổng một con ngựa nếu nó muốn. Và cô bé muốn vậy. Nó có hẳn một chú ngựa riêng mà nó đã tậu bằng một trong số cơ man đồng tiền vàng của mình đúng vào ngày trở về nhà. Xưa nay Pippi vẫn mơ ước có một con ngựa riêng. Và giờ đây con ngựa sống trong hành lang. Nhưng nếu Pippi thích chỗ đó là chỗ nó ngồi uống cà phê buổi chiều, nó sẽ xách cổ ngựa ra vườn không chút khó khăn gì.

Ngay cạnh biệt thự là một mảnh vườn khác, trong đó lại có một ngôi nhà khác. Trong ngôi nhà ở đó có một ông bố, một bà mẹ, cùng hai đứa con ngoan: một trai, một gái. Cậu con trai tên gọi Thomas, cô bé tên gọi Annika. Đó là hai đứa trẻ rất đỗi đáng yêu, có giáo dục và ngoan ngoãn. Chẳng bao giờ Thomas lại cắn móng tay, lúc nào cậu cũng làm theo lời mẹ. Annika chẳng bao giờ ỉ eo nếu không được chiều theo ý mình. Trông cô bé lúc nào cũng gọn gàng trong những bộ váy áo được là phẳng phiu, và cô rất chú ý giữ gìn cho bản thân sạch sẽ. Thomas và Annika cùng nhau chơi đùa hoà thuận trong vườn, nhưng chúng vẫn thường mong ước có một người bạn, và vào lúc mà Pippi hãy còn cùng bố lênh đênh trên biển, hai đứa trẻ đó đứng bên bờ giậu mà than rằng:

“Chán thật đấy, chẳng ai dọn đến ở trong ngôi nhà này cả. Phải có ai đó mang trẻ con đến đây mới đúng chứ.”

Vào buổi chiều mùa hạ đẹp trời nọ, khi Pippi lần đầu bước qua ngưỡng cửa Biệt thự Bát nháo, Thomas và Annika lại không có nhà. Chúng đi thăm bà một tuần. Vì thế hai đứa không hề biết đã có người dọn vào ở ngôi nhà bên cạnh, và ngày đầu tiên sau khi trở về, ra đứng cạnh cổng nhìn ra đường, Thomas và Annika vẫn chưa hay chúng vừa có một cô bạn đồng niên ngay sát nách.

Đúng vào lúc chúng đang nghĩ xem nên bắt đầu trò gì, đang tự hỏi liệu hôm nay có gì thú vị, hay sẽ chỉ lại một ngày buồn tẻ nữa vì chẳng đứa nào nảy ra ý gì hay ho, thì ngay lúc ấy cánh cổng vườn Biệt thự Bát nháo bật mở, và một cô bé bước ra.

Một đứa con gái kỳ lạ nhất mà Thomas và Annika từng thấy, đó chính là Pippi Tất dài, đang bắt đầu cuộc đi dạo buổi sáng. Trông nó như sau:

Tóc nó có màu đúng như màu củ cà rốt, tết thành hai bím cứng quèo vểnh ngược hai bên đầu. Mũi nó giống hệt một củ khoai tây bé xíu lấm tấm đầy tàn nhang. Dưới mũi là một cái miệng rộng ngoác với hai hàm răng trắng, khoẻ. Cái váy nom mới kỳ cục làm sao, Pippi tự may lấy mà. Váy màu vàng rực rỡ, nhưng bởi thiếu vải nên ngắn cũn cỡn, làm thò cả chiếc quần xanh lơ chấm trắng mặc trong ra. Cặp chân dài gầy gò đi đôi tất dài, chiếc kẻ sọc, chiếc đen tuyền. Đã thế nó lại dận đôi giày đen to gấp đôi bàn chân. Đôi giày này bố mua cho Pippi tận bên Nam Mỹ, mua rộng phòng khi lớn, và Pippi thì không đời nào mong muốn một đôi giày nào khác.

Và thứ khiến Thomas và Annika ngạc nhiên đến trố mắt là con khỉ ngồi vắt vẻo trên vai cô bé lạ mặt. Chả khác gì một con mèo biển nhỏ thó với chiếc quần xanh da trời, chiếc áo khoác vàng và cái mũ rơm.

Pippi đi dọc xuống phố. Chân này trên vỉa hè, chân kia dưới lòng đường. Thomas và Annika nhìn theo cho đến lúc cô bé khuất dạng. Lát sau nó trở lại. Giờ đây Pippi đi giật lùi. Nó làm thế chỉ vì lười quay mình để về nhà. Đến trước cổng vườn nhà Thomas và Annika, Pippi dừng lại. Mấy đứa trẻ im lặng nhìn nhau. Cuối cùng Thomas lên tiếng:  “Sao cậu lại đi giật lùi?”.

“Sao tớ lại đi giật lùi ấy à”, Pippi đáp. “Tụi mình chẳng đang sống trong một đất nước tự do hay sao? Dễ thường người ta không được phép đi theo ý mình chắc ? Thêm nữa tớ bảo cho mà biết, ở bên Ai Cập mọi người đều đi giật lùi, mà chẳng ai lấy đó làm lạ, dù chỉ tẹo teo.”

“Sao cậu biết?” Thomas hỏi ” Cậu đã từng ở Ai Cập rồi chắc?”

“Liệu tớ đã ở Ai Cập chưa ấy à? Hẳn nhiên, cậy có thể tin chắc như vậy! Tớ từng có mặt khắp nơi trên khắp địa cầu, và chứng kiến nhiều chuyện còn kỳ cục hơn là người đi giật lùi ấy chứ. Tớ muốn biết cậu sẽ nói gì nếu tớ đi bằng hai tay như những người ở tận cùng Ấn Độ.”

“Giờ thì cậu nói dối” Thomas nói.

Pippi suy nghĩ giây lát.

“Phải, cậu nói đúng, tớ nói dối đấy” nó buồn bã nói.

“Nói dối là xấu”  Annika, mãi lúc này mới dám mở miệng, nhận xét.

“Phải, nói dối xấu vô cùng” Pippi đáp, còn tỏ vẻ buồn hơn nữa. “Nhưng cậu biết không, tớ cứ luôn quên điều đó. Mà làm sao có thể đòi hỏi một đứa trẻ bé bỏng, vốn có một người mẹ như một thiên thần và một người cha là vua của dân da đen, một đứa trẻ suốt đời lênh đênh trên biển, lúc nào cũng nói sự thật cho được? Thêm nữa,” Pippi tiếp, gương mặt đầy tàn nhang của nó rạng rỡ hẳn lên, “Tớ muốn nói để các cậu biết, ở Congo không đào đâu ra một người nói thật. Họ nói dối cả ngày. Bảy ngày, mới sáng bảnh mắt, họ đã bắt đầu nói dối và không chịu ngừng trước lúc mặt trời lặn. Vậy nếu có xảy ra cái việc một lúc nào đó tớ nói dối, thì các cậu phải cố mà bỏ qua cho tớ, hãy nghĩ rằng chẳng qua chỉ vì tớ từng sống hơi ở Congo. Dù sao chúng mình vẫn có thể là bạn của nhau, đúng không nào ?”

“Đúng, tất nhiên rồi,” Thomas đáp và chợt hiểu hôm nay chắc chắn sẽ không phải là một  trong những ngày vô vị.

“Mà sao các cậu lại không thể ăn sáng ở nhà tớ nhỉ?” Pippi hỏi.

“Ừ, đúng quá,” Thomas nói, “Sao chúng mình lại không thể. Nào, ta đi thôi”

“Vâng,” Annika đáp, “Đi ngay lập tức”

“Nhưng trước hết tớ phải giới thiệu với các cậu ông Nilsson cái đã,” Pippi bảo.

Con khỉ già bèn ngả mũ lịch sự chào.

Và lúc này, cả bọn bước qua chiếc cổng vườn xiêu vẹo của Biệt thự Bát nháo, theo con đường mòn hai bên là những thân câu phủ rêu, những thân cây tuyệt hợp cho việc leo trèo, tiến về phía ngôi nhà, bước lên hành lang.

Ở đó, con ngựa đang đứng chén lúa mì đựng trong liễn xúp.

“Sao cậu lại để ngựa ở hành lang hở trời?” Thomas hỏi.

Mọi con ngựa cậu biết đều ở trong chuồng cả.

“À ừ,” Pippi đáp, vẻ suy nghĩ, ”để nó trong bếp sẽ chỉ tổ vướng, mà trong phòng khách thì nó lại không thích”.

Thomas và Annika vuốt ve chú ngựa, rồi chúng bước vào nhà. Trong nhà có một gian bếp, một phòng khách và một buồng ngủ. Nhưng cứ xét cảnh tượng thì tuồng như Pippi đã hàng tuần rồi quên dọn vệ sinh. Thomas và Annika thận trọng ngó quanh, biết đâu đức vua của dân da đen lại chẳng đang ngự ở một góc nào đó. Từ bé tới giờ chúng chưa hề được nhìn một ông vua của người da đen. Nhưng rồi cũng chẳng thấy ông bố nào, bà mẹ cũng không nốt, và Annika sợ hãi hỏi:

“Cậu ở đây hoàn toàn một mình sao?”

“Ồ không! Ông Nilsson và con ngựa cũng ở đây đấy chứ.”

“Ừ nhưng mà, tớ muốn hỏi cậu, cậu không có bố mẹ ở đây à?”

“Không, chẳng có ai cả”

“Nhưng ai sẽ giục cậu đi ngủ buổi tối hay nhắc nhở cậu những việc khác?”

“Tự tớ.” Pippi đáp. “Trước tiên tớ nói rất mềm mỏng, nếu tớ không vâng lời, tớ sẽ

nghiêm khắc nhắc lại, và nếu tớ vẫn không chịu nghe, tớ sẽ ăn đòn.”

Thomas và Annika không hiểu lắm, song chúng nghĩ bụng: âu cũng là một phương cách hết sức tiện lợi. Chúng đã vào đến bếp tự lúc nào, và Pippi reo lên:

“Bây giờ tụi mình sẽ làm bánh trứng!”

Cô bé lấy ra ba quả trứng tung lên cao. Một quả rơi trúng đầu nó vỡ tung toé, khiến lòng đỏ trứng chảy cả vào mắt. Nhưng Pippi đã khéo léo hứng hai quả còn lại vào một cái nồi, chúng vỡ làm đôi.

“Tớ luôn nghe nói lòng đỏ trứng có lợi cho tóc.” Pippi nói, tay chùi mắt.” Các cậu sẽ thấy: tóc mọc lên nghe rõ mồn một cho mà xem. Thêm nữa, bên Braxin mọi người đều đi đi lại lại với trứng trên tóc cả. Nhưng cũng vì vậy mà chẳng ai bị hói đầu. Duy nhất một lần có ông già nọ điên rồ tới mức chén sạch chỗ trứng mà lẽ ra ông ta phải bôi lên tóc. Rồi ông ta bị hói thật sự, và hễ ông ta bước chân ra phố là lập tức người đổ đến xem đông nghịt, đến nỗi cảnh sát phải đến dẹp”.

Pippi vừa nói vừa khéo léo thò ngón tay nhặt vỏ trứng ra khỏi nồi. Giờ đây, nó lấy chiếc bàn chải cọ lưng treo trên tường xuống và bắt đầu đánh trứng khiến trứng bắn tung toé lên bốn bức tường xung quanh. Cuối cùng nó đổ chỗ trứng còn sót lại vào một cái chảo đặt trên bếp.

Khi một mặt bánh đã chín, Pippi hất nhẹ chảo lên trên, khiến chiếc bánh lộn một vòng

trong không trung, rồi lại giơ chảo ra hứng. Bánh chín, Pippi lẳng bánh xuyên bếp bay thẳng vào một cái đĩa để trên bàn.

“Ăn thôi,” nó nói “ăn ngay kẻo nguội”.

Thomas và Annika bèn ăn và nhận thấy rằng đó là chiếc bánh trứng ngon tuyệt.

Sau đó Pippi mời hai người bạn của mình vào phòng khách. Trong phòng chỉ có một thứ đồ gỗ duy nhất. Đó là chiếc tủ lớn với nhiều ngăn kéo nhỏ. Pippi mở các ngăn kéo, cho Thomas và Annika xem mọi của báu mà nó cất giữ bên trong. Những quả trứng chim hiếm thấy, những con ốc kì lạ, những viên đá, những chiếc hộp nhỏ trang nhã, những chiếc gương bằng bạc đẹp đẽ, những chuỗi ngọc, cùng vô cùng thứ khác mà Pippi và bố đã mua trong những chuyến chu du vòng quanh thế giới.

Pippi tặng mỗi người bạn mới một món quà nhỏ làm kỉ niệm. Thomas được một con dao găm, chuôi dát ngọc trai lóng lánh; còn Annika một cái tráp nhỏ, nắp chạm toàn vỏ ốc màu hồng. Trong tráp là một chiếc nhẫn có mặt đá màu xanh lục.

“Giờ các cậu về được rồi đấy.” Pippi nói “ có thể mai các cậu mới lại sang được. Vì nếu các cậu không về, các cậu sẽ không thể sang lại nữa. Mà như thế thì tiếc lắm.”

Thomas và Annika cũng nghĩ vậy. Chúng bèn ra về. Chúng đi ngang chỗ con ngựa bấy giờ đã chén sạch chỗ lúa mì, bước qua cổng của Biệt thự Bát nháo. Ông Nilsson vẫy mũ lên chào khi chúng đi khỏi.

2. Pippi trở thành Người thu nhặt và sa vào Trận ẩu đả

Sáng hôm sau Annika tỉnh giấc sớm. Cô bé nhảy vội khỏi giường, nhón chân đến bên Thomas.

“Dậy thôi, Thomas,” Annika vừa gọi vừa lay tay anh. “Dậy, chúng mình định sang chỗ cô bạn vui nhộn đi đôi giày to tướng cơ mà.”

Thomas lập tức tỉnh hẳn.

“Lúc ngủ anh đã biết hôm nay thể nào cũng có chuyện vui, mỗi tội không nghĩ ra đó là chuyện gì,” Cậu vừa nói vừa cởi tuột áo ngủ. Rồi hai đứa cùng vào buồng tắm. Chúng rửa mặt, đánh răng nhanh hơn hẳn thường ngày, mặc quần áo chóng váng và vui vẻ đúng một tiếng- sớm hơn mẹ chúng tưởng. Rồi hai đứa lao xuống tầng dưới, sà ngay vào bàn ăn sáng, miệng gào lên là chúng muốn uống ca-cao ngay tức khắc.

“Các con định làm gì vậy?” Mẹ chúng hỏi. “Cứ cuống quýt cả lên thế”.

“Chúng con định sang chơi với cô bạn mới nhà bên,” Thomas nói.

“Có khi chúng con sẽ ở cả ngày bên ấy,” Annika nói thêm.

Đúng sáng hôm nay, Pippi đang mải mê làm bánh quế. Cô bé nhào một đống tướng bột và cán rộng khắp sàn bếp.

“Vì mày biết không,” Pippi nói với con khỉ con của nó, “làm gì có cái khay cán bột nào đủ rộng, một khi tao định lắm ít nhất là năm trăm cái bánh?”

Và lúc này đây, nó nằm bò trên sàn bếp, hăm hở rập những cái bánh hình trái tim.

“Đừng có giẫm luôn vào bột như thế đi ông Nilsson!” Pippi đang nói thế thì chuông reo.

Pippi chạy ra mở cửa. Trông nó trắng xoá từ đầu xuống chân, hệt như một cái cối xay bột, và khi Pippi nhiệt thành bắt tay Thomas và Annika, một đám mây bột phủ lên hai đứa.

“Tớ mừng là các cậu đã sang,” Pippi nói, tay rũ tạp dề, khiến một đám mây bột mới lại bung ra. Thomas và Annika hít phải nhiều bột quá đến phát ho.

“Cậu làm cái gì vậy?” Thomas hỏi.

“Chà, nói tớ nói là tớ đang quét ống khói thì hẳn cậu chẳng thèm tin tớ, một đứa

ranh khôn như cậu!” Pippi đáp. “Sự thật là tớ đang làm bánh. Nhưng tớ sắp xong đến nơi rồi. Trong khi chờ đợi, các cậu ngồi tạm lên mấy cái hòm gỗ kia kìa”.

Có Chúa chứng giám, Pippi làm việc mới nhanh làm sao!

Thomas và Annika ngồi trên chiếc hòm gỗ xem nó rập bánh thoăn thoắt trên đám bột, liệng chúng vào những chiếc khay thiếc, rồi phi đám khay vào bếp lò. Hai đứa có cảm tưởng, cảnh tượng đang diễn ra trong phim.

“Xong.” Pippi nói, tay sập cửa lò cái sầm, sau khi đã lấy mẻ bánh cuối cùng ra khỏi lò.

“Tụi mình định làm gì bây giờ ?” Thomas hỏi.

“Tớ không biết các cậu muốn làm gì,” Pippi đáp, “nhưng riêng tớ thì tớ sẽ không nằm chảy thây ra đâu. Cụ thể tớ là một người thu nhặt, mà đã là người thu nhặt, thì chẳng bao giờ có lấy một giờ rỗi rãi”.

“Cậu bảo sao, cậu là cái gì kia ?” Annika hỏi.

“Một người thu nhặt”.

“Nghĩa là thế nào?” Thomas hỏi.

“Một người thu nhặt các đồ vật, các cậu biết đấy. Thế chứ còn thế nào nữa?” Pippi vừa đáp vừa vun gọn chỗ bột vãi thành một đống nhỏ. “Cả thế giới đầy rẫy nhưng đồ vật, và rất cần có ai đó tìm thấy chúng. Những người thu nhặt làm chính việc đó.”

“Những đồ vật gì vậy?” Annika hỏi.

“Ồ đủ thứ,” Pippiđáp. “Vàng thỏi, lông đà điểu, chuột chết, pháo tép, những đinh ốc bé tí và tất cả những đồ vật tương tự.”

Thomas và Annika nghe thấy êm tai ra trò, và cũng rất muốn trở thành người thu nhặt, nhưng Thomas bảo cậu hy vọng sẽ nhặt được một cục vàng chứ không chỉ một cái đinh ốc bé tẹo.

“Để rồi xem sao,” Pippi nói,” lúc nào người ta cũng nhặt được cái gì đó. Nhưng bây giờ tụi mình phải nhanh chân lên, kẻo những người thu nhặt khác sẽ tới nhặt hết những cục vàng có ở quanh đây mất.”

Cả ba người thu nhặt bèn lên đường. Chúng cho rằng tốt nhất hãy bắt đầu tìm kiếm xung quanh các toà nhà. Bởi theo Pippi, cũng có khi người ta nhặt được một cái đinh ốc sâu tít trong rừng, nhưng những đồ quý báu nhất thì hầu như luôn được tìm thấy ở gần chỗ có người ở.

“Nhưng dẫu sao,” cô bé nói,” tớ đã từng trải qua một ví dụ ngược lại. Tớ nhớ một lần tớ đi kiếm đồ vật trong rừng rậm Borneo. Vào chính giữa khu rừng nguyên thuỷ, nơi chưa từng có con người đặt chân tới, các cậu thử đoán xem tớ đã nhặt được cái gì nào? Chà, một cái chân gỗ thực thụ, hết ý. Sau đó tớ đem tặng nó cho một ông già chỉ có một chân, và ông lão nói rằng một cái chân gỗ tuyệt như thế thì có cả đống tiền cũng không mua nổi.”

Thomas và Annika ngước nhìn Pippi, xem xem một người thu nhặt phải xử sự ra sao. Còn Pippi cứ chạy từ lề đường này sang lề đường kia, tay che trước trán, mắt ngó nghiêng. Đôi lúc nó quỳ xuống, sục bàn tay vào giữa các thanh rào, rồi thất vọng nói:

“Lạ thật! Tớ chắc mẩm là đã nhìn thấy một cục vàng!”

“Có thật là mình được phép nhặt tất cả những gì mà mình tìm thấy không ?” Annika hỏi.

“Ừ, tất cả những gì nằm trên mặt đất,” Pippi đáp.

Cách đấy một quãng có một ông lão nằm ngủ trên bãi cỏ trước nhà ông.

“Ông cụ kia nằm trên mặt đất,” Pippi nói, “Và chúng mình tìm thấy ông ta. Nhặt thôi!”

Thomas và Annika giật mình kinh hãi.

“Không, không! Pippi, chúng mình không thể nhặt một người đàn ông, không được đâu,” Thomas nói. “Thêm nữa, ta biết làm gì với ông cụ?”

“Làm gì với ông vụ ấy à ? Có thể sử dụng vào khối việc. Có thể nhét ông cụ vào một cái chuồng thỏ nhỏ thay vì nhốt thỏ và nuôi ông cụ bằng lá cỏ. Nhưng nếu các cậu không muốn thì thôi vậy, tớ thế nào cũng được. Mặc dù tớ thấy bực mình khi nghĩ: biết đâu kẻ thu nhặt khác sẽ tới và thó mất ông cụ.”

Chúng tiếp tục đi. Bỗng Pippi bật reo to:

“Không có lẽ, tớ chưa từng thấy một vật nào như thế!”

Nó vừa kêu, vừa nhặt lên một cái hộp thiếc cũ gỉ từ đám cỏ. “Một của báu, một báu vật! Hộp thì người ta không bao giờ có đủ cả.”

Thomas nhìn cái hộp thoáng vẻ nghi ngại và hỏi:

“Có thể sử dụng nó vào việc gì được?”

“Ồ, khối việc,” Pippi đáp. “Có một cách là để bánh vào, bấy giờ nó sẽ là một cái hộp bánh hết ý. Có một  cách khác không để bánh vào, thì nó sẽ là một cái hộp không bánh, và cố nhiên sẽ bớt hay đi, nhưng cũng vẫn có thể dùng tốt.”

Cô bé ngắm nghía cái hộp quả thực đã gỉ hoen gỉ hoét, đã thế còn thủng một lỗ ở đáy.

“Xem ra nó sẽ là cái hộp không bánh lắm,” nó nói vẻ nghĩ ngợi. “Nhưng có thể chụp nó vào đầu mà chơi như thể đang giữa đêm tối vậy.”

Và nó thử ngay. Với chiếc hộp kín đầu, Pippi đi xuyên khu biệt thự như một cái tháp nhỏ bằng thiếc di động, nó không chịu dừng bước trước khi vấp phải một hàng rào dây thép và ngã sấp mặt.

Chiếc hộp thiếc va xuống đất đánh xoảng, nghe rợn cả người.

“Các cậu thấy chưa,” Pippi vừa nói vừa nhấc bỏ hộp thiếc khỏi đầu. “Nếu không có nó, có phải mặt tớ đã lao thẳng xuống đất vỡ tan rồi không.

“Ừ, nhưng mà,” Annika nói, “Nếu cậu không chụp nó vào đầu, thì cậu đã không vấp phải hàng rào dây thép.”

Nhưng cô bé chưa kịp dứt lời thì Pippi đã lại reo lên, đắc thắng giơ cao một cái ống sợi rỗng.

“Hôm nay có vẻ là ngày may mắn của tớ,” Pippi nói. “Một cái ống sợi mới xinh xẻo dễ thương làm sao, có thể dùng nó để thổi bong bóng xà phòng, hoặc xâu dây đeo trước cổ như dây chuyền ấy. Tớ muốn về nhà thử ngay lập tức đây.”

Đúng lúc đó, một cánh cổng vườn bật mở, một cậu bé nhào ra. Trông cậu đầy vẻ sợ hãi, và thật không có gì lạ: năm thằng khác đang đuổi sát gót cậu. Chúng sắp tóm được cậu, dồn cậu vào một bờ rào, để rồi cả lũ lăn xả vào cậu. Cả năm đứa cùng bắt đầu đấm đá cậu. Cậu bé vừa khóc vừa giơ hai cánh tay ra trước mặt đỡ đòn.

“Cho nó một trận đi, chúng mày!” Thằng cao lớn và lực lưỡng nhất hô lên. “Để cho nó không bao giờ còn dám thò mặt đến phố này nữa.”

“Ôi,” Annika nói, “chúng nó đánh Vili. Sao chúng nó có thể ác thế được!”

“Đấy là thằng Benno đáng ghét. Lúc nào nó cũng phải đấm đá ai đó.” Thomas nói. “Mà lại năm đánh một, lũ hèn.”

Pippi tiến đến bên lũ con trai, gõ ngón tay trỏ vào lưng Benno.

“Ê các cậu,” cô bé nói. “ Các cậu định nghiền cậu bé Vili ra cám à? Vì cả năm cậu cùng lúc xông vào nó ?”

Benno quay phắt lại và thấy một con bé mà trước đây nó chưa hề gặp bao giờ, con bé còn cả gan chạm tay vào người nó. Thoạt tiên nó trố mắt giây lát bởi quá ngạc nhiên, rồi nó nở một nụ cười hết cỡ.

“Chúng mày!” nó gọi, “Chúng mày ơi! Hãy để thằng Vili đấy, lại trông thử con bé này xem. Cả đời chúng mày chưa từng được chiêm ngưỡng một cái gì tương tự đâu nhé.”

Nó vỗ tay vào đầu gối cười sằng sặc. Thoắt cái cả bọn đã bu quanh Pippi, cả bọn, chỉ trừ Vili bấy giờ vừa quệt nước mắt vừa thận trọng đến bên Thomas.

“Các cậu đã thấy tóc tai nó chưa hả? Đỏ quạch như lửa! Còn đôi giày nữa chứ! Cho tao mượn một chiếc được không ? Tao đang rất muốn thử chèo thuyền mà cóc có thuyền đây.”

Đoạn nó túm một bím tóc của Pippi, nhưng vội rụt ngay tay lại và giả bộ kêu lên:

“Ối, tôi bị lửa thiêu!”

Thế rồi cả năm thằng vây lấy Pippi, vừa nhảy vừa la:

“Cáo lông đỏ! Cáo lông đỏ!”

Pippi đứng giữa vòng tròn, cười hết sức thân ái. Benno tưởng Pippi sẽ tức giận hay bắt đầu khóc nhè cơ. Ít nhất thì nó cũng phải tỏ vẻ sợ hãi chứ.Thấy không ăn thua, Benno bèn đẩy cô bé một cái.

“Tớ thấy cậu xử sự với phụ nữ không được nhã nhặn cho lắm,” Pippi nhận xét.

Rồi cô bé nhấc bổng Benno trên đôi tay cực khoẻ của mình, vác đến một cây lê hạnh cạnh đó, vắt ngang lên một cành. Đoạn nó túm thằng tiếp theo vắt lên một cành khác. Thằng thứ ba bị nó đặt lên trụ cổng vườn trước một toà biệt thự, rồi nó ném thằng thứ bốn qua bờ rào, rơi chính giữa một luống hoa. Còn người hùng cuối cùng của đám hiếu chiến bị nó ấn vào chiếc xe cút kít đồ chơi nhỏ xíu đứng giữa đường. Đoạn Pippi, Thomas, Annika và Vili đứng đó nhìn đám đầu gấu một lúc nữa, trong khi lũ này câm như hết vì sửng sốt. Pippi nói:

“Các cậu đến là hèn. Năm đứa bắt nạt một thằng bé con. Như thế là hèn. Đã vậy lại còn giở trò hù doạ một đứa con gái bé bỏng không tự vệ. Khiếp, sao mà xấu!”

“Đi nào, tụi mình về nhà,” Nó bảo Thomas và Annika rồi quay sang Vili “Nếu chúng nó còn thử đánh cậu lần nữa, cứ bảo tớ.”

Và với Benno bấy giờ còn vắt vẻo trên cây, không dám động đậy, Pippi nói:

“Nếu cậu còn định phán xét gì thêm về tóc hoặc giày của tớ, thì tốt nhất là hãy nói ngay đi, trước khi tớ về nhà.”

Nhưng Benno hoàn toàn không còn gì để nói về giày của Pippi cả, về tóc cũng không nốt. Vậy là Pippi một tay nhặt hộp thiếc, tay kia cầm ống sợi bỏ đi. Thomas và Annika theo sau.

Khi chúng về đến vườn nhà Pippi, cô bé nói:

“Đến là bực các cậu ạ! Đây, tớ nhặt được hai vật đẹp thế này, mà các cậu chẳng kiếm được gì. Các cậu phải tìm tiếp đi thôi. Thomas, sao cậu không nhòm thử vào hốc cây cổ thụ này xem. Đám cây cổ thụ thường là những mục tiêu tốt nhất cho một người thu nhặt đấy.”

Thomas bảo cậu không tin cậu và Annika sẽ nhặt được bất cứ thứ gì, nhưng chiều ý Pippi, cậu cũng thò tay vào một hốc cây.

“Ối, thật sao!” Cậu thốt lên vô cùng sửng sốt và giơ cao bàn tay cầm một cuốn sổ xinh xắn bìa da. Trong hai cái ngăn đặc biệt của sổ có một chiếc chút chì nhỏ bằng bạc.

“Kỳ lạ thật!” Thomas nói.

“Cậu thấy chưa!” Pippi bảo. “Không gì tuyệt hơn là làm người thu nhặt. Chỉ đáng ngạc nhiên là chẳng ai theo cái nghề này nữa. Thợ may, thợ giày, thợ nạo ống khói, và đại loại các nghề mà thiên hạ đều có thể trở thành được … nhưng người thu nhặt ấy ư, ái chà, còn lâu nhé !”

Đoạn cô bé quay sang Annika:

“Sao cậu không lại gốc cây cổ thụ này thử thò tay vào xem sao? Quả thật là ta luôn tìm được gì đó trong các gốc cây cổ thụ đấy.”

Annika thò tay vào và túm ngay được một chuỗi san hô. Và cả Thomas lẫn Annika đều giương mắt, đứng ngây ra trong giây lát, chúng ngạc nhiên quá đỗi. Chúng tự nhủ từ nay, ngày nào chúng cũng muốn làm người thu nhặt.

Suốt nửa đêm qua Pippi mải thức chơi bóng, giờ đây nó đột nhiên thấy buồn ngủ.

“Tớ cho rằng tớ phải đi nằm một cái,” Nó nói. “Các cậu có thể cùng vào và đắp chăn cho tớ chứ?”

Ngồi trên thành giường tụt giày ra, Pippi ngắm nghía đôi giày vẻ nghĩ ngợi, rồi nói:

“Cái thằng Benno ấy, nó bảo nó muốn chèo thuyền. Hừm!” Nó khịt mũi khinh bỉ. “Để rồi tớ sẽ dạy cho nó biết thế nào là chèo thuyền… chờ đấy!”

“Này, Pippi” Thomas e sợ hỏi, “thật ra sao cậu lại đi đôi giày rộng đến thế?”

“Để tớ có thể ngó ngoáy các ngón chân, cậu hiểu chứ,” nó đáp. Đoạn nó nằm xuống

giường ngủ.

Khi ngủ bao giờ Pippi cũng thò hai bàn chân kê lên gối, còn đầu lại rúc tít trong chăn.

“Ở Guatemala dân chúng ngủ như thế này cả,” Pippi cả quyết, “Và đây là tư thế ngủ duy nhất đúng. Mà có nằm thế tớ mới ngó ngoáy được các ngón chân trong khi ngủ. Các cậu có thể ngủ mà không cần hát ru không? Tớ thì lúc nào cũng phải hát ru mình một chốc, không thì không sao chợp mắt nổi.”

Thomas và Annika nghe i ỉ dưới chăn. Đó là tiếng Pippi tự ru mình trong giấc ngủ. Nhẹ nhàng, thận trọng chúng nhón chân đi ra, để không đánh thức nó.

Ra đến cửa, chúng quay lại ngó chiếc giường lần chót. Chúng chẳng trông thấy gì ngoài hai bàn chân Pippi kê lên gối. Nó nằm đó, ngọ ngoạy thật lực các ngón chân.

Thomas và Annika đi về nhà. Annika nắm chặt chuỗi san hô trong tay.

“Nhưng cứ kỳ cục thế nào ấy,” Cô bé nói. “Thomas, hẳn anh không tin… anh có nghĩ rằng chính Pippi đã đặt sẵn các thứ từ trước không?”

“Chẳng biết được,” Thomas đáp. “Với Pippi thì đúng là chẳng biết đâu mà lần”.

3. Pippi chơi trò “Đuổi bắt” với Cảnh sát

Chả mấy chốc, cả thị trấn đều biết có một cô bé chín tuổi đang sống một mình ở Biệt thự Bát nháo. Các ông bố bà mẹ trong thị trấn cho rằng không thể để như vậy được. Mọi đứa trẻ đều phải có người dạy dỗ, mọi đứa trẻ đều phải đến trường và học toán. Bởi vậy họ bèn quyết định phải đưa ngay con bé con ở Biệt thự Bát nháo vào một trại hè. Một chiều đẹp trời nọ, Pippi mời Thomas và Annika sang uống cà phê, ăn bánh ngọt. Nó bày biện các thứ lên bàn và đặt phía trước hàng hiên. Nắng rực rỡ, mọi bông hoa trong vườn nhà Pippi đang toả hương thơm ngát. Ông Nilsson hết trèo lên lại trèo xuống mái hiên. Còn con ngựa cứ chốc chốc lại thò mõm ra để nhận bánh ngọt.

“Sống sướng thật!” Pippi nói và duỗi dài hai cẳng chân. Đúng lúc đó, hai cảnh sát mặc đồng phục từ chân lên đầu bước qua cổng vườn.

“A,” Pippi reo lên, “hôm nay tớ lại được một ngày may mắn rồi đây. Cảnh sát là thứ hay nhất mà tớ biết được… ngoài món me chua.”

Đoạn nó bước ra đón những người cảnh sát, mặt mũi rạng rỡ vì hân hoan.

“Có phải đây là cô bé vừa dọn đến Biệt thự Bát nháo không?” một cảnh sát hỏi.

“Ngược lại,” Pippi đáp, “Đây là một bà thím nhỏ tí sống trên tầng ba một toàn nhà ở tít cuối phố”.

Pippi nói vậy chỉ vì nó muốn đùa chút xíu với hai người cảnh sát. Nhưng hai người này lại chẳng thấy có gì đáng cười cả. Họ yêu cầu Pippi chấm dứt chuyện tếu. Và họ nói rằng những người tốt bụng trong thị trấn đã thu xếp để nó được nhận vào một nhà trẻ.

“Cháu đã có một chỗ trong nhà trẻ.” Pippi nói.

“Cháu bảo sao, đã ổn thoả cả rồi à?” một người cảnh sát hỏi. “Nhà trẻ ấy ở đâu vậy?”

“Ở đây ạ” Pippi hãnh diện đáp. “Cháu là một đứa trẻ và đây là nhà của cháu, vậy nó là cái nhà trẻ. Và cháu có chỗ ở đây. Khối chỗ.”

“Cô bé ơi.” Viên cảnh sát cười bảo, “cháu không hiểu rồi. Cháu phải vào một nhà trẻ chính cống và phải có người chăm sóc cháu.”

“Có thể đem theo ngựa vào một nhà trẻ không ạ?” Pippi hỏi.

“Không, cố nhiên là không,” viên cảnh sát đáp.

“Cháu cũng đã nghĩ thế,” Pippi rầu rĩ nói. “Vậy thế còn khỉ?”

“Tất nhiên là không được, cháu phải hiểu chứ.”

“Vâng,” Pippi nói, “nếu vậy các bác đành phải lo kiếm trẻ con ở đâu khác cho cái trại trẻ của các bác thôi. Cháu không có ý định đến đó đâu.”

“Ồ, nhưng cháu không hiểu là cháu phải đến trường hay sao?” người cảnh sát hỏi.

“Người ta đến trường để làm gì ạ?”

“Để học tất cả mọi thứ, đương nhiên rồi.”

“Mọi thứ gì ạ?”

“Nhiều thứ,” người cảnh sát đáp “ một lô những điều bổ ích, giả dụ như phép nhân, cháu biết không, hay bảng cửu chương.”

“Chín năm qua không có nhép phân[i] cháu vẫn sống tốt.” Pippi đáp, “vậy cháu cứ tiếp tục như thế cũng chẳng sao.”

“Ờ, nhưng cháu thử nghĩ xem, rồi đây cháu sẽ thấy xấu hổ vì hiểu biết quá ít. Mai này khi cháu đã lớn, ngộ có ai đó đến hỏi cháu tên thủ đô của nước Bồ   Đào Nha là gì, thế là cháu chịu không trả lời nổi.”

“Cháu trả lời nổi quá đi chứ.”Pippi đáp. “Cháu chỉ việc trả lời rằng: Nếu việc biết tên thủ đô của Bồ Đào Nha quá ư là quan trọng với cậu, thì cậu cứ viết thư thẳng sang Bồ Đào Nha mà hỏi!”

“Ồ, nhưng cháu không nghĩ rằng cháu sẽ thấy xấu hổ vì bản thân cháu không biết điều đó sao?”.

“Cũng có thể,” Pippi nói. “Biết đâu thỉnh thoảng tối đến cháu lại chẳng nằm thao thức và cứ tự hỏi đi hỏi lại: Thủ đô của nước Bồ Đào Nha tên là cái quái quỷ gì nhỉ? Con người ta đâu phải lúc nào cũng sống vô tư cho được.” Pippi nói và chống hai tay xuống đất trồng cây chuối. “Thêm nữa, cháu đã từng cùng bố ở Lisbon.” Cô bé nói tiếp trong khi hai chân chổng ngược lên trời vì ở tư thế này nó vẫn có thể nói chuyện thoải mái. Nhưng bây giờ một người cảnh sát liền nói có Chúa chứng giám, Pippi chớ có tưởng rằng nó muốn làm gì thì làm. Nó phải theo họ đến một trại trẻ, thậm chí là ngay lập tức. Ông ta lại gần Pippi, nắm cánh tay nó. Nhưng Pippi nhanh chóng thoát ra được. Nó khẽ đập vào ông ta và bảo : “Đố bắt được cháu đấy!”

Ông ra còn chưa kịp hiểu, Pippi đã nhảy phắt lên hiên nhà. Thêm vài động tác nữa, nó đã ở trên ban công phía trên hành lanh. Hai người cảnh sát không có hứng đuổi theo cô bé bằng cách trèo theo đúng đường của nó. Họ chạy vào nhà, leo cầu thang lên tầng trên. Nhưng khi họ lên đến ban công thù Pippi đã ở lưng chừng mái nhà. Nó chuyển động trên đám mái ngói khéo léo nhẹ nhàng tựa như một con khỉ. Thoắt cái đã ở đỉnh mái, rồi nhảy lên ống khói. Đứng dưới ban công, hai người cảnh sát sợ dựng tóc gáy, và dưới bãi cỏ, Thomas và Annika đang ngước nhìn Pippi.

“Chơi đuổi bắt vui ghê!” Pippi reo lên. “Và các bác thật có lòng tốt là đã đến đây. Rõ ràng hôm nay là một ngày may mắn của cháu.”

Sau một hồi nghĩ ngợi, hai người cảnh sát đi xuống lấy thang bắc lên một chái nhà. Và giờ họ lần thang leo lên, người trước, kẻ sau, hòng lôi cổ Pippi xuống. Thế nhưng lúc ở trên mái và bắt đầu lấy thăng bằng để đi về phía Pippi, trong cả hai đều thoáng vẻ sợ hãi.

“Các bác đừng sợ,” Pippi kêu lên, “Chẳng nguy hiểm gì đâu. Chỉ vui thôi.”

Khi hai người cảnh sát chỉ còn cách Pippi hai bước chân, cô bé bèn nhảy khỏi ống khói và chạy thoăn thoắt trên đỉnh mái sang chái nhà bên kia, giữa những tiếng gào thét và tiếng cười. Cách nhà vài mét là một cái cây. “Cháu lặn đây này!” Pippi kêu lên và nhảy thẳng xuống ngọn cây xanh, nó túm lấy một cành cây, treo mình đung đưa một lát, đoạn buông tay rơi xuống đất. Liền đó nó lao về chái nhà bên kia, cất bỏ cái thang.

Hai người cảnh sát tỏ ra hơi kinh ngạc khi Pippi nhảy xuống, nhưng họ càng kinh ngạc hơn khi cố giữ thăng bằng dò dẫm trên mái trở lại phía chái nhà, toan trèo thang xuống. Thoạt đầu họ nổi giận dùng đùng, quát gọi Pippi đem ngay cái thang lại, nếu không họ sẽ cho nó biết tay.

“Làm gì mà các bác cáu kỉnh thế ?” Pippi hỏi giọng đầy trách móc. “Chúng mình chỉ chơi trò đuổi bắt và chơi thì phải theo luật, cháu nghĩ thế”.

Hai người cảnh sát suy nghĩ giây lát, cuối cùng một người dịu giọng bảo:

“Này cháu, cháy có muốn tỏ ra ngoan ngoãn thì đặt lại cái thang để các bác xuống nào?”

“Muốn quá chứ ạ,” Pippi đáp và lập tức đem thang lại. “Rồi mấy bác cháu mình có thể uống cà phê và vui vẻ với nhau một lát nhé”.

Nhưng những tay cảnh sát đúng là xảo quyệt, vì vừa đặt chân tới đất họ đã nhảy bổ vào Pippi, miệng quát:

“Bây giờ thì mày sẽ biết thế nào là lễ độ, đồ quỷ con!”.

Nhưng Pippi đáp lại:

“Không, giờ cháu không còn thời gian chơi tiếp nữa đâu. Mặc dù trò này đến là vui, cháu công nhận thế”.

Và nó đường hoàng nắm thắt lưng xách cả hai đi dọc đường vườn, qua cổng, ra phố. Ở đó, nó đặt họ xuống. Hồi lâu sau, hai người kia mới hết sững sờ và nhúc nhắc nổi chân tay.

“Gượm đã,” Pippi gọi rồi chạy vào bếp. Nó đem ra mấy cái bánh hình trái tim.

“Các bác có muốn nếm thử không ?” Nó hỏi. “Hơi cháy một tẹo, nhưng chẳng sao đâu.”

Đoạn nó quay sang chỗ Thomas và Annika bấy giờ cứ đứng giương mắt lên, chưa thôi kinh ngạc. Còn mấy tay cảnh sát vội vã quay trở vào thị trấn, họ nói với tất thảy các ông bố, bà mẹ rằng Pippi có vẻ không thích hợp với trại trẻ. Họ không hé răng một lời về việc đã ở trên mái nhà. Và các bậc cha mẹ thấy có lẽ tốt nhất là cứ để cô bé ở lại Biệt thự bát nháo. Còn nếu muốn đi học thì nó phải tự đi mà lo lấy.

Nhưng Pippi, Thomas và Annika đã được hưởng một buổi chiều đến là thú vị. Chúng tiếp tục bữa tiệc cà phê bỏ dở. Pippi chén một lèo mười bốn cái bánh ngọt, đoạn nó bảo:

“Họ không phải là những người cảnh sát thực thụ như tớ vẫn nghĩ. Hoàn toàn không! Họ quá lắm lời về trại trẻ với nhép phân và Lisbon.”

Rồi nó dắt ngựa ra và cả ba cùng cưỡi trên lưng ngựa. Thoạt đầu Annika sợ hãi, nhưng sau khi thấy Thomas và Pippi cười hết sức thích thú, cô bé bèn cho phép Pippi nhấc cả mình lên ngựa. Và con ngựa đi nước kiệu loanh quanh trong vườn, cứ thế mãi. Thomas liền hát: “Đám quân Thụy Điển ầm ầm lao tới…”

Tối đến, khi Thomas và Annika đã lên giường, Thomas bảo:

“Annika, em có thấy việc Pippi đến đây ở thật tuyệt vời không?”

“Em thấy rõ là thế,” Annika đáp.

“Anh không sao nhớ nổi hồi trước, dạo Pippi chưa dọn tới, chúng mình đã chơi những trò gì. Em còn nhớ chứ?”

“Nhớ, chúng mình đã chơi crocket[ii] và những trò tương tự.” Annika nói. “Nhưng em thấy vui hơn nhiều khi được chơi với Pippi. Cùng với ngựa và khỉ của cô ấy nữa.”

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *