Trang chủ / Văn học nước ngoài / Những Chiếc Cầu Ở Quận Madison

Những Chiếc Cầu Ở Quận Madison

1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả : Robert James Waller

Download sách Những Chiếc Cầu Ở Quận Madison ebook PDF/PRC/EPUB/MOBI. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : SÁCH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

2. DOWNLOAD

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ? Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Tiếng hát vọng lại theo cỏ xanh và bụi đường. Một chiều cuối thu 89, ngồi tại văn phòng, tôi theo dõi điểm sáng trên màn hình máy tính thì điện thoại reo. Đầu dây kia là Michael Johnson. Hiện tại anh ta đang ở Florida nhưng trước kia sinh tại đây, bang Iowa này. Có một người bạn gởi cho anh ta một trong mấy cuốn sách của tôi. Michael Johnson, cả cô em gái Carolyn nữa, có đọc và, anh ta nói, họ biết một câu chuyện mà theo họ có thể làm tôi quan tâm. Họ cẩn thận không chịu nói gì thêm, nhưng hai anh em sẵn sàng đến đây gặp tôi để kể.

Xem ra họ có vẻ nhiệt tình, mặc dù tôi tỏ ra hững hờ trước những đề nghị loại như vậy. Tôi đành chấp nhận gặp họ tại Des Moines tuần tới.

Tại quán Holiday Inn gần phi trường, giới thiệu xong, khi sự lúng túng qua đi, cả hai ngồi xuống trước mặt tôi. Bên ngoài, chiều xuống chậm trên bầu trời tuyết mịn. Họ bắt tôi hứa một điều: Nếu tôi quyết định không viết lại câu chuyện, sẽ không nói cho ai biết về sự tình đã xảy ra ở quận Madison năm 1965, kể cả những gì diễn ra 24 năm sau đó. Được thôi, cũng hợp lý. Bởi dẫu sao, đó cũng là chuyện của họ chứ đâu phải của tôi.

Vậy thì tôi lắng nghe. Tôi lắng nghe chăm chú và đặt những câu hỏi khó trả lời. Còn họ thì nói. Nói mãi. Có lúc Carolyn khóc và không giấu giếm, còn ông anh Michael thì cố chế ngự. Họ cho tôi xem tài liệu, bài vở cắt ở các tạp chí và những trang nhật ký riêng của mẹ họ, Francesca.

Hầu bàn tới rồi lui. Chúng tôi uống cà phê. Khi họ nói, tôi bắt đầu xem các tấm hình. Lời họ lọt vào tai. Tôi bắt đầu nghe, rồi vừa hình dung những từ ngữ ấy trên trang giấy. Gần quá nửa đêm, tôi chấp thuận viết lại câu chuyện… hay ít ra tôi sẽ thử viết. Việc quyết định khơi mở ra ánh sáng những sự việc này trước đây đối với họ thật khó khăn. Hoàn cảnh rất tế nhị bởi nó liên quan đến mẹ họ và gián tiếp đến bố họ nữa. Cả Michael và Carolyn đều biết rằng một câu chuyện như thế thì có thể là dịp cho những lời đàm tiếu khó chịu và cả những lời lăng mạ những kỉ niệm mà Richard và Francesca Johnson để lại.

Dẫu sao, trong một thế giới mà sự hiện diện cá nhân dưới mọi hình thức đều dường như mất giá trị, trong một thế giới mà tình yêu là một sự thỏa hiệp về vấn đề tiện nghi, cả hai cảm thấy câu chuyện này đáng để kể lại. Khi đó tôi cũng thấy như vậy và bây giờ càng tin chắc rằng họ có lý.

Trong suốt thời gian nghiên cứu rồi biên tập lại cuốn sách này, tôi yêu cầu gặp họ ba lần. Mỗi lần như thế họ đều đến Iowa gặp tôi, chẳng chút dè dặt. Họ chỉ muốn câu chuyện được kể lại một cách thật trung thực. Thường khi chúng tôi ngồi nói chuyện, cũng có lúc đi lững thững theo các con đường trong quận Madison để họ có thể chỉ rõ những nơi xảy ra sự tình. Ngoài lời kể của Michael và Carolyn, tôi còn căn cứ trên cuốn nhật ký của Francesca Johnson; trên những tìm tòi của chính tôi ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ, đặc biệt tại Seattle Bellingham, trong bang Washington; những cuộc dò hỏi bí mật ở quận Madison, ở Iowa; những thông tin thu lượm được trong những bài báo ảnh của Robert Kincaid; cả sự giúp đỡ bằng thư từ của các biên tập viên các tạp chí, những chi tiết kỹ thuật của các nhà làm phim ảnh, và nhất là những cuộc nói chuyện dài dòng với các người già còn sống ở viện dưỡng lão ở Barnesville bang Ohio, những người còn nhớ tới Kincaid thời trẻ.

Mặc cho những nỗ lực của tôi, vẫn có những khoảng trống tồn tại. Tôi đã phải vận dụng một ít trí tưởng tượng để lấp đầy, nhưng chỉ khi tôi có thể chứng minh bằng sự hiểu biết riêng tư về Francesca Johnson và Robert Kincaid mà tôi cảm nhận được trong suốt quá trình nghiên cứu. Tôi tin rằng mình đã tiếp cận được gần với những diễn biến thật nhất.

Khá nhiều chi tiết còn thiếu liên quan đến chuyến đi của Kincaid lên phía Bắc nước Mỹ. Chúng tôi chỉ biết ông thực hiện chuyến đi này theo các bức ảnh ông đăng trên tạp chí cũng như theo lời Francesca nhắc trong nhật ký, cùng vài thư nhắn Kincaid viết cho Tổng biên tập. Do những nguồn vắn tắt như vậy, tôi lại lần theo con đường ông ta đi từ Bellingham trong tiểu bang Washington cho đến quận Madison trong mùa hè 1965. Đến Madison, cuối cuộc hành trình của chính tôi, thì tôi có cảm giác rằng, nhiều mặt, tôi đã trở thành Robert Kincaid. Điều đó có nghĩa là nỗ lực nắm lấy “yếu tính” của Kincaid chính là sự dấn thân đích thực nhất của việc viết cuốn sách này. Và đó là một nhân vật khó nắm bắt. Có lúc, ông ta gần như một người bình thường. Lúc khác thì phiêu bồng như không thực. Miệt mài với công việc, dẫu vậy ông lại tự xem mình như thể một loài thú đặc biệt đang trên đà diệt chủng trong một thế giới càng lúc càng có tổ chức chặt chẽ hơn. Ngày nọ, ông ta từng nói về “tiếng kêu thảm khốc” của thời gian đang vọng lại trong đầu mình, và Francesca Johnson thì miêu tả ông như là một con người sống trong “những vùng xa lạ, ma quái, rất xa những điều căn bản của luân lý bình thường”.

Có hai câu hỏi đơn độc vẫn mãi mãi không có câu trả lời. Thứ nhất, cho đến nay chúng tôi vẫn không thể xác định cái gì xảy ra với tập tài liệu ảnh của Kincaid. Cứ theo nghề nghiệp của ông ta, hẳn ông ta phải để lại hàng vạn, hàng chục vạn bức ảnh. Thế mà người ta chẳng bao giờ tìm thấy. Điều có khả năng nhất – và nó thích hợp với cách ông ta nhìn về chính mình và về vị trí của ông trong thế giới này – ông đã hủy hết tất cả trước khi chết.

Câu hỏi thứ hai liên quan đến việc ông ta làm trong thời gian giữa năm 1975 đến 1982. Rất ít thông tin: Ông kiếm sống rất khiêm tốn bằng cách chụp ảnh chân dung ở Seattle nhiều năm rồi tiếp tục chụp ảnh khu Puget Sound. Ngoài ra, tôi chẳng biết gì hơn. Cũng cần ghi chú thêm là tất cả những thư từ gửi đến ông ta từ Phòng an sinh xã hội và Hội cựu chiến binh đều được gởi trả lại với lời ghi “trả lại người gửi” do chính tay ông ta viết.

Việc chuẩn bị soạn cuốn sách này làm thay đổi nhãn quan của tôi về thế giới, làm chuyển biến cách suy nghĩ của tôi, và nhất là làm tôi ít trơ tráo hơn trong cách nhìn về mối quan hệ giữa con người. Trong việc tìm biết Francesca Johnson và Robert Kincaid như tôi đã làm trong suốt quá trình thu thập tài liệu, tôi mới khám phá ra rằng trong những mối quan hệ đó, các biên cương ngăn cách có thể bị đẩy lùi xa đến mức tôi không ngờ. Có thể bạn cũng sẽ có cùng cảm giác với tôi khi đọc chuyện này. Vì điều đó đâu có dễ. Trong một thế giới càng ngày càng khô cứng lại, chúng ta luôn tự hào cho mình một lớp vỏ rắn nhằm che chở cho những tình cảm đã chết của mình. Biên giới phân ranh một niềm đam mê lớn và chân thật với những tình cảm ủy mị thái quá nằm ở đâu, tôi không thể biết. Nhưng tôi biết cái xu hướng tự nhạo báng về nỗi đam mê của mình, cái khuynh hướng muốn xếp loại những tình cảm thuần khiết sâu xa như là những gì ẻo lả, ướt át rẻ tiền chính là trở ngại cho việc đi vào cái thế giới dịu dàng chứa đựng những câu chuyện của Francesca Johnson và Robert Kincaid này. Tôi biết rằng tôi phải vượt qua cái định kiến đó mới có thể bắt đầu được.

Dẫu vậy, nếu như bạn, bằng cách tự nguyện tạm gác lại lòng ngờ vực của mình như cách nói của Coleridge – để đọc tiếp những dòng sau đây, tôi tin rằng bạn cũng sẽ trải qua những điều như tôi đã trải qua. Và cả những miền hờ hững của con tim bạn, rồi bạn cũng sẽ tìm thấy – như Francesca Johnson và Robert Kincaid đã tìm thấy một cõi bờ để có thể tự ca múa một lần nữa.

Robert Jame Waller

Cedar Fails, Iowa Hè 1991

 

ĐỌC THỬ

ROBERT KINCAID

Ngày 8 tháng 8 năm 1965, buổi sáng. Robert Kincaid đóng cửa căn hộ hai phòng nhỏ xíu thuộc tầng ba trong một tòa nhà hình dạng khá kỳ cục ở Bellingham, tiểu bang Washington. Ông bước xuống cầu thang gỗ, tay xách vali, còn chiếc ba lô đeo lưng chứa đầy dụng cụ nhiếp ảnh, qua hành lang ra phía cửa dẫn đến chiếc xe tải cỡ nhỏ cũ kỹ của mình hiệu Chevrolet, đang đậu ở chỗ dành riêng cho người sống trong chung cư.

Trong xe, có một ba lô khác, một thùng đựng nước đá cỡ nhỏ, vài bịch Camel, một bình thủy, một giỏ trái cây. Sau “cốp” xe, để một cây đàn ghi-ta. Ông đặt hai xắc vào chỗ ngồi, còn thùng nước đá và giá máy ảnh thì cho nằm trên sàn. Vòng ra phía sau nhét lại cây đàn và chiếc vali, chèn thêm một bánh xe “xơ cua” vào cho khỏi lắc rồi buộc bằng một sợi dây vải. Dưới sợi dây, ông còn phủ một miếng vải dầu cho chắc ăn.

Rồi ông ngồi vào tay lái, đốt một điếu Camel và đưa mắt nhìn đồ đạc đem theo một lần cuối: gần 200 tấm phim các loại, nhất là phim Kodachrome tốc độ chậm; mấy cái giá ba chân, thùng nước đá, ba máy ảnh và năm ống kính; mấy chiếc quần Jean và kaki, sơ mi. Ô kê. Đủ rồi. Nếu có quên gì thì có thể mua dọc đường.

Kincaid mặc một chiếc quần Levi’s bạc màu, ủng đi đường hiệu Red Wing cũ mèm, áo sơ mi kaki, dây đeo quần màu vàng. Nơi chiếc nịt bằng da to bự đeo một con dao loại của quân đội dùng, nằm trong bao.

Ông nhìn đồng hồ: 8 giờ 17. Chiếc xe tải nhỏ nổ máy. Ông phóng nhanh qua những ngõ hẹp dưới ánh mặt trời đang còn bị che khuất. Ông băng qua Bellingham, theo hướng Nam về Đường Washington 11, men đường ở Puget Sound vài ki-lô-mét rồi theo đường quốc lộ hơi chếch về hướng Tây trước khi đến giao lộ để đi vào Đường 20.

Ông chuyển vào con lộ dài và ngoằn ngoèo xuyên qua rặng Cascades dưới ánh mặt trời. Ông thích vùng này và cảm thấy rất tự do, khi ngừng lại chỗ này chỗ kia để ghi chú, đề phòng lần sau có thể ghé lại hoặc để chụp một vài tấm ảnh mà ông gọi là loại ảnh “aide-mémoire”. Sau đó ông có thể xem lại và nếu thấy thích thì có thể nghiên cứu kỹ càng hơn. Cuối chiều, Kincaid đi về phía Bắc đến lộ 2 dẫn tới phía Bắc Hoa kỳ, tới Duluth của bang Minnesota.

Hàng ngàn lần trong đời, ông tự nhủ mình cần có một con chó, chắc là một loại chó săn màu vàng, để đem theo trong những chuyến đi như thế này và làm bạn đồng hành khi về nhà. Nhưng ông thường đi vắng quá, và cuộc sống như thế không phù hợp với súc vật. Dẫu vậy, ông vẫn mãi nghĩ đến điều đó. Một vài năm nữa, ông sẽ quá già, không làm nổi những phóng sự về phong cảnh đất đai như thế này nữa. “Lúc đó có lẽ mình sẽ kiếm một con chó” – ông nói với hàng thông đang vút xa nơi kính chiếu hậu.

Những cuộc đi xa như thế này càng thôi thúc ông ý định đó. Con chó sẽ là bạn đường. Bởi Robert Kincaid là một người cô đơn. Ông là đứa con duy nhất, cha mẹ đều chết, một gia đình xa vời đã mất dấu, như chính ông đã mất dấu về mình, không một người bạn thân. Ông chỉ biết tên của người chủ hiệu bán thực phẩm ở Bellingham và người chủ tạp chí mà ông cung cấp ảnh. Ngoài ra, ông chỉ giữ mối liên lạc nghề nghiệp hoàn toàn hình thức với người chủ biên của tạp chí. Ngoài những người này ra, ông hầu như không biết một ai và cũng chẳng ai biết ông. Những người du mục là những kẻ khó kết bạn nhất với những người bình thường mà ông thì có một ít chất du mục trong người.

Ông nghĩ tới Marian. Bà này đã chia tay chín năm trước đây sau năm năm chung sống. Giờ đây ông 52 tuổi, vậy thì bà ta hẳn phải 40. Marian ước muốn thành nhạc công hoặc ca sĩ dân ca. Bà biết tất cả các bài hát của Weaver và trước đây hát khá hay trong các quán ăn ở Seattle. Vào thời đó, những khi ông ở nhà, ông thường dẫn bà đi nghe nhạc và cố ở lại trong phòng đợi đến phiên bà lên sân khấu.

Những lần vắng mặt dài – có khi hàng hai, ba tháng – đè nặng lên cuộc sống vợ chồng của họ. Ông biết thế. Khi cưới nhau, Marian biết cuộc sống của ông là như thế, nhưng cả hai nghĩ mơ hồ rằng họ có thể hòa hợp với nhau. Hóa ra không thể. Lần nọ, khi ông trở về sau một hành trình làm phóng sự ở Băng Đảo, Marian không còn ở nhà. Bà chỉ nhắn lại vỏn vẹn: “Robert, không thể như thế này mãi được. Em để lại cây ghi-ta. Sẽ liên lạc với nhau”.

Ông không liên lạc. Bà cũng vậy. Khi nhận được giấy tờ ly hôn – một năm sau đó – ông ký rồi ngay ngày hôm sau lên máy bay sang Úc. Bà không đòi hỏi điều gì ngoài sự tự do.

Tại Kalispell, bang Montana, khá khuya, ông dừng lại để nghỉ. Quán trọ giá rẻ, phục vụ cũng tốt. Ông chuyển đồ đạc vào phòng, có hai ngọn đèn giường, một bóng mờ. Ông duỗi trên giường, nhấp một ngụm bia, đọc Những ngọn đồi xanh ở Châu Phi rồi ngủ tiếp. Sáng sớm, ông xuống chạy bộ độ hơn nửa giờ, làm mười lăm cái hít đất rồi đi sửa soạn máy ảnh như thể đó là phần cuối của bài thể dục…

Ông đi xuyên qua Montana, tiến vào North–Dakota. Cái vùng đất bát ngát, bằng phẳng và khô khan này cũng quyến rũ ông như là vùng núi hay biển. Nó toát ra một vẻ đẹp khắc khổ và ông phải dừng lại nhiều lần, đặt giá ảnh để chụp mấy tấm ảnh đen trắng các nông trại cũ kỹ. Cái xứ sở khô cằn này hợp với khuynh hướng khắc kỷ, khổ hạnh của ông. Các vùng đất dành riêng cho người da đỏ này mang một vẻ u buồn trầm uất vì nhiều lý do mà người ta có thể biết hoặc không biết.

Sáng 14 tháng 8, ông ở lại hai tiếng ở Duluth, rồi quặt về phía Tây Bắc, theo đường đến Hibbing và qua các mỏ sắt. Qua màn bụi đỏ, người ta có thể thấy những chiếc máy khổng lồ và những đoàn toa xe chở quặng sắt đến tận những chiếc tàu bốc hàng neo ở vùng Thượng Hồ. Ông nghỉ lại suốt chiều, đi dạo ở Hibbin và thấy rằng nơi đây không phải là chốn thích hợp với ông, cho dù Bob Dylan có sinh ra ở đây đi nữa.

Cô gái từ miền phía Bắc là bài hát duy nhất của Dylan mà ông không bao giờ thích, dù ông có thể vừa chơi ghi-ta bài này vừa hát. Ông vừa hát nhẩm cho mình nghe vừa rời khỏi cái vùng đầy hang hốc màu đỏ khổng lồ này. Trước đây, Marian đã dạy ông để ông đệm đàn cho bà hát. “Bà ấy để lại cho mình nhiều hơn là mình để lại cho bà”, ngày nọ ông đã nói như thế với một anh hoa tiêu đang chếnh choáng trong quán rượu Mac Elroy, nằm đâu đó ở vùng châu thổ Amazone. Và điều đó đúng.

Rừng vùng này đẹp, thật đẹp. Y như một giấc mơ cho người lữ khách. Từ thuở còn trẻ, ông đã ước chi thời đại của những nhà du hành lớn vẫn còn để mình có thể tham dự. Ông lái xe xuyên qua những cánh đồng xanh mướt, trông thấy ba con tuần lộc, một con chồn lông đỏ và rất nhiều nai. Ông dừng xe trước mặt một cái hồ và chụp mặt nước phản chiếu một cành cây có hình dáng lạ.

Chụp xong, ông ngồi xuống nơi bậc xe làm một ngụm cà phê, hút một điếu Camel và lắng nghe tiếng gió lùa qua rặng cây phong.

“Thật dễ chịu nếu bên mình có một ai đó, một người đàn bà chẳng hạn”. Ông vừa nghĩ vừa nhìn làn khói thuốc lan dần trên mặt hồ. “Cứ về già là người ta hay có cái ý tưởng như vậy đó”. Nhưng mà cái kiểu ông cứ vắng mặt hoài như vậy thật khó cho bất cứ người phụ nữ nào đợi ông ở nhà. Thì ông đã có kinh nghiệm về chuyện này rồi mà!

Hồi ở Bellingham, thỉnh thoảng ông cũng gặp gỡ một bà làm giám đốc mỹ thuật cho một hãng quảng cáo ở Seattle. Ông gặp bà ta khi thực hiện một số tấm hình cho hãng này. Bốn mươi hai tuổi, khá thông minh. Một phụ nữ khá thú vị, nhưng ông không bao giờ yêu bà này.

Đôi khi họ cũng gặp nhau riêng, đi ăn tối, xem phim, uống vài cốc bia và sau đó, làm tình với nhau. Bà này là một người từng trải – hai đời chồng, từng phục vụ trong quán rượu để kiếm tiền ăn học. Bao giờ cũng vậy, khi họ làm tình với nhau xong, nằm áp người vào nhau, bà bảo ông: “Anh là người tuyệt nhất. Robert ạ, không ai sánh với anh được, cả bằng một phần mười của anh cũng không sánh được”.

Chắc chắn một người đàn ông nào nghe thế cũng rất thỏa dạ, nhưng thật ra ông chẳng có cách nào để biết rõ bà này nói thật hay không. Dẫu sao thì bà ta thú nhận một điều làm ám ảnh ông mãi: “Robert, nơi anh có một sức mạnh mà em không đủ sức để giải phóng nó ra, em cũng không có sức mạnh để đạt tới. Đôi khi em nghĩ rằng anh đã sống từ một thời gian rất xa xưa, dài hơn một đời người, em tưởng như anh đã đi qua những vùng bí ẩn mà những người như em không thể tưởng tượng ra. Anh làm em sợ, mặc dù anh rất dịu dàng với em. Nếu em không hung bạo với chính mình để tự chế ngự, em có cảm giác rằng em sẽ đánh mất mình mãi mãi…”.

Ông mơ hồ biết bà ta muốn nói điều gì, mặc dù chính ông cũng không thể nắm bắt được. Ông từng biết đến cái ý tưởng hỗn độn ấy, một nỗi buồn man mác đi lần đến chỗ bi thảm, kết hợp với sức mạnh thể chất và trí tuệ rất lớn của ông, khi ông còn rất bé, nơi một thị trấn nhỏ ở Ohio. Thời đó, khi những đứa bé trai như ông hay hát “Row, row your boat” thì ông thích một bài ca hát trong quán rượu có nguồn gốc Pháp.

Ông yêu các từ và hình ảnh của bài hát. “Xanh” là một trong những từ ông ưa thích nhất. Ông thích thú cái cảm giác có được nơi môi và lưỡi mình khi phát âm ra từ đó. Cái từ không chỉ có nghĩa mà còn có một thực tại vật chất, ông nhớ lại mình thường nghĩ như vậy ngay từ khi còn bé. Ông cũng yêu những từ khác như “xa”, “củi hồng”, “con đường”, “cổ xưa”, “lối đi”, “lữ hành”, “Ấn Độ”… vì chính âm hưởng, khẩu vị và hình ảnh mà chúng gợi lên. Trong phòng, ông treo các từ ông ưa thích lên tường:

Quá gần lửa

Tôi từ phương Đông trở về với một nhóm lữ hành

Bùa ơi, bùa ơi, hãy vén màn bí mật

Hoa tiêu, hoa tiêu ơi, hãy chỉ cho ta đường về

Trước khi là người, tôi là một mũi tên

Từ rất lâu rồi.

Rồi ông viết những nơi chốn, xứ sở mà tên gọi của chúng ông rất yêu dấu: eo biển Somalia, rặng núi Big Hatchet, eo biển Malacca và biết bao tên khác nữa. Vô số tờ giấy rời viết các từ, câu, tên các xứ được dán cho đến khi tường phòng không còn một chỗ trống.

Chính mẹ ông cũng thấy ông có cái gì khác thường. Ông không nói một tiếng cho đến khi lên ba, rồi thì bắt đầu nói cả câu trọn vẹn, và đọc giỏi từ lúc lên năm.

Ở trường, ông là một cậu học sinh hờ hững thường khiến các thầy giáo nhầm về ông. Khi thấy kết quả trắc nghiệm trí thông minh của ông có chỉ số rất cao, một trong các thầy giáo đã viết vào sổ liên lạc đề nghị trao đổi với gia đình.

Mẹ Robert Kincaid gặp đủ các giáo viên của trường. Khi các ông này nói sự phản kháng thụ động, về khả năng của ông, bà đã trả lời: “Robert sống trong thế giới của nó. Nó là con tôi, nhưng đôi khi tôi sinh ra nó, mà nó phát xuất từ một nơi nào khác và nó luôn luôn muốn trở về”.

Nhưng ông lại rất thích đọc các chuyện phiêu lưu và du lịch tìm được nơi thư viện thị xã. Thì giờ còn lại ông muốn ở một mình. Suốt ngày ông lang thang bên bờ con sông chảy ngang qua thành phố, tránh tất cả buổi khiêu vũ, cuộc chơi bóng của bạn bè. Ông câu cá, bơi lội, đi lang thang hoặc nằm dài trong đám cỏ cao để lắng nghe những tiếng nói từ rất xa mà ông tự bảo chỉ có mình ông nghe thấy. “Nơi kia có rất nhiều linh hồn. Nếu mình yên lặng chăm chú, chúng sẽ nói chuyện với mình” – Ông tự nhủ. Và ông cũng ao ước có một con chó để chia sẻ với mình những lúc như vậy.

Gia đình không đủ tiền để gởi ông vào đại học, vả lại cũng không hề có ý định đó. Cha ông phải làm việc vất vả; ông ta lo lắng cho vợ và cho con trai, nhưng công việc trong nhà máy chỉ cho phép họ thỏa mãn những nhu cầu hết sức tối thiểu chứ không thể có gì khác hơn, ngay cả sắm một con chó cũng vậy. Robert mười tám tuổi khi cha qua đời, và cuộc sống càng khốn khó, ông phải vào quân đội để có thể giải quyết nhu cầu sinh sống cho mình và cho mẹ. Ông chỉ ở quân ngũ bốn năm, nhưng bốn năm đó đã thay đổi cuộc sống của ông.

Ở quân đội, ông được bổ nhiệm làm phụ tá nhiếp ảnh, mặc dù khi đó Robert Kincaid chưa biết đến cả cách lắp một cuộn phim vào máy ảnh. Thế mà, với công việc mới này, bỗng nhiên ông khám phá ra nghề nghiệp của mình. Chi tiết kỹ thuật đối với ông không có gì khó khăn. Chưa đầy một tháng, ông không những đảm trách được công việc rửa ảnh trong phòng tối mà còn có thể tự mình thực hiện được những đồ án đơn giản nữa.

Một trong các nhiếp ảnh gia là Jim Peterson rất thích ông. Ông ta dành rất nhiều thời gian để dạy cho Robert những điều tinh túy của nghề nghiệp. Robert mượn nhiều sách nhiếp ảnh và sách nghệ thuật tại thư viện địa phương về nghiên cứu ngày đêm. Ngay từ đầu, ông đã đặc biệt yêu thích các họa sĩ ấn tượng Pháp cũng như cách sử dụng ánh sáng nơi tranh của Rembrandt. Dần dà, chính ánh sáng mới là cái mà ông tìm cách nắm bắt, chứ không phải đồ vật. Đồ vật chẳng qua chỉ là cái để nâng đỡ sự phản chiếu của ánh sáng. Nếu sử dụng ánh sáng tốt, người ta có thể chụp bất cứ vật gì. Ngoài cái máy 35 li thời ấy đang được ưa chuộng, ông còn kiếm được một máy Leica tình cờ nơi một cửa hiệu nhỏ. Trong tuần nghỉ phép, ông mang máy này đến Cape May ở New Jersey đi chụp ảnh suốt tuần ở bờ sông.

Một lần khác, ông đáp xe hàng đi Maine, dừng lại ở bờ biển, chụp ảnh cảnh chiếc tàu chở thư đi giữa Stonington và các hòn đảo kế cận. Ông cắm trại luôn tại bờ biển, rồi sau đó dùng phà vượt vịnh Fundy đến Nova-Scotia. Ông bắt đầu ghi chú những cảnh, nơi ông muốn trở lại khi ông giải ngũ. Mới hai mươi hai tuổi, ảnh của ông được đánh giá cao và ông kiếm được một chức phụ tá cho một nhiếp ảnh viên thời trang có tiếng ở New York.

Các cô người mẫu thời trang thì thiếu gì người đẹp, ông quen với một cô và gần như yêu cô này; rồi khi cô ta đi Paris, cô bảo ông: “Robert, em không biết rõ thực sự anh là ai, nhưng nếu anh muốn, hãy đến tìm em ở Paris”. Ông trả lời là ông sẽ đến. Khi đó ông nói thật, nhưng rồi ông chẳng bao giờ đi. Rất nhiều năm sau, khi ông thực hiện một phóng sự ảnh ở bờ biển Normandie, ông tìm thấy tên cô ta trong một cuốn niên giám điện thoại. Ông gọi điện cho cô và hai người gặp nhau nơi sân thượng một quán cà phê ở Paris. Cô đã thành hôn với một nhà làm phim và đã có ba đứa con.

Thời trang chẳng làm ông ưa thích chút nào. Người ta chạy theo kiểu này kiểu nọ, đôn đáo bắt chước theo kiểu váy ngắn, váy dài Âu châu. Ông thấy điều đó thật là ngốc và thấy nhục khi phải chụp những kiểu ảnh như vậy. Cuối cùng ông xin thôi việc.

Mẹ ông qua đời khi ông đã ở New York hơn một năm. Ông về Ohio để chôn cất bà cụ và ngồi trước mặt một luật sư nghe đọc di chúc. Cũng chẳng có điều gì quan trọng lắm. Và ông cũng chẳng chờ đợi gì. Nhưng ông khá ngạc nhiên khi biết là cha mẹ ông đã dành dụm được một số vốn nho nhỏ cùng với ngôi nhà bé tí mà họ ở từ khi lấy nhau. Ông bán ngôi nhà, và cùng với tiền họ để lại, mua một số dụng cụ tốt nhất, nghĩ đến những năm tháng cực nhọc để dành từng đô-la, nghĩ đến cuộc sống khốn khổ mà cha mẹ ông đã sống.

Một số ảnh ông chụp bắt đầu xuất hiện ở các tạp chí nhỏ. Rồi tờ National Geographic gọi ông. Họ có xem tấm ảnh đăng trên cuốn lịch ông chụp mũi May. Ông thảo luận với họ, hoàn toàn tự tin về nghề nghiệp. Họ nhận ông.

Nhưng quân đội lại gọi ông một lần nữa năm 1943. Ông theo các thủy quân lục chiến đi suốt những con đường dọc bờ biển Nam Thái Bình Dương, với chiếc máy ảnh lắc lư trên vai hoặc lủng lẳng sau lưng, chụp những khuôn mặt. Ông đã thấy những con người bị một lằn liên thanh cắt làm đôi, đã thấy họ kêu Chúa trời hoặc kêu mẹ. Ông chịu đựng tất cả, sống sót và không bao giờ biểu lộ tính chất oai hùng hay lãng mạn trong các phóng sự chiến trường.

Năm 1945, giải ngũ, ông liền gọi cho tờ National Geographic. Họ vẫn đợi ông. Ông mua một chiếc mô tô lái xuống Big Sur, bắt tình với một cô nàng nhạc công vĩ cầm rồi đi ngược lên tham quan cảnh bang Washington. Ông yêu thích xứ này và quyết định ở hẳn tại đây…

***

Giờ đây, tuổi đã năm hai, ông vẫn luôn luôn quan sát ánh sáng như thuở nào. Ông đã đi thăm hầu hết các nơi mà địa danh viết đầy trên tường phòng ông thuở bé. Ông thấy cảm khái tuyệt vời khi đến các nơi đó, khi ngồi nơi quán rượu ở một xứ xa xôi, khi ngược dòng Amazone bằng chiếc xuồng máy, hay khi lắc lư theo nhịp bước của lạc đà xuyên qua sa mạc Rajasthan…

Bờ Thượng Hồ cũng đẹp như sách miêu tả. Ông ghi chú vào địa điểm, chụp vài ảnh rồi đi về Nam, dọc sông Mississippi. Trước đây ông chưa bao giờ ở vùng Iowa này, nhưng những ngọn đồi xanh mướt bao quanh phía Đông Bắc con sông quyến rũ ông vô cùng. Ông dừng xe ở thành phố nhỏ Clayton, ở trong một quán trọ dành cho người câu cá và để hết hai buổi sáng để đi chụp ảnh các tàu kéo, còn buổi chiều thì chụp cảnh một chiếc tàu đáy bằng, theo lời yêu cầu của một thủy thủ tình cờ gặp trong quán rượu. Cắt đường về phía lộ 65, ông lái xe xuyên qua Des Moines vào một buổi sáng sớm ngày thứ Hai, 16 tháng 8 năm 1965, nhắm về phía Tây trên Iowa 92 hướng về quận Madison và những chiếc cầu có mái che chắc phải có ở vùng này, theo lời khẳng định của tờ National Geographic. Quả vậy, người ở trạm xăng Texaco xác nhận với ông và còn cho biết có tất cả bảy cây cầu như vậy.

Ông tìm thấy sáu cây cầu dễ dàng, và lên kế hoạch chọn góc độ để chụp. Cây cầu thứ bảy, tên là Roseman, thì không tìm thấy. Trời nóng bức, ông cũng nóng và Harry – tên chiếc xe tải nhỏ của ông – máy cũng nóng sùng sục, mà ông thì như đang ở trên đường qua cõi vô tận.

Khi đến một xứ lạ, ông dùng phương pháp “hỏi ba lần”. Ông khám phá ra rằng với ba câu trả lời, dẫu đều sai, cũng sẽ hướng dẫn ta dần dần về nơi ta định đến. Ở nơi đây thì có lẽ chỉ cần hai lần là đủ.

Ông thoáng thấy một hộp thư, dựng trước một lối đi độ chừng 100 mét. Trên hộp có dòng chữ: “Richard Johnson, RR2”. Ông cho xe chậm lại, quẹo vào ngõ để hỏi thăm đường. Khi ông dừng xe trước sân, một người đàn bà đang ngồi trên hiên. Ông thấy trời mát hẳn và người đàn bà này đang uống một cái gì đó còn mát hơn nữa.

Người đàn bà rời hiên và tiến lại phía ông. Ông xuống xe rồi nhìn bà, nhìn gần hơn nữa, gần hơn nữa. Một người đàn bà tuyệt vời, như thể thuộc về một thời đại nào đó của quá khứ. Và tức khắc ông cảm thấy mình bị tràn ngập bởi cơn choáng váng xa xưa luôn luôn chế ngự ông khi ông đối diện với những phụ nữ mà ông khao khát, dẫu một cách mơ hồ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *