Trang chủ / Văn học nước ngoài / Khi Lỗi Thuộc Về Những Vì Sao

Khi Lỗi Thuộc Về Những Vì Sao

Nội dung

Mặc dù phép màu y học đã giúp thu hẹp khối u và ban thêm vài năm sống cho Hazel nhưng cuộc đời cô bé đang ở vào giai đoạn cuối, từng chương kế tiếp được viết theo kết quả chẩn đoán. Nhưng khi có một nhân vật điển trai tên là Augustus Waters đột nhiên xuất hiện tại Hội Tương Trợ Bệnh Nhi Ung Thư, câu chuyện của Hazel sắp được viết lại hoàn toàn.

Sâu sắc, táo bạo, ngang tàng, và thô ráp, Khi lỗi thuộc về những vì sao là tác phẩm thương tâm và tham vọng nhất của John Green, tác giả của những giải thưởng, nhưng đồng thời lại khám phá một cách khéo léo nét hài hước, li kỳ, và bi thảm của việc sống và việc yêu.

Về tác giả

John Michael Green (sinh ngày 24 tháng 8 năm 1977) là một tác giả người Mỹ viết tiểu thuyết dành cho tuổi thiếu niên. Năm 2014, theo tạp chí Time, Green nằm trong số “100 nhân vật có sức ảnh hưởng nhất thế giới”.

John Green sinh ra tại Indianapolis, nơi mà ông đã đặt làm bối cảnh chính cho tiểu thuyết ăn khách “Khi lỗi thuộc về những vì sao”. Ngay từ nhỏ, gia đình của Green đã di chuyển liên tục nhiều nơi, điều này đã tạo ra niềm đam mê khám phá thế giới xung quanh.

Sau khi tốt nghiệp Đại học, Green dành năm tháng thực tập ở Bệnh viện Quốc gia Nhi đồng tại Columbus, Ohio. Tác giả dự định sẽ trở thành linh mục của trường Episcopal, nhưng trải nghiệm làm việc trong bệnh viện cùng những trẻ em hứng chịu các căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng đã thôi thúc ông trở thành một tác giả và sau đó viết cuốn “Khi lỗi thuộc về những vì sao”.

Ngoài việc viết lách, Green cùng người em trai Han Green quản lý một trang Youtube rất nổi tiếng có tên là VlogBrothers, hiện có trên 2.8 triệu người theo dõi. Một kênh Youtube rất thú vị để người hâm mộ nhà văn này được nghe ông nói về đủ thứ chuyện trên đời.

Năm 2006, ông đoạt Giải thưởng Printz cho cuốn tiểu thuyết đầu tay, Looking for Alaska và tiểu thuyết thứ sáu của ông, The Fault in Our Stars đứng hạng nhất trong bảng xếp hạng bán chạy nhất của tạp chí The New York Times vào tháng 1 năm 2012. Bộ phim chuyển thể cùng tên năm 2014 cũng đứng đầu các phòng vé.

Năm 2016, John Green lọt vào top những nhà văn có thu nhập cao nhất trên thế giới.

Chuyển thể thành phim

Vào tháng 1 năm 2012, Fox 2000, thuộc 20th Century Fox, đã mua được bản quyền để chuyển thể cuốn tiểu thuyết lên màn ảnh rộng. Scott Neustadter và Michael H. Weber đồng viết kịch bản. Josh Boone ký tên và đồng ý làm đạo diễn một năm sau đó, tức tháng 2 năm 2013. Wyck Godfrey và Marty Bowen cùng sản xuất bộ phim. Shailene Woodley vào vai Hazel trong khi Ansel Elgort đóng vai Augustus. Nat Wolff được chọn đóng Isaac và Laura Dern vào vai mẹ của Hazel. Sam Trammell nhập vai Lancaster, bố của Hazel. Ngày 29 tháng 8 năm 2013, John Green thông báo Mike Birbiglia sẽ đóng vai Patrick, và 8 ngày sau đó tiếp tục cho hay Willem Dafoe sẽ thủ vai Peter Van Houten.

Bộ phim được chính thức bấm máy từ ngày 26 tháng 8 năm 2013 tại Pittsburgh, Hoa Kỳ cùng với vài ngày quay tại Amsterdam, Hà Lan, trước khi chính thức đóng máy vào ngày 16 tháng 10 năm 2013. Bộ phim được công chiếu vào ngày 6 tháng 6 năm 2014 tại Hoa Kỳ, nhận được nhiều phản hồi tích cực cùng những lời khen ngợi dành cho diễn xuất của Shailene Woodley xuyên suốt bộ phim. Đây được xem là một bộ phim thành công về mặt thương mại, đứng nhất về doanh thu phòng vé trong cuối tuần ra mắt, thu về hơn 266 triệu USD toàn cầu so với chi phí sản xuất chỉ 12 triệu. Phiên bản Blu-ray và DVD của phim được phát hành vào ngày 16 tháng 9 năm 2014.

Đọc sách

Cuối mùa đông năm tôi mười bảy, mẹ quả quyết rằng tôi bị trầm cảm, có lẽ vì tôi hiếm khi rời khỏi nhà, suốt ngày bẹp dí trên giường, nhai đi nhai lại một quyển sách, ăn uống thất thường, và dành một đống thời gian thừa thãi của mình nghĩ về cái chết.

Bất cứ khi nào bạn đọc một cuốn sổ hay một trang web hay bất cứ cái gì đi nữa về ung thư, người ta luôn liệt kê trầm cảm như một trong những ảnh hưởng phụ của căn bệnh này. Nhưng thực tế, trầm cảm không phải là ảnh hưởng phụ của ung thư. Trầm cảm là ảnh hưởng phụ của việc đang chết. (Ung thư cũng là ảnh hưởng phụ của việc đang chết. Hầu hết mọi thứ đều vậy, thật đấy.) Nhưng mẹ tin rằng tôi cần được điều trị nên bà đưa tôi đến gặp Bác sĩ Jim, người cũng đồng ý là tôi quả thực đang lặn ngụp trong một bể trầm cảm làm tê liệt mọi thứ, do đó liệu trình chữa bệnh của tôi cần được điều chỉnh và tôi cũng nên đến tham gia một Nhóm Tương Trợ hàng tuần.

Nhóm Tương Trợ này bao gồm một dàn diễn viên liên tục xoay vòng đóng các nhân vật trong đủ các trạng thái ốm yếu u bướu khác nhau. Tại sao dàn diễn viên lại xoay vòng? Một ảnh hưởng phụ của việc đang chết đấy thôi.

Nhóm Tương Trợ, tất nhiên, chán vô cùng. Chúng tôi gặp nhau mỗi thứ Tư hàng tuần dưới tầng hầm của một nhà thờ Tân giáo được xây bằng đá có hình cây thập tự. Cả nhóm ngồi lại thành một vòng tròn ở giữa cây thập tự, nơi hai chiếc giá từng giao nhau, nơi trái tim của Chúa Giê-su hẳn đã từng ở đó.

Tôi nhận thấy điều này bởi anh Patrick, Trưởng Nhóm Tương Trợ và là người duy nhất trên mười tám trong phòng, cứ lải nhải mãi về trái tim của Chúa Giê-su mỗi buổi họp chết dẫm, về tất cả những chuyện như làm thế nào mà chúng tôi, những bệnh nhân ung thư trẻ tuổi sống sót, lại đang ngồi ngay giữa trái tim thiêng liêng của Ngài và gì gì nữa ấy.

Và đây là những gì đã diễn ra nơi trái tim của Chúa: khoảng sáu hay bảy hay cả chục đứa chỗ chúng tôi bước/lăn đến, lướt mắt qua đống lựa chọn nghèo nàn giữa bánh quy và nước chanh, ngồi xuống chỗ Vòng tròn Niềm tin, và nghe anh Patrick kể lại câu chuyện lần thứ một ngàn về cuộc đời buồn tẻ khốn khổ của mình – rằng anh có khối ung thư trong hai hòn bi và mọi người cứ đinh ninh rằng anh sẽ chết nhưng rồi anh vẫn sống và giờ ở đây, một người lớn hoàn toàn trưởng thành giữa tầng hầm của một nhà thờ trong thành phố xinh đẹp thứ 137 của Mỹ, đã ly dị, nghiện điện tử, chẳng bạn bè, duy trì cuộc sống sơ sài của mình bằng việc khai thác cái quá khứ với căn bệnh ung thư thần thánh, tìm cách dần học lên thạc sĩ, vốn chẳng ích mấy cho sự nghiệp tương lai, chờ đợi, như tất cả chúng tôi, đợi thanh gươm Damocles mang đến sự giải thoát mà anh đã vuột khỏi từ rất nhiều năm trước khi căn bệnh ung thư tước đi cả hai hòn bi của anh nhưng để lại thứ mà chỉ tâm hồn nhân ái nhất mới gọi là mạng sống.

VÀ BIẾT ĐÂU CÁC BẠN CŨNG SẼ MAY MẮN NHƯ THẾ!

Sau đó chúng tôi tự giới thiệu về bản thân: Tên. Tuổi. Chẩn đoán của bác sĩ. Hôm nay thế nào. Tớ là Hazel, tôi sẽ nói thế khi đến phiên mình. Mười sáu tuổi. Mới đầu là ung thư tuyến giáp rồi đâu ngờ đã có cả một ổ di căn định cư lâu lắm rồi trong phổi. Và tớ khỏe re.

Mỗi khi chúng tôi kết thúc vòng tròn của mình anh Patrick lại hỏi xem có ai còn muốn chia sẻ gì thêm không. Rồi sau đó vòng tròn tương trợ bắt đầu: mọi người nói về nào thì cố gắng nào thì tranh đấu nào thì chiến thắng nào thì khối u teo lại nào thì sao chụp. Để công bằng, anh Patrick cũng cho phép chúng tôi nói về cái chết. Nhưng hầu hết chúng tôi sẽ không sớm ra đi. Hầu hết sẽ sống đến khi trưởng thành, như anh Patrick vậy.

(Nghĩa là sẽ có khá nhiều cuộc đua tranh trong nhóm, khi mà mọi người đều không chỉ muốn đánh bại ung thư mà còn muốn hạ luôn cả những người khác. Kiểu như, tôi nhận ra chuyện này thật chẳng hợp tình hợp lý, nhưng khi họ nói bạn có hai mươi phần trăm cơ hội để sống thêm năm năm nữa, bạn nhẩm tính và nhận ra nó bằng với một phần năm…rồi bạn nhìn quanh và nghĩ, như bất cứ một người khỏe mạnh nào: mình sẽ sống lâu hơn ít nhất bốn đứa trong đám này.)

Điểm duy nhất gỡ gạc lại cho Nhóm Tương Trợ là một cậu tên Isaac, mặt dài, gầy nhom với mái tóc thẳng vàng hoe che khuất một bên mắt.

Và đôi mắt của cậu ấy chính là vấn đề. Cậu ấy một căn bệnh ung thư mắt tuyệt đỉnh hiếm gặp. Một bên mắt đã bị lấy đi khi cậu ấy còn là một đứa trẻ, và giờ cậu ấy đeo một cặp kính dày khiến cho đôi mắt (cả thật lẫn giả) đều trông siêu to, giống như nguyên cả cái đầu ấy chỉ có con mắt giả này và con mắt thật này nhìn chằm chằm vào bạn. Từ những gì tôi thu nhặt được vào những lần hiếm hoi Isaac chia sẻ cùng nhóm, một lần bệnh tái phát đã đặt con mắt còn lại của cậu ấy trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc.

Isaac và tôi gần như chỉ trao đổi với nhau qua những tiếng thở dài. Mỗi lần có ai đó thảo luận về vụ ăn kiêng chống ung thư hay hít bột vây cá mập hay gì đó, cậu ấy chỉ liếc đầu lại phía tôi và thở dài thật khẽ. Tôi cũng khẽ lắc đầu và thở dài đáp lại.

Tóm lại là Nhóm Tương Trợ rất chán, và sau vài tuần tôi cảm thấy càng miễn cưỡng hơn về tất cả những chuyện này. Thật ra, vào đúng ngày thứ Tư hôm tôi làm quen với Augustus Waters, tôi đã đấu tranh kịch liệt đòi ra khỏi Nhóm Tương Trợ trong khi ngồi trên ghế sofa với mẹ xem chặng ba của cuộc tranh tài dài những mười hai tiếng của chương trình America’s Next Top Model mùa trước, mà thú thật tôi đã xem rồi, nhưng kệ.

Tôi: “Con từ chối tham gia Nhóm Tương Trợ.”

Mẹ: “Một triệu chứng của trầm cảm là không thích tham gia vào các hoạt động đấy.”

Tôi: “Mẹ làm ơn cứ để con xem America’s Next Top Model. Đấy cũng là hoạt động.”

Mẹ: “Xem TV là hoạt động thụ động.”

Tôi: “Ugh, mẹ, làm ơn đi mà.”

Mẹ: “Hazel, con đã lớn rồi nhé. Có phải trẻ con nữa đâu. Con cần phải kết bạn, ra khỏi nhà, sống cuộc sống của con nữa chứ.”

Tôi: “Nếu mẹ muốn con thành người lớn thì đừng đưa con đến Nhóm Tương Trợ ấy nữa. Mua một cái ID[2] giả và để con đến mấy câu lạc bộ, uống vodka và hút cỏ.”

Mẹ: “Mới tập tành thì không hút nổi đâu.”

Tôi: “Thấy chưa, đấy là những thứ con sẽ biết nếu mẹ mua cho con một cái ID giả.”

Mẹ: “Con vẫn phải đến Nhóm Tương Trợ.”

Tôi: “UGGGGGGGGGGGGG.”

Mẹ: “Hazel, con xứng đáng được hưởng cuộc sống này.”

Câu này làm tôi im bặt, dù tôi chẳng hiểu việc tham gia Nhóm Tương Trợ thì liên quan gì đến khái niệm cuộc sống. Thành ra tôi vẫn đồng ý đi – sau khi thỏa thuận đòi quyền ghi lại 1,5 tập ANTM mà tôi sẽ bỏ lỡ.

Tôi đến Nhóm Tương Trợ cũng cùng lý do với cái lần tôi để mặc mấy chị y tá học đâu có mười tám tháng là tốt nghiệp đầu độc mình với đủ các loại hóa chất có tên rất kỳ cục: Tôi muốn bố mẹ vui lòng. Chỉ có một thứ trên đời này nhức nhối hơn việc chết vì bệnh ung thư năm mười sáu tuổi, và đó là việc có một đứa con chết vì bệnh ung thư.

Mẹ rẽ vào con đường vòng phía sau nhà thờ lúc 4:56. Tôi vờ vịt nghịch cái bình ôxy để giết thời gian.

“Con có muốn mẹ mang vào trong giúp con không?”

“Không, con mang được mà,” tôi đáp. Cái bình hình trụ tròn màu lục này chỉ nặng có vài pound[3], tôi còn có một giá bằng thép để đẩy nó tung tẩy quanh mình nữa. Nó cung cấp cho tôi hai lít ôxy mỗi phút qua một ống dẫn khí trong suốt bị tách làm hai ngay dưới cổ, vòng qua hai vành tai rồi chập lại ngay dưới mũi. Thứ kỳ cục này thật ra là cần thiết bởi phổi tôi chán đến nỗi chẳng còn là phổi nữa.

“Mẹ yêu con,” bà nói khi tôi bước xuống xe.

“Con cũng yêu Mẹ. Đón con lúc sáu giờ nhé.”

“Nhớ kết bạn!” bà nói với theo qua khung cửa xe đã hạ xuống trong lúc tôi quay đi.

Tôi không muốn đi thang máy vì đó là một kiểu hoạt động như đã đến Những Ngày Cuối của Nhóm Tương Trợ, thế nên tôi leo lên cầu thang bộ. Tôi nhón lấy một chiếc bánh quy và rót ít nước chanh vào một chiếc cốc Dixie rồi quay ra.

Một anh chàng đang nhìn tôi chằm chặp.

Tôi khá chắc tôi chưa từng gặp cậu ấy trước đây. Chân tay dài lỏng khỏng, cậu ấy khiến chiếc ghế nhựa dành cho học sinh tiểu học đã nhỏ trông còn nhỏ hơn. Tóc màu gỗ gụ, thẳng và ngắn. Cậu ấy trạc tuổi tôi, cũng có thể lớn hơn một tuổi, ngồi tì sát mông vào cạnh ghế, điệu bộ quá ư tù túng, một tay đút hờ trong túi quần jean sẫm màu.

Tôi quay mặt đi, đột nhiên ý thức rõ vô số những thiếu sót của mình. Tôi mặc một chiếc quần jean cũ, ngày xưa còn bó sát người nhưng giờ vải đã bị xổ ra ở một số chỗ kỳ quặc, một chiếc áo thun màu vàng quảng cáo cho một ban nhạc mà giờ tôi không còn hâm mộ. Cả tóc nữa: tôi để tóc kiểu con trai[5], và thậm chí chẳng buồn, ừm, chải chúng. Đâu chỉ thế, má tôi phính ra một cách kỳ cục như sóc chuột, một ảnh hưởng phụ của quá trình trị liệu. Tôi nhìn như một người bình thường cân đối với một cái đầu tròn như quả bóng. Đấy là còn chưa kể đến tình trạng hai mu bàn chân sưng húp. Tuy thế – tôi liếc lại nhìn, đôi mắt cậu ấy vẫn dán chặt vào tôi.

Tôi chợt hiểu vì sao người ta gọi đó là là giao tiếp qua ánh mắt.

Tôi bước vào trong vòng tròn và ngồi xuống cạnh Isaac, cách anh chàng kia hai ghế. Tôi liếc qua lần nữa. Cậu ấy vẫn đang nhìn tôi.

Xem nào, để tôi thú thực: Cậu ta rất đẹp trai. Nếu một anh chàng nhạt nhẽo cứ chăm chăm nhìn bạn, trường hợp tốt nhất, ngượng nghịu, xấu nhất, một kiểu tra tấn. Nhưng một anh chàng đẹp trai…sao nhỉ.

Tôi rút điện thoại ra và bấm để xem giờ: 4:59. Vòng tròn dần được lấp đầy bởi những bạn mới mười-hai-đến-mười-tám kém may mắn, rồi Patrick bắt đầu với lời nguyện an tĩnh[6]: Đức Chúa, xin hãy ban cho con lòng thanh thản để chấp nhận những điều không thể thay đổi, lòng can đảm để đổi thay những gì con có thể, và sự khôn ngoan để nhận ra điều khác biệt. Cậu ấy vẫn đang nhìn tôi. Tôi thấy hơi bối rối.

Cuối cùng, tôi quyết định rằng chiến lược đúng đắn nhất là hãy nhìn lại. Bọn con trai không thể cứ độc quyền giữ cái việc Nhìn Chòng Chọc mãi được. Thế rồi tôi quay sang nhìn cậu ta trong khi anh Patrick lại huyên thuyên lần thứ một ngàn về chuyện bị mất hai hòn bi v.v, cuộc thi xem ai chớp mắt trước bắt đầu. Một lúc sau cậu ta mỉm cười, cuối cùng đôi mắt xanh biếc ấy cũng chịu nhìn qua chỗ khác. Khi cậu ấy quay lại nhìn tôi, tôi nhướn đôi lông mày lên kiểu, tớ thắng.

Cậu ta nhún vai. Anh Patrick cứ tiếp tục kể lể cho đến khi tiết mục giới thiệu cuối cùng cũng đến. “Isaac, có lẽ cậu sẽ muốn lên đầu tiên đấy. Anh biết cậu đang đối mặt với một giai đoạn đầy thử thách.”

“Ừm,” Isaac nói. “Tớ là Isaac. Mười bảy tuổi. Có vẻ như là tớ sẽ có một ca phẫu thuật trong đôi ba tuần tới, và sau đó tớ sẽ mù hẳn. Tớ nói thế không phải để kêu ca hay gì đâu vì tớ biết nhiều bạn trong chúng ta còn gặp hoàn cảnh tồi tệ hơn thế, nhưng ừ, bị mù thì cũng chán thật. May mắn là bạn gái tớ sẽ giúp được phần nào. Cả những cậu bạn như Augustus,” cậu ấy khẽ hất đầu về phía anh chàng kia, mà giờ tôi đã biết tên. “Vậy nên,” Isaac tiếp tục, mặt cúi xuống nhìn hay bàn tay đang đan vào nhau thành hình chiếc lều vải. “Bọn mình không thể làm gì hơn được nữa.”

“Chúng ta ở đây là vì cậu, Isaac,” anh Patrick nói. “Hãy để cậu ấy thấy được điều đó, các bạn.” Tất cả chúng tôi cùng cất giọng đều đều, “Chúng ta ở đây là vì cậu, Isaac.”

Tiếp theo là Michael. Em ấy mới mười hai. Em ấy mắc bệnh ung thư máu. Lúc nào em ấy cũng bị ung thư máu. Em vẫn ổn. (Là em nói thế, em ấy đi thang máy.)

Lida mười sáu tuổi, khá xinh xắn, đủ để lọt vào mắt xanh của anh chàng bảnh trai lúc nãy. Bạn ấy ở đây lâu rồi – căn bệnh ung thư ruột thừa thuyên giảm đã lâu, tôi còn không biết có cả ung thư ruột thừa trước đó. Bạn ấy nói – vẫn như mọi lần tôi đến Nhóm Tương Trợ – rằng bạn ấy luôn cảm thấy mạnh mẽ, nghe như vẻ khoe mẽ trong khi tôi bị hai đầu ống dẫn ôxy cù vào lỗ mũi.

Thêm năm bạn nữa rồi đến lượt anh chàng kia. Cậu ấy khẽ cười khi đến lượt mình. Giọng cậu ấy trầm, hơi đục và quyến rũ chết người. “Tên mình là Augustus Waters,” cậu ấy nói, “Mình mười bảy, mình chớm bị u xương ác tính cách đây một năm rưỡi, và hôm nay mình đến đây theo yêu cầu của Isaac.”

“Cậu thấy sao?” anh Patrick hỏi.

“Ồ, tuyệt lắm.” Augustus Waters khẽ nhếch miệng cười. “Em ở trên chiếc tàu lượn chỉ có mỗi hướng đi lên thôi ấy, anh giai.”

Khi đến lượt mình, tôi nói, “Tớ là Hazel. Mười sáu tuổi. Ung thư tuyến giáp di căn trong phổi. Tớ ổn.”

Một giờ trôi qua nhanh chóng: Những trận chiến được nhắc lại, chiến thắng vẫn xảy đến trong những cuộc chiến tranh cầm chắc thất bại; niềm hi vọng được níu giữ; những gia đình vừa mừng vừa tủi; những đứa bạn cùng lứa chẳng bao giờ thấu hiểu; những giọt nước mắt bật ra; những lời an ủi gửi tới. Cả Augustus và tôi đều không nói gì cho đến khi anh Patrick nói, “Augustus, có lẽ cậu cũng muốn chia sẻ về những nỗi sợ hãi của cậu tới cả nhóm chứ.”

“Nỗi sợ hãi của em?”

“Ừ.”

“Em sợ sự quên lãng,” cậu ấy trả lời ngay tắp lự. “Em sợ nó như người ta vẫn nói những người mù sợ bóng tối.”

“Chắc chưa,” Isaac nói, bật ra một nụ cười.

“Động chạm gì mày à?” Augustus hỏi lại. “Tao có khi cũng hoàn toàn mù tịt về cảm giác của người khác ấy chứ.”

Isaac vẫn cười, nhưng anh Patrick đưa ngón tay ra dấu trật tự rồi tiếp tục, “Augustus, thôi nào. Ta quay lại với cậu và vấn đề của cậu chứ. Cậu nói cậu sợ sự quên lãng đúng không?”

“Vâng,” Augustus đáp.

Anh Patrick có vẻ hơi bối rối. “Có, ừ, bạn nào muốn chia sẻ thêm điều gì về nỗi sợ này không?”

Tôi không đến trường đúng nghĩa đã ba năm nay. Bố mẹ là hai người bạn thân nhất của tôi. Người bạn thứ ba là một tác giả thậm chí còn không biết tôi có tồn tại trên đời. Tôi khá nhút nhát – không phải kiểu người thích ý kiến.

Tuy nhiên, chỉ lần này thôi, tôi quyết định lên tiếng. Tôi rụt rè giơ cánh tay lên và anh Patrick, vui mừng ra mặt, ngay lập tức gọi, “Hazel!” Tôi đã, tôi chắc anh ấy tưởng thế, cởi mở hơn. Trở Thành Một Phần Của Nhóm.

Tôi đưa mắt nhìn Augustus Waters, cậu ấy cũng đang nhìn tôi. Gần như có thể nhìn xuyên qua được đôi mắt màu xanh biếc ấy. “Sẽ có một lúc nào đó,” tôi cất tiếng, “khi tất cả chúng ta đều đã chết. Tất cả chúng ta. Sẽ có một lúc nào đó mà chẳng còn ai sống sót để nhớ về bất cứ người nào từng tồn tại hay nhớ xem loài người chúng ta đã làm được những gì. Sẽ chẳng còn ai nhớ đến Aristotle hay Cleopatra[7] nữa là bạn. Tất cả mọi thứ chúng ta đã từng làm nên,gây dựng, viết ra, suy tưởng, khám phá sẽ bị lãng quên, và tất cả mọi thứ” – tôi huơ tay – “sẽ đều trở thành con số không tròn trĩnh. Có thể thời điểm đó sắp tới đây, cũng có khi là hàng triệu năm nữa, nhưng kể cả dù có sống sót qua ngày mặt trời tắt lịm, chúng ta cũng không thể tồn tại mãi mãi. Thời gian đã có trước khi chúng ta có được ý thức, và vẫn tồn tại sau đó. Nếu cái sự lãng quên không thể tránh khỏi ấy làm bạn lo lắng, tôi khuyên bạn hãy kệ nó đi thôi. Chúa biết đó là cách người ta vẫn làm.”

Tôi học được điều này từ người bạn thân thứ ba tôi đã kể ở trên, Peter Van Houten, tác giả ẩn dật của Nỗi đau tột cùng, cuốn sách tôi gìn giữ như thể Kinh Thánh. Peter Van Houten dường như là người duy nhất tôi tình cờ biết được (a) hiểu thế nào là đang chết và (b) vẫn chưa chết.

Sau khi dứt lời, không khí trở nên im ắng cho đến khi tôi nhận thấy một nụ cười nở rộng trên khuôn mặt của Augustus – không phải nụ cười khểnh của anh chàng cố tỏ ra quyến rũ khi liếc nhìn tôi, mà là một nụ cười thực sự, quá lớn so với gương mặt cậu ấy. “Chúa ơi,” Augustus khẽ kêu lên. “Cậu là giống gì vậy.”

Không một ai nói gì thêm trong suốt khoảng thời gian còn lại của Nhóm Tương Trợ. Cuối cùng, tất cả chúng tôi cùng nắm tay, cầu nguyện theo anh Patrick. “Lạy Chúa Giê-su, chúng con hôm nay tụ họp ở đây trong trái tim của Người, theo đúng nghĩa đen là ngay trong trái tim Người, những bệnh nhân ung thư còn sống sót. Ngài và chỉ Ngài mới biết rõ chúng con như chính chúng con biết về bản thân mình. Xin hãy dẫn đường và soi rọi Ánh sáng cho chúng con vượt qua thử thách này. Chúng con cầu nguyện cho đôi mắt của Isaac, cho máu của Michael và Jamie, cho xương của Augustus, cho phổi của Hazel và cho vòm họng của James. Chúng con cầu nguyện Ngài có thể chữa lành và cho chúng con cảm nhận được tình yêu của Ngài, bình an của Ngài, những thứ vượt xa khỏi mọi tầm hiểu biết. Và chúng con xin ghi nhớ trong tim những người bạn chúng con hết lòng thương mến, những người bạn đã trở về dưới mái nhà bên Người: Maria và Kade và Joseph và Haley và Abigail và Angelina và Taylor và Gabriel và…”

Danh sách vẫn kéo dài. Thế giới này chứa toàn người chết. Trong khi giọng anh Patrick đều đều cất lên từng người trong danh sách được viết sẵn trên một tờ giấy vì nó quá dài không thể nhớ hết, tôi nhắm đôi mắt lại, cố gắng nghĩ về những lời cầu nguyện nhưng hầu hết chỉ hiện lên hình ảnh cái ngày mà rốt cục tên tôi cũng tìm được đường lên danh sách đó, ở tận cuối khi mọi người chẳng buồn nghe nữa.

Sau khi anh Patrick dứt lời, tất cả chúng tôi đều hô lên một câu thần chú ngớ ngẩn – HÃY SỐNG TỐT NHẤT CHO NGÀY HÔM NAY – và thế là kết thúc. Augustus Waters nhấc mình ra khỏi ghế và bước qua chỗ tôi. Dáng đi của cậu ấy cũng cong cong như nụ cười. Cậu ấy đứng chắn trước mặt tôi, nhưng vẫn giữ khoảng cách để tôi không phải nghển cổ lên mới nhìn được vào mắt cậu ấy. “Cậu tên gì?” cậu ấy hỏi.

“Hazel.”

“Không, tên đầy đủ cơ.”

“Ừm, Hazel Grace Lancaster.” Cậu ấy đang định nói gì đó thì Isaac bước tới. “Chờ nhé,” Augustus nói, giơ một ngón tay lên rồi quay về phía Isaac. “Thật sự là mọi thứ tệ hại hơn mày tưởng đấy.”

“Tao đã bảo nó thật chán mà.”

“Sao mày phải bận tâm thế nhỉ?”

“Tao không biết. Có giúp được gì không?”

Augustus ngả người qua nên nghĩ tôi không nghe thấy gì hết. “Cô ấy là ma cũ à?” Tôi không thể nghe thấy câu trả lời của Isaac, nhưng Augustus đáp lại, “Tao sẽ nói.” Cậu ấy siết chặt hai vai Isaac rồi lùi lại nửa bước. “Kể chuyện ở phòng khám với Hazel đi.”

Isaac chống một tay vào chiếc bàn bày bánh và hướng con mắt khổng lồ về phía tôi. “Được rồi, tớ đã đến phòng khám sáng nay và bảo bác sĩ là cháu thà điếc còn hơn bị mù. Rồi ông ta bảo, ‘Mọi chuyện sẽ không như thế,’ và rồi tớ đáp đại loại, ‘Vâng, cháu biết mọi chuyện sẽ không như thế; cháu chỉ nói là cháu thà bị điếc còn hơn là bị mù nếu cháu có lựa chọn, mà cháu nhận ra là cháu không có lựa chọn nào hết,’ rồi ông ta nói, ‘Chà, tin tốt là cháu sẽ không bị điếc,’ và tớ thì, ‘Cảm ơn bác vì đã giải thích cho cháu biết là ung thư mắt sẽ không làm cháu bị điếc. Cháu cảm thấy thật may mắn khi được cả một bầu trời trí tuệ như bác đây rủ lòng phẫu thuật cho.’”

“Nghe vẻ ông ấy đã thắng thế,” tôi nói. “Tớ phải cố gắng mắc ung thư mắt để làm quen mới được.”

“Chúc cậu may mắn. Được rồi tớ phải đi đã, Monica đang đợi. Tớ phải ngắm cô ấy thật nhiều khi còn có thể.”

“Mai chơi Counterinsurgence không?” Augustus hỏi.

“Tất nhiên.” Isaac vừa ngoái đầu lại vừa chạy lên cầu thang.

Augustus Waters quay sang tôi. “Theo đúng nghĩa đen,” cậu ấy bảo.

“Nghĩa đen gì cơ?” tôi hỏi lại.

“Chúng ta đang ở ngay trái tim của Chúa theo đúng nghĩa đen,” cậu ta đáp. “Tớ đã nghĩ là chúng ta ở dưới tầng hầm của nhà thờ, nhưng thực sự là chúng ta đang ở ngay trong trái tim của Chúa.”

“Ai đó nên nói với Ngài đi,” tôi bảo. “Ý tớ là thật nguy hiểm khi chứa những đứa trẻ bị ung thư ngay trong trái tim mình.”

“Tớ sẽ tự nói với Ngài,” Augustus nói, “nhưng thật không may là tớ đang bị kẹt giữa trái tim Ngài, theo đúng nghĩa đen, thế thì Ngài nghe tớ nói làm sao được,” tôi cười. Cậu ấy lắc đầu nhìn tôi.

“Sao thế?” Tôi hỏi.

“Không có gì,” cậu ấy đáp.

“Thế sao cậu cứ nhìn mình như thế?”

Augustus cười mỉm. “Vì cậu thật đẹp. Tớ thích ngắm nhìn những người xinh đẹp, và tớ vừa quyết định ngay một tích tắc trước rằng không thể từ chối những niềm vui sống giản đơn này được.” Một bầu tĩnh lặng bao trùm sau đó. Augustus phá tan khoảnh khắc khó xử bằng việc giải thích: “Nhất là khi cậu đã xuất sắc chỉ ra rằng, tất cả những việc này và mọi thứ cuối cùng sẽ chìm trong quên lãng.”

Tôi phần thì hơi nghẹn phần thì thở dài phần thì hắt ra một tiếng ho yếu ớt: “Tớ không đẹ–.”

“Cậu giống như Natalie Portman phiên bản cuối thế kỷ hai mươi. Natalie Portman trong phim V for Vendetta.”

“Chưa xem bao giờ,” tôi đáp.

“Thật à?” cậu ta hỏi lại. “Một cô nàng cắt tóc kiểu Pixie[8] lộng lẫy chán ghét chính quyền và không thể ngừng đâm đầu vào một anh chàng dù biết là rắc rối to. Như là cuốn tự truyện của cậu ấy, tớ chỉ có thể nói vậy.”

Mọi âm tiết của cậu ấy đều nghe vẻ đầy tán tỉnh. Thành thực thì cậu ấy cũng làm tôi thấy phấn khích. Tôi thậm chí còn không nghĩ bọn con trai có thể làm tôi thấy phấn khích – không phải trong đời thực này.

Một cô bé trẻ tuổi hơn đi ngang qua chỗ chúng tôi. “Em thế nào Alisa?” cậu ta hỏi. Cô bé mỉm cười và mấp máy, “Chào anh, Augustus.” “Bên viện Memorial,” cậu ấy giải thích. Memorial là một bệnh viện nghiên cứu lớn. “Cậu ở viện nào?”

“Viện Nhi,” tôi lí nhí, giọng nhỏ hơn rất nhiều so với tôi mong đợi. Cậu ấy gật đầu. Câu chuyện có vẻ đến đây là kết thúc. “Ừm,” tôi nói, khẽ hất đầu về phía những bậc cầu thang dẫn ra khỏi Trái Ttcviênng mày, sống trong một tuần nữa thôi, tôi sẽ biết được những bí mật chưa từng được viết ra về mẹ của Anna và chú Tuim Đích Thực Của Chúa. Tôi nghiêng cái giá đứng trên những bánh xe của nó và bắt đầu bước ra. Cậu ấy khập khễnh theo tôi. “Vậy, gặp cậu sau nhé, chắc thế?” Tôi hỏi.

“Cậu nên xem nó,” cậu ấy nói, “V for Vendetta ấy.”

“Được rồi,” tôi đáp. “Tớ sẽ tìm sau.”

“Không. Xem cùng tớ. Ở nhà tớ,” cậu ta bảo. “Bây giờ.”

Tôi đứng ngay lại. “Tớ còn chưa biết gì về cậu, Augustus Waters. Nhỡ cậu là kẻ chuyên giết người bằng rìu thì sao.”

Cậu ấy gật đầu. “Cũng phải, Hazel Grace,” cậu ấy bước qua tôi, đôi vai vừa khít chiếc áo đan polo màu lục, thẳng lưng, từng bước nhịp nhàng hơi nghiêng qua phải khi cậu ấy đi, vững chãi và đầy tự tin trên thứ mà tôi chắc là một cái chân giả. Bệnh u xương ác tính đôi khi lấy mất một chi của bạn để thử thách. Và nếu thích bạn, nó sẽ lấy luôn cả phần còn lại.

Tôi theo cậu ấy lên cầu thang, tuột lại phía sau vì tôi phải đi khá chậm, leo cầu thang không phải lĩnh vực mà hai lá phổi của tôi có thể đảm nhận. Sau đó chúng tôi ra khỏi trái tim của Chúa và đứng lại chỗ bãi đậu xe, tiết xuân se lạnh một cách hoàn hảo, nắng chiều muộn rực rỡ như thiên đường trong cơn đau.

Mẹ vẫn chưa đến, điều này thật lạ vì mọi khi Mẹ đều ở đó đợi tôi. Tôi nhìn xung quanh và bắt gặp một cô gái dong dỏng cao, thân hình quyến rũ với làn da bánh mật bị Isaac ép chặt vào bức tường đá của nhà thờ, đang hôn cậu ấy cuồng nhiệt. Họ đứng gần tôi đến nỗi tôi có thể nghe thấy âm thanh kỳ cục từ hai đôi môi đang quấn lấy nhau, và tôi có thể nghe thấy cậu ấy nói, “Luôn luôn,” và cô gái kia cũng nói, “Luôn luôn,” để đáp lại.

Đột nhiên đứng lại bên cạnh tôi, Augustus nửa thì thầm: “Hai đứa nó rất thích thể hiện tình cảm nơi công cộng.”

“‘Luôn luôn’ với cái gì cơ?” Tiếng họ hôn nhau ngày càng lớn.

“Luôn luôn là câu chuyện của chúng nó. Hai người sẽ luôn luôn yêu thương nhau, đại loại thế. Dè dặt mà đoán thì tớ nghĩ chúng đã nhắn cái từ luôn luôn cho nhau khoảng bốn triệu lần trong năm ngoái.”

Hai chiếc ô tô nữa vừa tới, đón Michael và Alisa đi. Chỉ còn lại Augustus và tôi, đứng nhìn Isaac và Monica càng ngày càng mãnh liệt như thể họ không phải đang dựa vào một chốn linh thiêng. Bàn tay cậu ấy lần xuống ngực Alisa qua lớp vải áo và cứ thế mân mê nó, lòng bàn tay vẫn để nguyên như vậy trong khi các ngón tay bắt đầu lả lướt xung quanh. Tôi chẳng biết chuyện đó có gì thích thú không nữa. Chắc là không, nhưng tôi quyết định tha thứ cho Isaac vì cậu ấy sắp không nhìn thấy gì nữa. Dù gì các giác quan cũng cần được thỏa mãn chừng nào người ta vẫn còn khát khao ham muốn.

“Hãy tưởng tượng như là lần cuối cùng cậu lái xe đến bệnh viện,” tôi lặng lẽ nói. “Lần cuối cùng cậu được cầm lái một chiếc xe.”

Chẳng quay sang nhìn tôi, Augustus đáp, “Cậu đang giết chết sự rung cảm trong tớ đấy, Hazel Grace. Tớ đang cố ngắm nhìn tình yêu tươi trẻ trong vẻ ngượng nghịu đẹp đẽ của nó.”

“Tớ nghĩ cậu ấy đang làm đau ngực cô ấy kia,” tôi bảo.

“Ừ, cũng khó để xác định xem nó đang cố kích thích hay chỉ tiến hành một bài kiểm tra với ngực cô nàng.” Sau đó Augustus Waters lần vào trong túi áo rồi lôi ra trong một đống đủ các thứ một hộp thuốc lá. Cậu ta bật nắp hộp ra và lấy một điếu đặt giữa đôi môi.

“Cậu đùa à?” tôi hỏi. “Cậu nghĩ thế hay lắm sao? Ôi Chúa ơi cậu vừa làm hỏng hết mọi chuyện.”

“Mọi chuyện gì cơ?” cậu ta hỏi, quay người sang tôi. Điếu thuốc chưa châm đung đưa nơi khóe miệng không cười.

“Mọi chuyện bắt đầu từ một anh chàng không phải không hấp dẫn không phải không thông minh không phải không có vẻ bằng một cách nào đấy không thể chấp nhận được nhìn chăm chăm vào tôi chỉ ra cách dùng sai của từ đúng theo nghĩa đen rồi so sánh tôi với diễn viên điện ảnh rồi mời tôi xem phim ở nhà. Rồi thì tất nhiên luôn luôn có cố tật[10] và của cậu là ôi Chúa ơi, cả khi cậu mắc UNG MẸ NÓ THƯ cậu vẫn vung tiền vào mấy cái công ty để đổi lấy cái cơ hội giành THÊM UNG THƯ NỮA. Ôi Chúa ơi. Để tôi nói cho cậu biết không thể nào thở được nhé? TỞM. Hoàn toàn thất vọng. Hoàn toàn.”

“Cố tật?” cậu ta hỏi, điếu thuốc vẫn ngậm trong miệng. Hai hàm răng cắn chặt. Cậu ta có quai hàm thật nam tính, khổ quá.

“Một thói xấu khủng khiếp,” tôi giải thích, quay lưng đi. Tôi bước về phía lề đường, bỏ lại Augustus Waters lại đằng sau, rồi tôi nghe tiếng ô tô chạy đến. Đó là Mẹ. Có lẽ bà đã chờ để tôi, ừm, kết bạn hay gì đó.

Tôi thấy cảm giác pha trộn kỳ lạ giữa nỗi thất vọng và sự giận dữ dâng lên trong lòng. Tôi thậm chí không biết chính xác cảm giác đó là gì, thực sự, chỉ biết là nó trào dâng dữ dội, tôi muốn thụi Augustus Waters một cái và thay luôn lá phổi của mình bằng lá phổi không quá tệ để làm phổi. Tôi đứng mấp mé trên lề đường với đôi giày Chuck Taylors của mình, bình ôxy như hình với bóng nằm trên giá đỡ ngay bên cạnh, và ngay khi mẹ rẽ xuống tôi thấy một bàn tay nắm lấy mình.

Tôi giật phắt tay ra nhưng lại quay người về phía cậu ta.

“Chúng không giết chết cậu trừ khi cậu đốt cháy chúng,” cậu ta nói trong khi Mẹ tấp xe vào lề đường, “Và tớ chưa bao giờ châm một điếu nào hết. Đấy chỉ là phép ẩn dụ, thấy không: Cậu đặt cái thứ chết người này vào ngay giữa hai hàm răng, nhưng cậu không cho nó sức mạnh để giết được ai cả.”

“Một phép ẩn dụ,” tôi nói, ngờ vực. Mẹ vẫn để xe nổ máy.

“Một phép ẩn dụ,” cậu ta trả lời.

“Và cậu chọn cách cậu ứng xử dựa trên các ý nghĩa ẩn dụ của chúng…” tôi nói.

“Ồ, đúng thế.” Cậu ta cười. Một nụ cười thực sự, toe toét và ngờ nghệch. “Tớ là một tín đồ lớn của phép ẩn dụ, Hazel Grace.”

Tôi quay ra chiếc xe. Gõ cái cửa sổ. Nó hạ xuống. “Con sẽ đi xem phim với Augustus Waters,” tôi nói. “Mẹ nhớ ghi lại hết các tập của cuộc đua lần sau trong chương trình ANTM cho con nhé.”

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *