Gió Mùa Hè

1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK 

Tác giả : Catherine Anderson

Download sách Gió Mùa Hè ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

2. DOWNLOAD

Định dạng ebook                  

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ? Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Lời giới thiệu

Catherine Anderson sinh năm 1948 và hiện đang sống cùng chồng là Sidney D. Anderson tại Oregon, Mỹ. Là con gái của một nhà văn nên những mảnh ghép ký ức sớm nhất Catherine Anderson có được trong cuộc đời là tiếng gõ trên chiếc máy đánh chữ cũ kỹ cùng những tác phẩm của mẹ, vì thế từ rất lâu trước khi biết đọc bảng chữ cái, một thế giới kỳ diệu và bí ẩn của những câu chuyện hư cấu đã mở ra trước mắt bà. Cùng với đam mê và nguồn cảm hứng ấy, bà đã viết rất nhiều những câu chuyện của riêng mình trong suốt thời niên thiếu.

Tuy nhiên, nhận thức được rằng việc bắt đầu sự nghiệp như một nhà văn chính thống là một điều rất khó khăn, bà đã quyết định theo học chuyên ngành kế toán ở trường đại học để có thể phụ giúp công việc sổ sách ở công ty của chồng. Sau khi nhận ra rằng những con số không khiến mình cảm thấy hạnh phúc, cùng với sự động viên của chồng, Catherine đã nghỉ học ở trường để có thể toàn tâm theo đuổi sự nghiệp viết lách.

Catherine Anderson bắt đầu sự nghiệp văn học với dòng lãng mạn, sau đó bà chuyển nguồn cảm hứng sang các tác phẩm có tiêu đề một chữ (Single-title) thuộc dòng lãng mạn lịch sử và lãng mạn đương đại. Không ít các tác phẩm của bà tập trung vào các nhân vật mang trên mình những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần và cách họ vượt qua những khiếm khuyết đó. Theo nhận định của tạp chí Romantic Times, tiểu thuyết của bà rất “cảm động, ấm lòng và tạo lập thứ tình yêu hoàn hảo lý tưởng trong một thế giới thiếu hoàn hảo”. Với độc giả, những cuốn sách của bà đều rất “vui nhộn, thú vị, cảm động, đẹp đẽ, cao cả với những ước lệ cổ điển”.

Năm 1988, bà cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tay Reasonable Doubt, do Harlequin Intrigue xuất bản. Hai cuốn tiểu thuyết sau đó của bà là Sun Kissed và Morning Light đã lọt vào top 5 trong danh sách 10 cuốn sách bán chạy nhất của New York Times. Ngoài ra, Catherine Anderson đã chín lần được đề cử giải Bình chọn của các nhà phê bình Romantic Times, trong đó có một lần chiến thắng với tác phẩm Cherish. Bà cũng từng được trao giải Thành tựu trọn đời của Romantic Times.

Tháng 5 năm 2008, tác phẩm Comanche Moon đã được tái xuất bản và lọt vào danh sách các tác phẩm ăn khách nhất của New York Times.

Cuốn sách Gió mùa hè (Summer breeze) của Catherine Anderson được Penguin Group xuất bản tháng 1 năm 2006. Một số các tác phẩm của bà như, Điệu Waltz dưới ánh trăng (Phantom Waltz) và Giai điệu của Annie (Annie’s song), đã được Bách Việt phát hành năm 2013 và 2015.

ĐỌC THỬ

PHẦN MỞ ĐẦU

Ngày 15, tháng 3, năm 2005

Bụi bốc lên mù mịt từ bên trong chiếc hòm. Tucker Coulter vừa phe phẩy một bàn tay trước mặt vừa ho sù sụ. Khi làn bụi đã lắng xuống, hắn mới phủi phủi vài hạt còn bám lại trên mái tóc đen và nheo mắt nhìn vào bên trong chiếc hòm dưới ánh sáng lờ mờ của căn gác. Chắc mẹ hắn đã nhớ nhầm chỗ rồi, hoặc không thì là do hắn đã mở nhầm một cái hòm cũ kỹ nào khác. Thay vì thấy sáu cuốn sách dành cho trẻ em, một cuốn hồng và năm cuốn xanh, hắn lại tìm được thứ giống như váy cưới đã ngả vàng và cũ mòn vì năm tháng.

Ngỡ ngàng, hắn cẩn thận đặt cái váy sang một bên, hy vọng sẽ tìm thấy mấy cuốn sách ở bên dưới. Nhưng may mắn đã không mỉm cười với hắn. Thay vào đó, hắn tìm thấy một cuốn sổ dày màu xanh lá với dòng chữ vàng ánh kim ở mặt trước, “Nhật ký của tôi”. Là của mẹ chăng? Tò mò, Tucker nhặt cuốn sách lên và lật mở trang đầu tiên. Ai đó đã viết: “Nhật ký của tôi, Thứ Năm, Ngày 27 tháng 4 năm 1882”, bằng lối chữ thảo uốn lượn đầy nữ tính. Bên dưới có đề một cái tên, Rachel Marie Hollister. Tucker chưa nghe tên người phụ nữ này bao giờ cả. Tuy nhiên, nhiêu đó cũng đủ để làm tính tò mò của hắn trỗi dậy. Không phải ngày nào hắn cũng tình cờ nhặt được một quyển nhật ký được viết cách đây phải đến hơn trăm năm trước như thế này. Háo hức muốn đọc thêm, hắn lật sang trang kế tiếp. Nét mực đã mờ đi theo năm tháng và ánh sáng lờ mờ của buổi hoàng hôn trên căn gác khiến hắn chẳng tài nào đọc nổi nội dung trên đó nói về cái gì.

Hôm nay là sinh nhật tôi tròn mười lăm tuổi và cuốn nhật ký này chính là quà mà cha mẹ dành tặng cho tôi. Tôi nhất định sẽ viết nó mỗi ngày và giấu nó ở một nơi thật bí mật mà Daniel và Tansy sẽ không bao giờ có thể tìm thấy.

Tucker không kìm được nhoẻn miệng cười. Hắn đoán chắc Daniel và Tansy chính là tên hai người anh em của Rachel. Bản thân cũng sinh ra trong một gia đình đông thành viên, nên hắn rất đồng cảm với nhu cầu riêng tư của cô bé. Hắn đọc lướt qua các mục khác, vừa đọc vừa thầm thán phục khả năng chính tả và ngữ pháp hoàn hảo của Rachel. Cô bé kể những chuyện ở trường và thường xuyên nhắc đến thầy giáo của mình, thầy Pitt, một người bị cô miêu tả là già khú và lúc nào cũng chỉ chực bắt phạt học sinh. Nghe có vẻ như cậu em trai của Rachel, Daniel, là một đứa trẻ nghịch ngợm và chuyện gì cũng muốn chọc vào.

Tucker lại mỉm cười một lần nữa khi đọc đến đoạn Rachel miêu tả con chó Denver, kể về chuyện nó cắn mất đôi bốt mới mua của cô. Tucker cảm giác thời gian bỗng nhiên quay lại và hắn như vừa được bước vào một thế giới khác. Mọi thứ đều chân thật và gần gũi với hắn như thể Rachel Hollister mới chỉ viết những dòng nhật ký này ngày hôm qua vậy.

Không thể chờ đợi để được đọc thêm, hắn lại lướt xuống một vài đoạn nữa. Phần tiếp theo của quyển nhật ký khiến hắn không còn muốn cười. Chẳng những chính tả của Rachel đột ngột kém hẳn, mà giọng điệu trong từng câu chữ cũng trở nên ảm đạm và rầu rĩ khác thường.

T’ứ ‘ai, ngày 17 t’áng 12, 1888. T’ời gian này trong năm luôn là lúc tôi cảm t’ấy cô đơn n’ất. Tôi k’ông t’ể bảo mìn’ đừng n’ớ tới n’ững đêm Giáng sin’ đã qua với mùi bán’ nướng t’ơm lừng của mẹ, với Daniel ‘áo ‘ức muốn ra ngoài c’ọn một cây t’ông đẹp n’ất cùng c’a.

Tucker cau mày khó hiểu. Cách viết chính tả trong đoạn nhật ký không hẳn là lỗi, vì người viết đã cố tình bỏ đi tất cả các ký tự H trong các từ, sau đó thay thế chỗ trống bằng một dấu nháy đơn. Kỳ cục. Rõ ràng là cô có biết, ngay cả khi đang viết, cô cũng nhận thức được là mình đang bỏ sót mất một ký tự.

Tôi n’ớ ‘ọ rất n’iều. Tôi ước lại được cùng Tansy xâu n’ững quả mọng và bỏng ngô t’àn’ c’uỗi để treo lên cây và, c’ao ôi, tôi k’ao k’át được ng’e giọng nói của c’a t’êm một lần nữa biết n’ường nào.

Tôi đã ‘ai mươi mốt tuổi, sắp sửa bước sang tuổi ‘ai mươi ‘ai. T’ế là đã gần năm năm trôi qua kể từ k’i mọi người đều bỏ tôi mà đi, gần năm năm tôi k’ông dám ra k’ỏi n’à dù c’ỉ nửa bước. Đó là n’ững t’áng ngày tôi bị nỗi cô đơn giày vò đến mức gần n’ư mất trí, n’ưng dù c’ỉ ng’ĩ t’ôi tôi cũng k’ông dám ng’ĩ đến việc rời k’ỏi ngôi n’à này.

Tucker chẳng thể tưởng tưởng được cảm giác bị nhốt trong nhà suốt năm năm. Có phải Rachel Hollister mắc bệnh tự kỷ rồi không? Nghe có vẻ như thế. Hắn đọc thêm một vài dòng nữa rồi đóng cuốn sổ lại và đứng dậy.

“Mẹ?”, hắn gọi lớn trong khi bước xuống những bậc cầu thang chật hẹp nối từ tầng áp mái xuống gara. “Này, mẹ?”

Mary Coulter mở cánh cửa chống cháy dẫn vào nhà bếp. Bà mặc quần làm từ vải gabađin và chiếc áo cánh màu hồng tươi bị cái tạp dề trắng che phủ một phần. Bà là điển hình của một phụ nữ có tuổi vào thời ấy, phúng phính, đầy đặn nhưng cũng không mất đi vẻ xinh đẹp thời thanh xuân, mái tóc xoăn ngắn màu nâu của bà mới chỉ điểm nhẹ vài sợi bạc. “Con tìm thấy giấy khai sinh chưa?”, bà hỏi.

Thời tiết ảm đạm của mùa đông và đợt trầm cảm đã khiến Tucker quyết định đi nghỉ một thời gian và hắn cần giấy tờ để làm hộ chiếu.

“Không mẹ, con mở nhầm một cái rương khác.” Hắn nói rồi giơ cuốn nhật ký lên. “Dù không tìm được mấy cuốn sách dành cho trẻ em nhưng con lại tìm được thứ này. Rachel Hollister là ai vậy mẹ?”

Đôi mắt màu xanh dương của Mary lộ rõ vẻ bối rối.

“Rachel gì cơ?”

“Hollister. Đây là nhật ký của bà ấy. Đoạn đầu có đề thời gian vào năm 1882.”

Mary đẩy cánh cửa rộng hơn để Tucker có thể vào trong nhà. Hắn đi thẳng một mạch đến ngồi cạnh bàn ăn và lật mở cuốn sổ dày cộp. “Mẹ, lại đây nhìn đi. Cái này rất thú vị đấy.”

“Ôi trời!” Khuôn mặt tròn trịa của bà Mary giãn thành một nụ cười. “Mẹ quên béng mất là chúng ta còn giữ nó. Là nhật ký của bà Rachel Paxton.”

“Trong cuốn nhật ký đề tên họ bà ấy là Hollister”, Tucker chỉnh lại.

Mary lau sạch tay vào tạp dề khi nghiêng người về phía cuốn nhật ký. “Hollister là tên thời còn con gái của bà ấy. Sau đó bà ấy lấy Joseph Paxton, anh trai bà cố Eden của con.”

Tucker còn nhớ đã được nghe kể về bà cố của hắn Eden Coulter. “Bà của cha, người có mái tóc đỏ hoe và tính tình nóng nảy ấy hả?”

“Đúng rồi đấy.” Mary cười ha hả. “Mẹ ước gì được gặp bà ấy. Nếu những gì cha con kể với mẹ đều đúng thì bà ấy hẳn phải là một người phụ nữ rất tài giỏi. Đáng tiếc là bà ấy mất sớm vào năm 1954, khi đó cha con mới mười hai tuổi, vậy nên mẹ chẳng bao giờ có cơ hội gặp bà.”

“Con không biết họ của bà cố Eden lại là Paxton.”

“Bà Eden chuyển sang lấy họ là Coulter từ sau khi lấy ông nội của bố con, Matthew James Coulter.” Mary lướt nhẹ các đầu ngón tay lên những dòng nhật ký đã mờ đi và mỉm cười tiếc nuối. “Chúa ơi. Chắc là con đang thấy rất kỳ cục phải không? Khi nghĩ rằng cuốn nhật ký này được viết cách đây lâu như vậy.”

Tucker móc một chân đi bốt vào chân một chiếc ghế để kéo nó ra xa cái bàn, rồi ra hiệu cho mẹ hắn ngồi xuống, sau đó hắn kéo thêm một chiếc ghế và ngồi xuống ngay bên cạnh bà, “Làm thế quái nào mà gia đình chúng ta lại giữ nhật ký của bà Rachel vậy?”.

Mary đang nghiên cứu cuốn sổ liếc nhìn lên. “Cả nhà bà ấy đã bị giết hại, bà ấy là thành viên duy nhất trong dòng họ Hollister còn sống sót. Khi bà ấy mất, một trong số những người con của bà đã trao lại cuốn nhật ký này cho bà cố Eden của con cất giữ, bởi vì có rất nhiều chỗ ở trong đây là do anh trai bà Eden viết.”

“Do ông Joseph viết ấy hả? Nhưng đây là nhật ký của bà Rachel mà?”

“Ừ, nhưng sau khi Joseph và Rachel lấy nhau, họ bắt đầu cùng nhau hoàn thành cuốn nhật ký. Chẳng phải lúc nào mấy đứa cũng hỏi là bố và mẹ đã gặp nhau như thế nào và tại sao lại yêu nhau còn gì?”

Nhiều năm nay, Tucker đã thôi không hỏi han gì nữa vì đã phải nghe đi nghe lại câu chuyện ấy hàng chục lần rồi. Tuy nhiên hắn vẫn gật đầu thừa nhận.

“Vậy đấy, Joseph và Rachel đã cùng nhau kể lại câu chuyện của chính họ trong cuốn nhật ký này đây. Ông kể phần của ông, bà ghi lại phần của bà.” Ánh mắt bà Mary bỗng trở nên xa xăm. “Trước mẹ cũng định đọc nó rồi đấy, nhưng năm đứa quỷ sứ các con cứ liên tục cắt ngang, nên cuối cùng mẹ cũng đành bỏ dở. Mẹ vẫn còn nhớ mình đã rất hứng thú muốn đọc cuốn nhật ký này, một câu chuyện theo kiểu anh nêm em nếm rất ngọt ngào và lãng mạn, hơn nữa cũng rất hồi hộp, vì có sự xuất hiện một tên giết người vẫn còn nhởn nhơ mãi mà chưa bị bắt.”

Tucker chẳng hứng thú với mấy thể loại lãng mạn, có điều một câu chuyện trinh thám thì nghe cũng không tồi. “Một tên giết người?”

“Phải. Như mẹ đã nói, cả nhà Rachel bị một tay bắn tỉa sát hại. Theo mẹ nhớ thì trong cuốn nhật ký có viết gia đình họ đang đi picnic gần một con lạch, rồi người đàn ông tiến đến gần và bắt đầu xả súng. Thật kinh khủng.”Mary rùng mình. “Chỉ có mình bà Rachel sống sót.”

Tucker nghiêng người qua để đọc câu chuyện được viết lại bên trong. “Rồi bọn họ có bắt được hắn không?”, hắn hỏi.

Mary nhún vai. “Mẹ còn chẳng rõ kẻ giết người là đàn ông hay đàn bà ấy chứ. Lúc ấy ba anh em trai bọn con còn đang quấn tã nên mẹ chẳng có thời gian, hơn nữa cũng lâu rồi nên mẹ cũng không nhớ rõ. Mẹ chỉ ấn tượng nhất cái đêm Rachel và Joseph gặp nhau lần đầu tiên. Ông ấy đã đập vỡ cửa sổ để đột nhập vào nhà bà và suýt chút nữa bị bà Rachel bắn chết.”

“Mẹ đang nói đùa đấy hả?”, Tucker không kìm được sự tò mò mà liếc mắt đọc trước vài đoạn trong khi mẹ hắn vẫn đang thao thao bất tuyệt. “Thật khó tin. Con không ngờ một cuốn nhật ký như thế này lại ở trong gác xép nhà mình suốt một thời gian dài như vậy. Bethany chắc chắn sẽ thích mê nó cho xem.” Cô em gái duy nhất của Tucker, Bethany, là đứa rất thích nghiên cứu phả hệ của gia đình. “Một khi con bé có được cuốn sách này, hai mẹ con mình chắc sẽ phải vật lộn với nó mới có cơ hội đọc tiếp.”

Thế rồi bọn họ đều im lặng. Khi đọc đến cuối trang nhật ký, Tucker lật sang một trang tiếp theo. Chẳng bao lâu sau, hai người mỗi người chống một khuỷu tay lên bàn và chăm chú đọc, căn bếp bỗng trở nên yên tĩnh đến lạ thường, âm thanh duy nhất còn có thể nghe thấy là tiếng hít thở của hai mẹ con cùng tiếng tích tắc phát ra từ chiếc đồng hồ.

“A, nhìn này”, Mary thì thầm. “Là đoạn nhật ký đầu tiên Joseph Paxton viết. Con có nhận ra nét chữ ở đoạn này khác không?”

Tucker gật đầu. Nét chữ nguệch ngoạc cứng nhắc như thế này chắc chắn không phải của Rachel. Đoạn nhật ký đề ngày là thứ Sáu, ngày 22 tháng 3 năm 1889. Tucker bị cuốn vào trong câu chuyện ngay khi đọc xong đoạn thứ nhất.

Tôi viết ra điều này từ thực tế và chính kinh nghiệm mà mình có được, rằng sẽ chẳng có lời giải thích hợp lý nào cho câu hỏi tại sao một người đàn ông lại có thể yêu say đắm một người đàn bà. Tôi sẽ ví nó như khi chúng ta bị ong bắp cày đốt vào chính giữa hai mắt. Tôi thực sự chưa từng nghĩ mình sẽ từ bỏ những cuộc vui vào mỗi tối thứ Sáu ở thị trấn, chơi bài và làm ướt cổ họng bằng những ly rượu whiskey. Mấy thứ lý thuyết sến sẩm đại loại như đắm chìm trong ánh mắt phụ nữ chỉ hợp với anh trai tôi, Ace, không phải với tôi. Tôi đã nghĩ mình khôn ngoan hơn thế.

Lời bộc bạch đó đã đánh trúng tâm lý cố hữu của Tucker. Tất cả các anh em trai của hắn đều đã hạnh phúc viên mãn và làm đám cưới, chỉ riêng hắn vẫn không có tư tưởng muốn theo đuôi mấy người đó. Nghe có vẻ kỳ cục, nhưng hắn nghĩ mình thừa hưởng ác cảm đối với hôn nhân từ chính Joseph Paxton.

“Vậy chính xác là con với ông Joseph Paxton có quan hệ gì?”, Tucker thắc mắc.

Mary nhấn một đầu ngón tay trên trang sách để đánh dấu vị trí đang đọc rồi nhăn mặt khó chịu vì bị quấy rầy. “Con là chắt trai của ông ấy.”

Mấy đoạn sau, Joseph tiếp tục viết:

Mặc dù vậy, tôi cũng nghĩ nếu như có một ngày mình quả thực yêu một người, cô ấy chắc chắn sẽ phải thật đặc biệt, xinh đẹp như buổi bình minh và hoàng hôn, mọi mặt đều hoàn hảo, còn tính  tình thì phải ngọt ngào như được nhúng mật ong tươi. Thay vào đó, cô gái ấy lại đi loanh quanh với một khẩu súng săn ngay trong lần đầu tiên chúng tôi gặp mặt, sau đó thì suýt chút nữa bắn tôi nát banh đầu.

Trong suy nghĩ của Tucker, hiện tại của hắn không còn là năm 2005 nữa mà là một ngày tháng Ba lộng gió năm 1889.

CHƯƠNG MỘT

Ngày 22, tháng 3, năm 1889

Mệt mỏi vì vừa phải đỡ đẻ cho một con bê non mới sinh và chán nản vì không cứu được con bò cái, Joseph Paxton chà gót đôi ủng hiệu Justin vào đám cỏ để chùi sạch phân chuồng, sau đó lục trong túi áo sơ mi lấy ra bao Crosscuts1. Chết tiệt, hắn mệt quá rồi. Nếu như mọi thứ vẫn suôn sẻ như trước thì hẳn hắn đã chẳng mặn mà gì với công việc treo và lột da bò.

1 Crosscuts: Tên một nhãn hiệu thuốc lá của W.B. Duke, xuất hiện ở Mỹ khoảng năm 1888.

Nhưng hiện tại, sau cả ngày dài ảm đạm, mỗi một nhát dao như muốn nhắc nhở rằng Thần Chết lại một lần nữa đánh bại nỗ lực của hắn. Tuần tới hắn sẽ phải vật lộn với công việc xẻ và cất trữ thịt bò. Thời gian trong ngày trở nên quá ngắn đối với hắn, đây cũng là viễn cảnh thường xảy ra, khi một người đàn ông quyết định tự chèo chống trang trại chăn nuôi gia súc của riêng mình.

Ngày vẫn dài, đêm vẫn cứ ngắn, thậm chí hắn đã làm việc trong suốt ngày bầu cử, mà thịt ngon vẫn không thể chờ đợi để biến thành đống thịt thiu. Joseph hy vọng mùa xuân tới sẽ đỡ vất vả hơn, khi mà những con bò cái đã quen với việc sinh đẻ và không khờ khạo đến mức làm lạc mất con mình. Hắn cũng sẽ kiếm được món lời kha khá từ phiên bán đấu giá gia súc. Điều đó đồng nghĩa với việc hắn sẽ có thể thuê nhiều nhân công hơn. Nhưng hiện tại trang trại của hắn vẫn chỉ có hai người làm, mà cả hai đều đã rút cạn tiền lương trong tuần của mình vào thị trấn và sẽ không quay lại cho đến tận tối Chủ nhật.

Dựa người vào hàng rào ngay bên ngoài chuồng gia súc, Joseph quẹt một que diêm Lucifer2 vào đường may trên chiếc quần Levi’s của mình, khum khum bàn tay quanh ngọn lửa để chắn gió, sau đó châm điếu thuốc trong tiếng thở phào đầy thỏa mãn. Ngồi phịch xuống bên cạnh hắn là Buddy – con chó chăn cừu hai năm tuổi mà mẹ hắn đã gửi xe ngựa từ tận San Francisco sang. Buddy thuộc giống chó có bộ lông dài, nhỏ nhắn, nhanh nhẹn và cực kỳ thông minh. Theo Dory Paxton thì chúng được những người chăn cừu tộc Basque mang sang California và nhanh chóng trở thành giống chó chăn gia súc phổ biến.

2 Lucifer: Một loại diêm do nhà phát minh người Xcốt-len Sir Isaac Holden phát triển năm 1829.

Đoán rằng anh bạn của mình đã phải trải qua một ngày vất vả, Joseph lôi từ chiếc túi đeo bên hông ra vài miếng thịt bò khô. Đôi mắt tinh anh màu hổ phách luôn dõi theo động tác của hắn sáng lên đầy mong đợi, Buddy bắt lấy phần thưởng từ giữa không trung, rồi nuốt một cách chớp nhoáng, thậm chí còn không buồn nhai lấy một lần, sau đó nó bày ra tư thế ngồi háo hức, mong đợi chủ thưởng nhiều hơn nữa. Đây không phải lần đầu tiên Joseph cảm thấy kinh ngạc trước sự đáng yêu của giống chó này, với những đốm trắng trên mũi, trước ngực, dưới bụng và bàn chân tương phản rõ rệt với bộ lông dày màu vàng đỏ. Buddy trông gần giống với nòi chó Cô-li của Anh mà Joseph đã nhìn thấy trong vài bức ảnh, ngoại trừ màu lông khác nhau, cái mũi ngắn ít hếch hơn và thân hình nhỏ con hơn một chút. Cũng chẳng quan trọng. Cái Joseph quan tâm là hiệu quả, mà anh bạn này gần như loại nào cũng có thể lùa thành bầy, thường là trâu bò, thỉnh thoảng cả gà nữa ấy chứ.

“Chỉ có nhiêu đó thôi, đồ tham ăn trắng trợn. Mày sẽ không được ăn thêm cho đến khi hết ngày.” Joseph thầm ước bọn họ có thể vào thị trấn và chén một bữa thịnh soạn vào mỗi tối thứ Sáu như trước kia. Tuy nhiên, hiện tại đang là mùa sinh sản của gia súc, cho nên lúc nào hắn cũng phải túc trực ở trang trại phòng khi những con bò cái lại sinh con. “Đừng mơ tưởng sẽ được ăn ngon ở chỗ của Roxie, vì tối nay chúng ta sẽ không tới đó”. Hắn nói với con chó. “Sẽ chỉ có đậu hạt và bánh mì ngô lót dạ thôi, thế là may mắn lắm rồi đấy”. Nghe đến tên bà chủ nhà hàng xinh đẹp, hai tai Buddy dựng thẳng lên, thậm chí hắn thề là mình còn thấy con chó nhe răng làm điệu bộ như muốn cười.

“Tốt hơn hết mày nên cẩn thận với người phụ nữ đó, cả những món ngon và cái cách cô ta tự đánh bóng bản thân khi chúng ta bước vào”. Hắn lắc đầu, cảnh cáo: “Chẳng có mấy bà chủ nhà hàng chịu để lại đồ thừa cho một con chó và để nó liếm sạch đĩa trước mặt khách hàng của mình đâu, trừ khi trong đầu cô ta đang nghĩ cách tốt nhất để chinh phục đàn ông là qua dạ dày”.

Buddy động đậy hàm, gầm gừ vài âm thanh trầm thấp như đang nói gì đó. Joseph chịu không thể bắt nghĩa được từ nào nhưng cũng hài lòng với biểu hiện vừa rồi của con chó. Hoặc không thì hẳn là người ta sẽ nghĩ hắn đang tự nói chuyện với chính mình và chỉ có những người điên mới làm như thế.

“Nhớ kỹ, người phụ nữ đó chắc chắn có ý đồ hôn nhân. Không ít thằng đàn ông đã phải chấm dứt cuộc đời độc thân lâu năm của hắn chỉ vì mềm lòng trước những bữa ăn thịnh soạn.” Joseph nhìn con chó, nheo một bên mắt: “Rất có thể cô ta thực ra chẳng ưa gì chó. Đàn bà là như thế, nhiều khi biến thành loài sinh vật cực kỳ nguy hiểm, cô ta có thể giả vờ ngọt ngào trong khi bản chất lại trái ngược. Và nếu cô ta thắng trong vụ đánh cược này, mày có thể nghĩ đến việc ngủ trong ổ chó lạnh lẽo, với kết cục chẳng hơn gì một bộ xương khô. “

Buddy rên rỉ, cụp đầu xuống tận bụng rồi bắt chéo một chân trước che mắt khi nghe những lời này. Vài tháng gần đây, con chó đã học được cách diễn đạt cảm xúc một cách khá giả tạo, dường như nó có thể hiểu được ý của chủ thông qua ngữ điệu của lời nói. Thỉnh thoảng nó có những hành động như ngồi bằng hai chân sau trong khi hai chân trước nâng cao trong tư thế thỉnh cầu, giả vờ chết, lăn qua lăn lại, hay nằm sụp xuống cụp hai mắt biểu hiện sự sợ hãi, đau thương.

Joseph cười khoái trá, sau đó chuyển sang nghiên cứu ngôi nhà hắn mới dựng lên cách đây khoảng vài trăm thước. Cô nàng Roxie kiểu gì cũng sẽ đòi giúp sơn mặt ván ốp tường, tiện thể trang hoàng lại bên trong ngôi nhà với nào là rèm cửa có ren, thảm bện, đồ trang trí linh tinh và tỷ thứ vô nghĩa khác. Không đời nào! Cô ta kỳ thực cũng khá xinh đẹp, nhưng Joseph chẳng hề muốn nửa đời tự do còn lại của mình bị trói buộc với một người phụ nữ. Chỉ nghĩ thôi đã khiến hắn thấy khó chịu rồi. Hắn thích mọi thứ diễn ra thật tự nhiên và cuộc đời vẫn đẹp dẫu chỉ có mình Buddy với hắn.

“Cũng vừa hay chúng ta còn phải bận rộn vì mùa gia súc sinh sản đến sớm, Roxie chắc sẽ phải chuyển hướng đến một ai khác chứ không phải tao. ”

Bao quát trang trại của mình, Joseph dường như vẫn chưa thể thích ứng với sự thật là nó thực sự thuộc về hắn. Hắn chỉ mới mua lại trang trại này từ tháng Tám, hai dải đồng cỏ trải dài hết tầm mắt về mọi hướng khiến hắn tưởng như có được cả thế giới rộng lớn này. Trên thực tế, Bar H của hắn, hay được biết đến nhiều hơn với cái tên trang trại Hollister nằm về phía Bắc, còn ngay phía nam ngôi nhà là ranh giới của Circle Star, thuộc sở hữu của Patrick O’Shan-nessy.

Joseph vẫn có một không gian rộng rãi thoải mái tại phần chân đồi thưa cây nằm ở phía tây dãy Rockies. Ở đó, một người có thể leo lên lưng ngựa rong ruổi vài ngày mà không lo bị bất kỳ ai làm phiền. Joseph đặt tên trang trại là Eden theo tên em gái mình, nhưng có lẽ cái tên này không được phù hợp cho lắm.

Ban đầu Joseph cũng không chắc liệu hắn có thể sống một mình hay không. Nửa đời trước hắn quen sống cùng gia đình, một người mẹ yêu thương hắn, một cô em gái hư hỏng luôn làm người khác điên tiết cùng ba anh em trai, một anh lớn và hai đứa nhỏ hơn hắn vài tuổi. Trước khi đến đây, hắn chưa từng một lần về nhà vào buổi tối mà không thấy ai, chưa từng trải qua một đêm tịch mịch không tiếng trò chuyện của mọi người.

Hắn đã từng chật vật vượt qua những ngày đó, nhưng với Buddy bên cạnh, Joseph cuối cùng cũng quen được với cảnh cô đơn một mình. Mỗi khi muốn có người trò chuyện, hắn thường ghé qua chỗ hai người làm thuê Bart và Johnny, hoặc đến trang trại của anh trai Ace cách đó không xa lắm. Hai em trai của Joseph, David và Esa, vẫn đang sống cùng Ace và chị dâu Caitlin, người phụ nữ nhiệt tình lúc nào cũng hoan nghênh hắn ghé qua nhà uống chút cà phê hay gì đó.

Joseph cố gắng đến thăm anh chị thường xuyên. Cháu trai hắn, Bé Ace đã mười bốn tháng tuổi và đang lớn nhanh như thổi. Joseph vẫn chưa có ý định lập gia đình nên quyết định sẽ dành thời gian chơi với cháu trai nhiều nhất có thể.

Từ xa, Joseph thấy có bóng người đến, hắn vén vài lọn tóc vàng bị gió tạt rủ xuống mắt để nhìn rõ hơn. Một người một ngựa đang chậm chạp tiến đến gần chỗ hắn. Ném mẩu thuốc lá xuống đất rồi dùng gót chân dập tắt tàn lửa, Joseph thôi tựa vào hàng rào, hắn đứng thẳng dậy và tháo dây đeo khẩu súng Colt. 45. Không hẳn là vì cảm thấy nguy hiểm, chỉ là thói quen hắn học được từ khi còn rất nhỏ, nhắc nhở rằng một người đàn ông phải luôn sẵn sàng tự vệ khi có người lạ đến gần.

Cảm nhận được sự cảnh giác đột ngột của Joseph, Buddy nhảy dựng lên, khụt khịt đánh hơi trong không khí rồi phát ra một tiếng gầm gừ.

“Giỏi lắm anh bạn”, Joseph trấn an con chó.

Thấy người kia rạp người trên lưng ngựa, Joseph nơi lỏng cảnh giác, tiến đến gần người đàn ông. Đi được khoảng một trăm thước, hắn nhận ra ông ta là Darby McClintoch, quản đốc ở Bar H. Lần đầu tiên Joseph gặp ông ta là khi họ cùng nhau sửa đoạn hàng rào ngăn cách giữa hai phần lãnh thổ. Một thời gian sau đó, họ thường ăn cơm trưa ở cùng một chỗ, tuy nhiên về sau cũng chỉ tình cờ gặp nhau vài lần ở Golden Slipper vào tối thứ Sáu, lần khác là khi cưỡi ngựa dạo quanh trang trại hoặc khi dắt một con bò lạc về chuồng.

Khi Joseph gần đến nơi, cả người Darby nghiêng hẳn sang ngang rồi ngã xuống từ trên yên ngựa, ủng bên phải của Darby móc vào bàn đạp khi lão ngã xuống đất. Sợ rằng con ngựa thiến sẽ lồng lên nếu bị giật mình, Joseph ra hiệu cho Buddy ngồi yên rồi thận trọng tiến về phía người đàn ông, vừa đi vừa trấn an con ngựa: “Whoa, cậu bé ngoan, whoa”.

Con ngựa đực khịt khịt mũi, hất hất cái đầu nhưng không có ý chạy đi.

“Ngoan lắm”, Joseph vừa nhẹ nhàng dỗ dành con ngựa vừa tiến đến gần nắm lấy dây cương. “Đúng rồi, mày là một con ngựa trầm tĩnh lịch thiệp, phải không anh bạn?”

Một tay vỗ vỗ con ngựa thiến, Joseph nhanh chóng quấn dây cương quanh chiếc sừng trên yên ngựa với lực vừa đủ để không làm cho con vật lồng lên, sau đó hắn đi vòng xung quanh để tháo bên ủng của Darby vẫn còn mắc trên bàn đạp ngựa xuống.

“Darby?” Lúc đầu Joseph nghĩ tim ông ta có vấn đề. Tội nghiệp Darby già nua, nếu hắn một ngày tuổi thì ông ta trông như đã bảy mươi tuổi rồi vậy.

“Làm sao vậy, ông bạn già? Ông không khỏe hả?” Câu hỏi ngớ ngẩn. Là một tên cao bồi lão luyện, Darby đã dành gần như cả đời mình trên lưng ngựa rồi. Nếu có một ngày lão ngã xuống từ trên lưng ngựa, vậy chắc hẳn phải có chuyện gì đó cực kỳ tồi tệ xảy ra.

“Ông có thể nói chuyện được không?”

“Bị bắn lén“, Darby thở hổn hển khi Joseph chạm vào vai mình. Bụi bẩn giắt đầy những nếp nhăn chằng chịt trên gương mặt ông bạn già và làm xỉn mái tóc bạc dày thường ngày vẫn ánh lên màu kền của lão.

“Gần trúng… thận phải.”

“Bắn lén?”, Joseph dựng tóc gáy. Hắn đưa mắt nhìn ra sau lưng quan sát một lượt, nhận thấy không có ai đuổi theo lão mới hài lòng. Xoay Darby nửa vòng để quan sát vết thương, hắn thốt lên một tiếng, “Lạy Chúa“, khi thấy áo sơ mi của lão quản đốc đã thấm đẫm máu. “Kẻ nào bắn ông ra nông nỗi này, hả ông bạn?”

“Không biết”, Darby đáp yếu ớt. “Tôi phải đi lên… tận cuối trang trại Bar H về phía bắc để tìm con bò cái … nó sắp đẻ.“ Ngực lão co giật, mặt nhăn nhó khiến cho da gò má bị kéo căng.

“Tôi nghĩ mình nghe thấy tiếng con bò… giữa những tảng đá. Tiến về phía đó… nhìn xem thế nào. Không thấy có dấu vết. Vừa quay lưng lại… thằng khốn nào đó bắn tôi.”

Khi bắt gặp cái nhìn của Joseph, đôi mắt màu xanh của lão lóe lên tia đau đớn. Bàn tay lão đặt trên áo sơ mi cuộn thành nắm đấm nhưng vô lực. “Anh phải về Bar H ngay“, lão giục. “Rachel, con bé ở đó có một mình.” Tuy nhiên lúc này Joseph còn có một mối lo cấp bách hơn. Darby đã mất rất nhiều máu, có thể lão sẽ chết nếu không được chữa trị kịp thời.

“Việc đó tính sau”, Joseph trả lời. “Vết thương của ông cần phải xử lý gấp.”

Darby lắc đầu: “Không, cậu… không hiểu. Tôi đoán đó chính là kẻ đã sát hại… người thân của Rachel. Bây giờ hắn quay lại… để kết thúc tất cả”.

Khắp thung lũng không ai không biết đến vụ thảm sát tại trang trại Hollister. Vụ đó xảy ra cách đây gần năm năm, vài tháng trước khi Joseph và anh trai chuyển đến sinh sống ở vùng này. Gia đình Hollister đi dã ngoại ở rìa phía bắc trang trại vào một ngày nắng tháng Sáu và bị người ta bắn chết như bắn gà trong cuộc săn gà tây. Chỉ có đứa con gái lớn Rachel may mắn sống sót.

“Được rồi”, Joseph xoa dịu. “Có thể chỉ là một viên đạn lạc thôi mà, Darby. Chắc ai đó ra ngoài đi săn.”

“Không, cậu phải… nghe tôi”, Darby khăng khăng. “Đều xảy ra ở chỗ đáng nguyền rủa đó, chắc chắn… không phải tình cờ. Hắn sẽ nhắm… Rachel tiếp theo đó.”

Cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Joseph, nhưng nhanh chóng bị lý trí xua tan. Vụ thảm sát tại Hollister xảy ra vào năm 84 và theo hắn biết thì từ đó đến nay không có bất kỳ vấn đề nào xảy ra cả. Chẳng có lý gì một tên sát nhân phải ẩn mình từng đó thời gian rồi mới bất ngờ quay trở lại tiếp tục giết người.

“Ông không cần phải lo lắng về Rachel”, Joseph vừa nói vừa cởi áo sơ mi của mình. “Tôi sẽ đến đó và đảm bảo cô ấy sẽ được an toàn.”

Darby lắc lắc mái đầu hoa râm: “Phải có người… trông chừng con bé suốt ngày đêm. Tôi linh cảm… con bé… đang gặp nguy hiểm”.

Linh cảm của Joseph lại mách bảo hắn rằng tình hình của Darby còn gấp gáp hơn rất nhiều, hắn nói: “Đừng lo lắng quá, tôi sẽ trông chừng cô ấy”.

“Anh hứa… với tôi chứ?” Nét mặt Darby đã tái mét, đôi mắt màu xanh lá cây cũng trở nên trống rỗng, thất thần.

“Dĩ nhiên rồi, tôi hứa với ông.” Joseph gấp chiếc áo sơ mi của mình, luồn nó xuống dưới lưng Darby sau đó cột hai tay áo để tạm thời băng bó xung quanh ngực ông bạn già. “Hàng xóm chính là để giúp đỡ nhau những lúc hoạn nạn như thế này, đúng không nào?”

Darby yếu ớt gật đầu rồi nhắm mắt lại, dường như đã hài lòng với câu trả lời vừa nghe được. Joseph giúp lão leo lên lưng ngựa, cố gắng tránh để lão quản đốc bị va chạm hết mức có thể. Joseph nghĩ nếu có một cái cáng thì sẽ giúp ích được rất nhiều, nhưng hiện tại hắn không có và cũng chẳng đủ thời gian để chế một cái ngay lúc này.

“Ông ngồi chắc rồi chứ?” Hắn hỏi người đàn ông. “Nếu còn sức thì hãy bám vào sừng trên yên ngựa ấy.“

Darby cuộn hai tay gần như đã tê liệt vào khung yên. Joseph chờ đến khi chắc chắn lão có thể ngồi vững trên lưng ngựa mới nới lỏng dây cương và đẩy con ngựa đi tiếp. Còn xa nữa mới về đến nhà, mà Darby thì liên tục rên rỉ mỗi khi con ngựa tiến thêm một bước. Cuối cùng, lão lầm bầm vài câu chửi rủa rồi bất tỉnh, người lão rạp hẳn về phía trước, đầu rũ xuống cổ ngựa một cách nặng nề. Joseph vừa đi vừa phải nắm chặt eo lão giữ cho lão khỏi rơi xuống đất.

Vừa đến nơi, Joseph nhanh chóng mang ông bạn già vào bên trong. Sau khi đặt gánh nặng trên vai mình xuống chiếc ghế sofa bằng da tối màu, hắn vội vã lao đến tủ đựng vải lanh kiếm vải vụn làm băng gạc. Từ giờ cho đến khi tìm được bác sĩ tới, hắn cần phải cầm máu cho Darby, mà cách duy nhất hắn biết là quấn miệng vết thương càng chặt càng tốt.

Darby mặt vẫn tái mét và bất tỉnh, thậm chí lão cũng không hề cựa quậy khi Joseph băng bó vết thương trên người. Cho đến khi vết thương rốt cuộc cũng cầm máu, Joseph thay nhanh một chiếc áo sơ mi khác, thắng yên cho con ngựa đen của hắn Obie, rồi cấp tốc lên đường tìm Doc Halloway.

Hai mươi phút sau, Joseph cưỡi Obie vượt qua khúc quanh cuối cùng trên đường Wolverine Road để vào thị trấn No Name. Main Street, đại lộ duy nhất trong khu vực lúc này đông đúc người qua lại. Rạp người trên chiếc cổ lấm tấm mồ hôi của con ngựa, Joseph phóng nhanh qua một tiệm cắt tóc, gần như xô ngã một phụ nữ vừa bước ra khỏi cửa tiệm người Hoa, cuối cùng kéo Obie dừng gấp trước cửa nhà thầy thuốc. Anh bạn Buddy suốt dọc đường vẫn chạy song song cùng con ngựa bắt đầu vừa sủa ầm ĩ vừa nhảy vòng quanh Joseph khi hắn xuống ngựa.

“Im nào”, Joseph nạt con chó.

Cái lưỡi thè ra, mắt sáng lên đầy phấn khích, Buddy ngồi trên hai chân sau, bàn chân trước huơ huơ vào không khí.

Joseph vỗ nhẹ con chó rồi móc dây cương vào cọc ngựa, hắn một bước nhảy qua lối đi bằng ván lót trước thềm nhà.

“Doc!” Cánh cửa đập vào vách trong tường khi Joseph xông vào phòng khách. “Doc, ông có đây không?”

Joseph đã từng nhìn thấy khu vực chờ của bệnh nhân một lần khi Patrick O’Shannessy cần phải nhờ bác sĩ chăm sóc. Trên tường phía bên phải treo cái giá để một đống sách y khoa lộn xộn, quyển nào cũng dày cộp và bám đầy bụi bẩn. Ngay dưới đó là bốn chiếc ghế kim loại bọc da đã cũ mòn nằm cạnh nhau dọc theo phần gỗ ép chân tường sứt mẻ.

Joseph đổi hướng tiến đến cánh cửa bằng gỗ sồi méo mó, mòn vẹt dẫn đến phòng khám.

“Doc”, hắn gọi lớn, giơ nắm đấm lên gõ cửa. “Ông ở trong đó hả?”

Joseph gần như nhào người vào trong phòng khi cánh cửa bật mở. Doc Halloway lưng đã còng vì tuổi tác đứng đó, nhìn chằm chằm hắn qua cặp mắt kính lệch dày có viền vàng. Người ông ám mùi thuốc khử trùng nồng nặc.

“Làm gì phải la toáng lên thế? Tôi có điếc đâu.” “Thật xin lỗi, Doc, nhưng tôi thực sự đang rất gấp.” “Hmph.” Doc Halloway rút ra một chiếc khăn tay màu trắng từ trong túi quần, phẩy phẩy vài cái rồi đưa lên lau miệng. Mái tóc hoa râm thưa thớt rối bời làm Joseph có cảm giác hắn đã quấy rầy ông vào đúng giấc ngủ trưa.

“Cái gì gấp?” Ông ném cái nhìn không hài lòng về phía Buddy đang ngồi ngay dưới chân Joseph: “Tôi không phải bác sĩ thú y”.

Joseph gấp gáp thuật lại tình trạng của Darby. “Tôi đã băng chặt vết thương để ngăn chảy máu, nhưng tình hình của ông ấy vẫn rất tồi tệ.”

Đôi mắt tử tế màu xanh da trời của Doc Halloway tối sầm lại: “Cậu nói là Darby McClintoch?”. Ông lắc đầu, gãi gãi chiếc mũi hình củ hành của mình. “Darby, ông bạn già cả đời chỉ biết đến công việc và tận tụy hết mình như thế, tên khốn nào lại có thể bắn ông ta được chứ?”

“Việc đó phải để cảnh sát trưởng giải quyết.”

“Có lẽ thế.” Doc Halloway giật mạnh một dây móc treo màu đỏ, sau đó lê bước chậm chạp vòng qua một cái bàn khám bệnh có đệm. Ông tiến đến chỗ những ngăn kéo dọc vách tường phía xa, đằng sau một chiếc quầy đựng đầy đồ đạc dụng cụ nhìn cực kỳ sạch sẽ trái ngược với chỗ bụi bặm trong phòng chờ khám bệnh.

“Viên đạn có xuyên qua không?”

“Không, thưa bác sĩ. Nó găm vào một góc bên sườn phải của ông ấy. Hy vọng là sẽ không trúng phổi và thận.”

“Ông ta có sùi bọp mép màu hồng không?” “Không, tôi không thấy.”

“Có ho không?”

“Không, thưa bác sĩ, nhưng trước khi bất tỉnh ông ấy rất đau đớn.”

“Có lẽ viên đạn đã làm vỡ xương sườn. Chết tiệt thật.”

Doc mở một cái túi màu đen và bắt đầu thu thập dụng cụ từ các kệ trên quầy, lọ thuốc, băng gạc với một đống dụng cụ bằng thép nhìn có vẻ nguy hiểm.

“Có nghĩa là tôi sẽ phải mổ lấy viên đạn ra. Nếu như nó xuyên hẳn qua thì sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.” Ông lại giật mạnh một sợi dây móc treo khác. “À, thế mà sáng nay tôi cứ nghĩ sao gần tuần nay chẳng có gì mới mẻ xảy ra cả. Thật là, phải cẩn thận với những gì mình nghĩ, anh bạn ạ. Loại hứng thú như thế này thì chẳng ai muốn cả.”

Joseph đang gấp gáp muốn khởi hành ngay, hắn chuyển trọng tâm tư thế đứng từ chân này sang chân khác rồi nói: “Ông có cần tôi giúp gì không, bác sĩ?”.

“Cậu có thể giúp tôi đóng ngựa vào xe, con ngựa ở đằng sau ấy.”

“Chúng ta sẽ đến đó nhanh hơn nếu ông cưỡi ngựa cùng tôi.”

“Tôi không bao giờ cưỡi ngựa. Bị đau lưng nặng.” “Nhưng Darby đang trong cơn nguy kịch. Chúng ta phải tận dụng từng giây phút một.”

“Nếu ông ta đã được cầm máu và miệng vết thương chỗ viên đạn găm vào không có gì nghiêm trọng thì chúng ta có thể yên tâm lên đường. Còn nếu không…”, ông thở dài rồi lục lọi trong đống lọ thủy tinh đến khi cầm trong tay một lọ chứa thứ gì đó màu đỏ sẫm. “Ờ, cũng coi như tôi không phải là thầy thuốc giỏi. Lần gần đây nhất tôi trở nên vô dụng là lúc uống say ở Dodge City và tè cả ra quần.”

Joseph chẳng có tâm trạng nào để đùa cợt, hắn cắt ngang: “Tôi đang nghĩ…”, nhưng lại ngập ngừng không nói tiếp vì chính hắn cũng chẳng rõ mình nên hy vọng điều gì? Hắn chỉ biết lúc này mà còn tranh cãi về việc đi bằng gì thì chỉ phí thời gian quý báu mà thôi. “Thôi, giờ tôi sẽ đi đóng xe ngựa và kéo nó ra trước nhà.”

“Được thôi.” Doc lầm bầm sờ túi dụng cụ. “Thế nào cũng được. Tôi sẽ gặp cậu ở lối đi trước nhà.”

Tin là mình sẽ nhanh chóng bắt kịp xe ngựa của Doc Halloway, Joseph lên đường lớn tiến về chỗ cảnh sát trưởng trước khi rời thị trấn. Đến nơi, hắn gặp em trai mình, David. David đang ngồi ngả lưng ra ghế, hai chân đi đôi ủng da dê bám đầy bụi bắt chéo gác lên cạnh bàn, chiếc mũ cao bồi rộng vành che kín hai mắt.

Joseph đóng sầm cánh cửa sau lưng, còn David vẫn giữ bộ dạng lãnh đạm lười biếng, hắn đẩy nhẹ vành mũ, phóng cặp mắt màu xanh da trời nhìn chằm chằm Joseph đầy cảnh cáo.

“Anh làm gì ở đây?”, David hỏi. “Em tưởng anh sẽ không chơi bời vào tối thứ Sáu nữa cho đến khi mùa gia súc sinh sản kết thúc chứ?”

“Thấy anh cậu cầm lá bài nào không?” Joseph bước qua sàn nhà lót ván trần. Một tấm áp phích truy nã đập vào mắt từ tập hồ sơ trên bàn, trưng ra chân dung một tên cướp xe ngựa có khuôn mặt râu ria hung ác. “Vừa có vấn đề xảy ra ở trang trại của anh. Darby McClintoch bị ai đó bắn.”

David thở dài: “À, vậy là đi tong giấc ngủ trưa của em”. Hắn vươn vai thả lỏng rồi xoa bóp cổ, hạ chân xuống sàn và ngồi thẳng lại trên ghế. Chiếc áo sơ mi nghiêm túc vừa vặn ôm sát bờ vai cơ bắp hoàn hảo của hắn, nổi bật những nếp gấp rõ ràng trên hay cánh tay áo, quai hàm mới cạo bóng bẩy không kém những chiếc huy hiệu đính trên túi áo ngực trái của David.

“Ông ta bị thương nặng lắm không?”

“Rất tệ.” Joseph đáp. “Doc đang trên đường đến chỗ ông ta. Anh nghĩ em sẽ muốn đến đó, nếu như Darby tỉnh lại, ông ấy có thể giúp làm sáng tỏ những gì đã xảy ra. Thời gian này thịt hiếm nên có nhiều người ra ngoài săn bắn để kiếm thêm, có thể lão chỉ không may trúng một viên đạn lạc mà thôi.”

David khoác lên người chiếc áo khoác lót lông cừu rồi đi qua nhấc khẩu Henry từ trên giá súng. “Darby có nói gì với anh không?”

Joseph nhanh chóng thuật lại lời lão quản đốc nói với hắn. “Anh không nghĩ là kẻ giết người tại Hollister trước kia sẽ đợi đến năm năm rồi mới quay lại kết thúc trò chơi mà hắn bắt đầu, nhưng Darby cứ khăng khăng như thế.”

Darby cau mày suy nghĩ.

“Cho em năm phút đi đóng yên ngựa, chúng ta sẽ cùng nhau tới đó.”

“Ba phút thôi”, Joseph đề nghị. “Anh phải đến đó trước Doc, ông ấy cần có nước sôi và người trợ giúp khi tiến hành gắp viên đạn ra ngoài.”

Joseph chỉ mong Darby không chết trước khi họ tới nơi.

CHƯƠNG HAI

Gió quất từng cơn lạnh buốt vào ngôi nhà hai tầng. Sau từng tiếng kêu kẽo kẹt, rên rỉ của căn nhà đã quen với nắng và gió, dây thần kinh của Rachel Hollister căng lên một chút. Nếu khéo tưởng tượng hơn thì hẳn cô sẽ tin mình nghe thấy tiếng ai đó lén lút lẻn vào nhà hoặc tiếng sàn gỗ trĩu xuống dưới bước chân người nào đó. Để giữ tinh thần được tỉnh táo và nén cơn nhộn nhạo vì sợ hãi đang trực trào lên trong dạ dày. Cô ngồi đó vừa ngâm nga giai điệu của bài “Oh! Susannah”, vừa thầm nhủ sẽ chẳng ai xâm nhập được vào nơi ở của mình, trừ khi hắn phá bỏ được hàng rào trước cánh cổng tò vò từng dẫn thẳng tới phòng ăn trước kia.

Mái tóc vàng óng buông dài vẫn còn vương hơi ẩm sau khi tắm, từng lọn tóc xoăn tùy ý uốn lượn theo đường nét khuôn mặt Rachel Hollister. Cô ngồi trên chiếc ghế mây gần lò sưởi của mẹ cô trước kia với một chiếc chăn len trùm quanh vai, những ngón chân xỏ trong đôi dép thêu đi trong nhà gác lên cạnh lò sưởi, chiếc váy ngủ Mother Hubbard bằng vải muxơlin vén cao quá cẳng chân để ngọn lửa có thể sưởi ấm đôi chân trần của mình.

Bên cạnh cô, một chiếc đèn phòng khách bằng kim loại có hoa văn tinh tế phát ra âm thanh xì xèo nhè nhẹ trên mặt bàn đá ốp cẩm thạch, mái vòm thủy tinh sơn tay của chiếc đèn tỏa ra thứ ánh sáng dịu dàng quanh cô gái đang chăm chú đan móc.

Ngoài lúc đọc sách thì đây cũng là một trong những thú vui tiêu khiển ưa thích thường ngày của cô. Rachel đang hoàn thiện chiếc vòng cổ ren kiểu Ireland, một món đồ sáng tạo và tinh tế cô dành để làm từ thiện. Mặc dù cô không còn được tham dự các buổi lễ vào mỗi Chủ nhật nữa, nhưng Darby, lão quản đốc già của trang trại thỉnh thoảng vẫn đến dự. Ông nói Hannibal St. John, vị mục sư mới của nhà thờ duy nhất ở No Name luôn luôn hoan nghênh mọi người đóng góp cho người nghèo. Rachel chẳng có mấy việc để làm nên thường cố gắng đóng góp bằng mọi cách có thể, công việc nhỏ nhưng lại khiến cô cảm thấy bản thân sống có ích hơn và đủ bận rộn để lúc nào cũng giữ được tỉnh táo.

Mùa đông vừa rồi cô đã làm vô số thứ đồ nhỏ nhỏ xinh xinh dùng trang trí mặt bàn hoặc quần áo, hàng may mặc, còn có những đôi tất len cho phụ nữ và trẻ con. Đồ cô làm ra nhiều đến mức Darby có lúc còn chọc cô nên mở luôn một cửa hiệu để bán chúng lấy tiền.

Rachel hơi cau mày, ước gì cô có thể. Cô thường làm bơ và pho mát, hai thứ này Darby mang bán cho cửa hàng tạp hóa của Gilpatrick rất dễ dàng, cô cũng thu được ít tiền từ việc bán trứng gà của trang trại. Tuy nhiên, chút tiền mặt nhỏ giọt đó không thể bù lại được phần thu nhập bị mất của Bar H. Từ khi cha cô mất và những người làm trước đây cũng bỏ đi, năm năm nay, một mình Darby phải gách vác toàn bộ công việc ở trang trại. Trừ những thứ cần thiết, ông đã cắt giảm đàn gia súc chỉ để lại vài con, vì thế số tiền thu được từ thịt bò cũng ít đi rất nhiều.

Có thời gian, Rachel cố kiếm thêm tiền bằng nghề may thuê nhưng không cạnh tranh nổi với cửa hàng quần áo của Clarissa Denny trong thị trấn. Sau này cô mới chuyển sang đan móc, thêu ren và các loại vải thêu trang trí nhỏ, hy vọng sản phẩm mình làm ra có thể được bày bán cùng với những thứ khác trong sạp hàng của một vài cửa hiệu trên phố Main Street. Nhưng cuối cùng thì đồ của cô cũng bị trả lại, khi Darby mang về, chúng đã ố vàng và bám đầy bụi bẩn vì quá lâu không có ai chạm đến. Bây giờ người ta có tiền vì thế họ thích mua những mặt hàng may sẵn ở cửa hàng hơn là tự đặt may.

Cũng có thể do cô tự an ủi mình như thế. Nếu không thì chỉ có một lý do khác nữa, đó là sự ngần ngại của mọi người khi phải mua hàng của người đàn bà mà họ vẫn cho là điên rồ làm ra – cái lý do đáng thất vọng mà cô không muốn nhắc tới. Làm gì đi nữa thì cô cũng không thể thay đổi được thái độ của người khác với mình, mà bản thân cô cũng càng buồn nếu như cứ cố nghĩ về nó. Cô muốn sống như thế này lắm sao? Trước kia cô khao khát ánh mặt trời và muốn cảm nhận sự dịu dàng của từng làn gió bao nhiêu thì hiện tại chính cô lại sợ phải đối mặt với nó bấy nhiêu. Cô sợ mình sẽ bị bóp nghẹt đến khi mất đi ý thức nếu như dám bước, dù chỉ nửa bước, ra thế giới bên ngoài!

Hiện tại, cô chỉ có thể cảm thấy an toàn phía sau hai ổ khóa chết và thanh gỗ dày chặn kín cánh cửa trước nhà.

Rachel thở dài, đặt đồ đan móc trên tay vào chiếc giỏ để dưới chân rồi đi đến khuấy nồi thịt hầm đang sôi sục trên mặt bếp Windsor. Darby sẽ về tới nhà sớm thôi, đến lúc đó bữa tối của ông phải được đặt sẵn trong chiếc hộp gỗ lim thông với bên ngoài. Cô phải vặn to lửa lên và nhanh chuẩn bị bánh mì ngô để cho vào lò nướng, nếu không lão quản đốc sẽ cáu tiết khi thấy các món chưa được dọn ra đúng giờ.

Đôi khi Rachel cũng phải khá vất vả mới bắt kịp được giờ giấc của Darby. Bởi vì tất cả cửa sổ trong nhà đều bịt kín trong ngoài bằng ván gỗ nên cô chẳng thể biết bên ngoài trời đang sáng hay đã về đêm, do đó cũng khó nắm bắt thời gian trong ngày. Có lúc nếu căng tai ra thì cô cũng nghe thấy tiếng gà gáy báo hiệu bình minh, hoặc có thể phân biệt được đang là buổi sáng hay buổi chiều nếu chú ý hơn đến từng cơn gió thổi vào nhà. Nhìn chung, Rachel giống như đang sống trong một chiếc limbo vậy và nếu không có cái dạ dày thường xuyên kêu gào của Darby thì chắc cô cũng mất hẳn khái niệm đêm và ngày.

Ý nghĩ ấy làm Rachel mỉm cười, cô cho thêm củi vào bếp rồi vặn van điều chỉnh lửa. Nói đến thỏa thuận của cô với Darby thì hẳn cô là người được lợi hơn cả. Cô chỉ cần nấu ăn cho ông mỗi ngày và trả một mức lương trung bình hằng tháng, đổi lại Darby sẽ giúp cô chèo chống toàn bộ trang trại và lo cho cô mọi thứ cô cần. Cũng nhờ có Darby mà cô hầu như không thiếu thốn thứ gì, dĩ nhiên là ngoại trừ những lúc cần có người để nói chuyện. Darby thực tế rất kiệm lời, hệt như một người đàn ông cả đời lam lũ kiếm từng đồng từng cắc vậy.

Rachel đoán Darby trở nên ít nói như vậy là do ảnh hưởng từ công việc, khi mà cả đời ông chỉ quen đơn độc trên lưng ngựa với đàn gia súc rong ruổi qua những ngọn đồi. Những lúc hiếm hoi ông lầm bầm vài câu ngắn với cô là qua vách cửa hoặc tấm ván gỗ, nhưng cũng chỉ có thế. Vì vậy, Rachel chỉ có thể thỏa mãn nhu cầu trò chuyện trong những giấc mơ, khi từng mảng ký ức được tái tạo, cô có gia đình, cha mẹ và anh chị em cười nói vui vẻ bên bàn ăn, hoặc hò hét trò chuyện khắp nơi trong ngôi nhà.

Để mặc suy nghĩ trôi đi, cô bắt tay vào hoàn tất món bánh mì ngô ưa thích. Cô thích nướng bánh, có lẽ một phần vì bị thu hút bởi các loại túi và hộp đựng nguyên liệu đủ màu sắc để đầy trên kệ. Ví dụ như túi bột mì Gold Medal in hình đầu bếp mặc bộ đồ màu đen, đầu đội chiếc mũ cao đang khuấy một cái thùng; hộp bột nở hiệu Royal Baking Powder với màu đỏ sậm đẹp mắt. Còn cả lọ muối ăn tráng men lốm đốm màu xanh da trời, một trong những gam màu ưa thích của cô nữa. Túi bột ngô với hình một cây ngô trĩu bắp điểm thêm sắc xanh, vàng tươi mát vào bộ sưu tập cùng với hộp GARNEL MILLS màu đỏ tươi cuộn phía trên cùng.

Rachel thích nướng bánh cũng không phải chỉ vì những thứ nhiều màu sắc đó. Cô yêu thích mùi thơm ngào ngạt của bánh tỏa ra khắp phòng, nó gợi nhớ đến khoảng thời gian hạnh phúc sống cùng mọi người trong gia đình, cậu em trai mười bốn tuổi nghịch ngợm Daniel, em gái Tansy mới lên năm tuổi chạy lon ton khắp nhà và mẹ cô luôn miệng la mắng những đứa con bất trị. Cô rất nhớ những ngày tháng êm đềm đó. Cô nhớ Denver, con chó cũng đóng góp không nhỏ vào khung cảnh ồn ào ấy với cái đuôi ngoáy tít và đôi mắt ánh lên tia vui mừng. Bố cô, Henry Hollister, thường phàn nàn vì con chó chạy lung tung trong nhà, nhưng thực ra chính ông cũng dung túng cho nó không kém những thành viên khác.

Rachel cắt một miếng đường bỏ vào bát trộn rồi nghiền nát nó thành những hạt nhỏ, dòng ký ức cũng dần thu lại tựa một chiếc áo choàng ấm áp sưởi ấm trái tim cô. Cuộc sống có khi thật phũ phàng, cô không hề phủ nhận, nhưng cô biết nó cũng mang lại nhiều điều tuyệt vời. Vì thế, một người phải học cách quên đi đau khổ và cố gắng níu giữ những điều tốt đẹp cuộc sống ban tặng cho mình.

Khi đã trộn đều các nguyên liệu khô với nhau, cô lấy sữa và trứng gà từ trong thùng ướp lạnh, đun chảy một ít mỡ lợn rồi nhanh chóng hoàn tất mẻ bánh để cho vào lò. Xong xuôi, cô quyết định làm thêm món bánh tráng miệng nóng vị đào để thưởng thức trong những ngày tháng Ba nhiều gió. Darby thích ăn ngọt, mà cô thì cũng chẳng kém gì, bằng chứng là vòng eo của cô đang ngày càng to ra. Nhìn vào dáng hình cô gái phản chiếu trong gương nhà tắm, Rachel thấy mình chưa hẳn là béo, nhưng cứ cái đà này thì vài năm nữa cô sẽ phát phì mất thôi. Hiện tại cô cũng không thể ra ngoài đi dạo hay cưỡi ngựa để giữ dáng như trước nữa, vậy nên để thoát khỏi sự nhàm chán, cô đành phải tập trung vào thỏa mãn thói thèm ăn của mình. Mà gần đây cô lại còn nghiện món chocolate tự làm béo ngậy nữa chứ.

Cầm lấy chiếc đèn trên bàn rồi đi đến nhấc thanh chặn cửa, Rachel đi qua bốn nhịp cầu thang gỗ xuống tầng hầm để lấy lên một hũ Mason1 bảo quản đào từ vụ trước. Vài phút sau, cô đã quay trở lại, vừa nhấm nháp những giọt nước ép đào chảy ra từ trong hũ vừa bận bịu trộn đều hỗn hợp bột bánh. Lát nữa Darby sẽ về, đến khi ông ăn xong bữa tối và mang đĩa đồ ăn thừa trở về từ chỗ nghỉ dành cho cao bồi2 ngoài kia thì món bánh tráng miệng ngon lành của cô cũng đã sẵn sàng chờ thưởng thức.

1 Hũ Mason: Lọ thủy tinh rộng miệng được thiết kế đặc biệt để bảo quản hoa quả, mứt qua mùa đông.

2 Nguyên tác là “bunkhouse”: Chỗ nghỉ ngơi của những chàng cao bồi làm việc tại các trang trại ở Bắc Mỹ, thường là nhà gỗ một gian với những chiếc giường hẹp và lò củi để sưởi ấm.

Vừa lúc cô chuẩn bị xong món bánh hoa quả để cho vào lò thì ổ bánh mì ngô cũng đã nướng xong. Trong khi chờ bánh chín, cô ngồi vào bàn ăn tiếp tục đọc cuốn Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, một cuốn tiểu thuyết cực kỳ lôi cuốn mà theo cảm nhận của cô, mỗi đoạn đều hay không kém gì Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, tác phẩm ưa thích của cô từ trước đến nay, tất nhiên là không kể đến cuốn Jane Eyre và Những phụ nữ nhỏ bé.

Ngón trỏ nghịch ngợm khẽ ấn một bên má lõm xuống, Rachel tìm kiếm trang sách mình đang đọc dở, vài giây sau, cô lại một lần nữa chìm đắm vào khung cảnh ẩm ướt hai bên bờ sông Mississippi. Bóng tối bao phủ xung quanh cô, chỉ có ánh sáng từ ngọn đèn măng sông của Jim vẫn chiếu rọi trong bóng đêm.

Vài phút sau, mùi bánh nướng hoa quả dậy lên từ lò nướng kéo cô trở về hiện thực, cô giật mình: “Chết rồi!”. Cô bật dậy, chạy thẳng đến chỗ lò bánh, vừa chạy vừa cầu nguyện mình sẽ không làm cháy món tráng miệng ngon lành kia. Cô dùng vải lót tay cho khỏi bỏng rồi gấp gáp kéo khay bánh ra khỏi lò, thở phào nhẹ nhõm vì may mắn là mẻ bánh chưa cháy xém tới mức khó coi.

“Ơn Chúa”, cô cảm thán, “Bao giờ mình mới sửa được cái tật vừa nướng bánh vừa đọc truyện đây?”.

Cô phủi phủi bụi bám trên tay sau khi điều chỉnh lại van bếp, đưa mắt nhìn đồng hồ trong lúc quay trở lại bàn. Sáu giờ năm phút. Darby không hay về trễ như thế này. Cô tự hỏi liệu có phải con ngựa thiến già của ông lại dở chứng đi như què rồi không? Chắc không phải, cô hy vọng thế. Darby chăm chút con ngựa như thể nó mới vài tháng tuổi vậy.

Rachel ngồi lại trên ghế, tiếp tục đọc trang sách đang để dở và thầm ước ngay lúc này đây cô cũng được sống trên đảo cùng với Huck và Jim. Ý nghĩ vừa lóe lên cô đã tự chế giễu mình. Chỉ riêng việc vứt bỏ nỗi sợ hãi đã ăn sâu vào tiềm thức để bước ra ngoài kia thôi mà cô còn không thể, sao cô dám mơ đến những cuộc phiêu lưu tuyệt vời trên dòng Mississippi sâu thẳm đầy khuấy động kia?

Joseph kéo mạnh dây cương cho Obie dừng lại tại sân sau nhà Rachel Hollister. David theo ngay sau hắn, con ngựa màu nâu đỏ thở phì phì, vó ngựa chân trước giậm xuống đất kêu huỳnh huỵch. Một khoảng lặng bao trùm khi hai người đàn ông nheo mắt nhìn qua bóng hoàng hôn mờ mờ để quan sát ngôi nhà hai tầng to lớn trước mặt. Mọi cửa sổ đều đã được bịt kín bằng ván gỗ, thậm chí không có lấy một tia sáng lọt qua khe ra ngoài.

“Thật không thể tin được!”, Joseph kinh ngạc lẩm bẩm. “Anh nghe nói cô ấy tự mình bịt kín tất cả cửa sổ trong nhà, giờ nhìn tận mắt anh mới dám tin.”

David rùng mình kéo cao cổ áo khoác, trả lời: “Anh có chắc chúng ta không nên vào bằng cửa trước? Chỉ những ai có ý đồ xấu mới gõ cửa sau nhà một người phụ nữ thôi”.

“Em nghe Darby nói rồi chứ, cô ấy sống ở nhà bếp phía sau, tách biệt khỏi những phần khác của ngôi nhà.”

“Anh cho là cô ấy sẽ trả lời nếu chúng ta gõ cửa?” Joseph không trả lời, tung người xuống ngựa và buông thõng dây cương, tự tin rằng con ngựa Obie sẽ có thể tự đứng yên như đã được huấn luyện từ trước. “Chỉ có một cách để biết”, hắn nói.

Khi Joseph băng qua khoảng đất ngắn đã đông cứng và phủ đầy cỏ dại dẫn đến phần hiên sau lớn bằng hai phần ba chiều rộng cả ngôi nhà, hắn không khỏi lấy làm lạ về con người đã lựa chọn sống ở đây. Bốn năm sống tại No Name hắn cũng đã nghe không ít lời bàn tán về Rachel Hollister, đều là các câu chuyện kỳ dị như cô nuôi dơi bên trong tháp chuông chẳng hạn. Nhưng hắn chẳng ngờ tới cô ta lại điên tới mức này, một người phụ nữ sống trong cái hố đen, trốn tránh cả thế giới.

Joseph quan sát kỹ mặt phía sau đã được tu bổ bên ngoài ngôi nhà, David cũng đi lên sánh vai với anh. Cửa sau dày phải đến bốn inch3, được ghép từ nhiều tấm ván gỗ sồi mà chỉ có thể dùng phiến gỗ nặng chuyên phá cổng thành mới mong phá bỏ được. Phía bên trái cửa gần ô cửa sổ kín bưng cố định một hộp gỗ lim lớn, Joseph cũng làm một cái như thế ở nhà mình, đồ đạc có thể đặt vào một cách an toàn từ phía ngoài và người bên trong bếp cũng dễ dàng lấy ra. Hắn đoán thường ngày Darby luôn nhét đầy củi vào hộp để cô gái nhà Hollister không bao giờ phải ra ngoài kiếm củi sưởi ấm. Joseph đứng ở mái hiên giậm mạnh chân để giũ sạch đôi bốt trong khi David vẫn theo sát từng bước phía sau. Hy vọng hai anh em sẽ được mời vào nhà sưởi ấm mà không phải đứng chờ dưới cái lạnh ngoài này. Khi cả hai đã đứng sánh vai trước cửa nhà, Joseph liếc nhìn em trai một cái rồi giơ tay lên gõ cửa.

3 Inch là đơn vị đo lường của Anh. Một inch tương đương với 2.54 cm.

Rachel nghe tiếng bước chân vang lên ngoài hiên nhà, cô gấp sách lại, đoán rằng Darby đã về tới. Nhưng khi người đó bắt đầu đập cửa, cô như thể hồn lìa khỏi xác. Không phải Darby. Ông lần nào cũng chỉ đập đập vài cái vào thùng gỗ lim để cô biết ông đã về nhà.

“Cô Hollister?” Một người đàn ông gọi to.

Rachel bật dậy, bất giác lùi lại một bước. Đã lâu lắm không có ai đến gọi cô như thế, cô nhớ vị khách cuối cùng từng tới nhà mình là bác sĩ Halloway, nhưng đó cũng là bốn năm trước đây rồi.

“Ai… ai đấy?” Cô gọi, giọng lí nhí vì lo lắng.

“Joseph Paxton, hàng xóm của cô”, giọng nói trầm thấp lại vang lên. “Trang trại của tôi ở ngay ở rìa phía nam.”

Rachel mơ hồ nhớ lại Darby từng nói về việc ai đó đã mua lại dải đất phía nam trang trại, nhưng cô lại chẳng có ấn tượng gì với cái tên Paxton này cả. Cô xoay người chạy đến chỗ giá súng nằm giữa bàn đọc sách và tủ quần áo, không do dự với lấy khẩu Colt. Đó là một khẩu súng săn sử dụng loại đạn 10-gauge có nòng súng thu ngắn, thứ mà Darby đã khẳng định là có thể bắn chết cả con gấu xám Bắc Mỹ đang điên cuồng. Ở cự ly gần, cô chỉ việc nhắm bắn và kéo cả hai cò súng. Rachel không muốn bắn bất cứ ai, nhưng để an toàn cô buộc phải lên nòng sẵn, phòng trường hợp bất trắc.

Rachel sợ đến nỗi chân tay run lẩy bẩy, cô làm rơi vài viên đạn từ trong ngăn kéo trong khi cuống cuồng giật mở nó ra. Nhanh lên, nhanh lên nào! Cô gần như kéo hỏng nòng súng, nhét vội vàng từng viên vào ổ đạn, rồi thô lỗ đóng nó lại như cũ. Trong căn phòng yên tĩnh đến bất thường, tiếng soàn soạt nhỏ của khẩu súng làm từ thép Đamat4 cũng trở nên ồn ào đến chói tai.

4 Thép Đamat (Thép Damascus): Một loại thép truyền thống dùng để rèn kiếm của vùng Trung Đông, với đặc trưng là các vân kim loại nổi bật với các vết lốm đốm như nước chảy.

Cô loạng choạng quay mặt về phía cửa chặn, tỳ báng súng vào hông rồi hét lên: “Nói mau, anh định làm gì?”

Rồi cô nghe thấy tiếng bốt giầy lộn xộn nện xuống sàn gỗ ngoài hiên. Không phải một người? Rachel ớn lạnh. Ôi, lạy Chúa. Lạy Chúa. Darby, ông ở đâu? Bọn họ đã làm gì ông rồi? Lão quản đốc chưa bao giờ về muộn thế này… trừ khi ai đó đã làm hại ông.

“Tôi có chuyện khẩn cấp, không thể nói qua vách cửa được”, người đàn ông trả lời. “Có cảnh sát trưởng đi cùng tôi, nên cô có thể yên tâm.”

Cảnh sát trưởng? Tim Rachel đập loạn.

“Cô có thể mở cửa một lúc được không, thưa cô?”, một người đàn ông khác cất giọng hỏi. “Tôi là David Paxton, cảnh sát trưởng của thị trấn No Name. Tôi đảm bảo sẽ không có chuyện gì xấu xảy ra với cô.”

Rachel cong ngón trỏ đặt trên cò súng, sẵn sàng nổ súng ngay khi bọn họ cố gắng bước vào nhà, cô hét: “Nói đi, các anh đến đây làm gì? Tôi vẫn nghe rõ qua cánh cửa”, rồi nuốt khan một cái để ổn định giọng nói. “Lát nữa quản đốc của tôi sẽ về, nếu cần nói chuyện trực tiếp, các anh cứ việc đợi rồi nói với ông ấy.”

Hai bên lại im lặng. Người đàn ông đầu tiên nói tiếp: “Đó cũng chính là lý do chúng tôi đến đây, cô Hollister, để thông báo về tình trạng của ông quản đốc. Khoảng ba giờ chiều nay, ông ấy bị thương và cố gắng cưỡi ngựa đến trang trại của tôi nhờ người giúp”.

“Bị thương?” Lo lắng cho Darby, Rachel ngập ngừng tiến một bước về phía cửa, sau đó cô định thần lại, không bước tiếp nữa. Cô chỉ có một mình, hàng xóm gần nhất cũng cách hàng dặm, thế nên tin tưởng hai kẻ lạ mặt là chuyện cực kỳ điên rồ.

“Ông ấy bị thương thế nào?” Rachel từ nhỏ đã sống trong trang trại nên cũng ý thức được hầu hết các mối nguy hiểm có thể xảy ra. Darby có thể bị dây thép gai cứa, ngã từ trên lưng ngựa xuống mặt đá lởm chởm, hoặc bị bò đực húc, đó cũng chỉ là vài khả năng. Hoặc không may ông cũng có thể bị hai tên trộm vặt phục kích. Ngoài kia lại vọng vào tiếng đàn ông thấp giọng lầm rầm, cuối cùng người tự xưng là Joseph Paxton lên tiếng: “Lúc đó ông ấy đang ở rìa phía bắc trang trại của cô, cô Hollister, để tìm một con bò cái. Khi ông quay người rời khỏi những tảng đá và đi về hướng con lạch thì bị người ta bắn sau lưng”.

Bị bắn? Cái từ đó cứ luẩn quẩn mãi trong đầu Rachel, những ký ức kinh khủng trước đây cứ lần lượt tái diễn ngay trước mắt cô. Cô biết chỗ anh ta vừa nói là nơi nào, nó bám riết lấy giấc mơ của cô mỗi đêm. Chúa ơi, điều đó không thể tái diễn được, làm ơn, đừng để nó xảy ra lần nữa. Một tiếng đinh xa lạ vang lên bên tai, cô cũng không còn cảm nhận được đôi chân mình nữa.

Từng cảnh tượng lần lượt hiện ra trước mắt cô, hình ảnh gia đình cô, em gái cô Tansy say sưa đuổi theo những con bướm, cha cô ngồi bên bờ con lạch chơi vĩ cầm còn mẹ cô nhảy múa bên cạnh. Cuối cùng là em trai cô, Daniel, mái tóc vàng lấp lánh dưới ánh mặt trời và nụ cười tinh nghịch của nó khi vật lộn tranh giành với cô miếng đùi gà quay cuối cùng trong giỏ picnic.

Rachel lê bước đến bàn ăn rồi sụp người xuống ghế, cô lờ mờ nghe thấy Joseph Paxton nói gì đó với mình nhưng không tài nào bắt được một từ, tai cô như thể đổ đầy nước vậy. Darby, bị bắn. Cô không thể tập trung vào bất cứ khái niệm nào, cũng như chẳng thể tin chuyện lại xảy ra lần nữa, ở đúng chỗ đó, nơi gia đình cô bị giết. Không, không, không.

Trước mắt cô chỉ là một màn sương mù màu đen che kín tầm nhìn. Rachel nắm chặt hai bàn tay thành nắm đấm, cô đã phải chịu đựng một lần và quyết không để nó xảy ra lần nữa. Không phải bây giờ, khi hai kẻ lạ mặt vẫn còn đang ở ngoài kia. Nhưng bóng tối kiên định cứ mỗi lúc một tiến gần hơn, cuộn thành một tấm màn đen dày không thể xuyên thủng bao kín lấy cô.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *