Trang chủ / Văn học nước ngoài / Đột Nhiên Có Tiếng Gõ Cửa

Đột Nhiên Có Tiếng Gõ Cửa

dot-nhien-co-tieng-go-cua-ebook1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả : Etgar Keret

Download sách Đột Nhiên Có Tiếng Gõ Cửa ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

2. DOWNLOAD

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ?  Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Lời giới thiệu

Tập truyện ngắn mang tựa đề Đột nhiên có tiếng gõ cửa là tác phẩm thứ sáu của Etgar Keret. Trong truyện cùng tên, người kể chuyện khuyết danh bị giữ làm con tin bởi một nhóm người yêu cầu anh kể một câu chuyện “đừng có trút thực tế xuống đầu bọn tao như một cái xe chở rác. Mày phải dùng trí tưởng tượng của mày, sáng tạo, phát minh hoặc bằng cách nào cũng được.” Và thế là nhà văn đã làm đúng như vậy.

Tất cả các câu chuyện đều chứa đựng nhiều ngụ ý, là những cuộc thử nghiệm trí não. Thế này thì sao? Tại sao lại không? Cái quái gì vậy? Tôi rất vui được biết rằng cuốn sách này, được chuyển ngữ thành tiếng Việt, sẽ mang lại cho độc giả một trải nghiệm rất Israel thông qua những hình ảnh phản chiếu được khúc xạ qua lăng kính của nhà văn về những hỗn độn và ngẫu nhiên vẫn tồn tại hằng ngày.

Sau khi đọc bản thảo mới nhất của nhà văn Etgar Keret, chúng tôi biết Đột nhiên có tiếng gõ cửa là nhan đề phù hợp nhất cho một tập truyện ngắn súc tích và giàu ý nghĩa đến nhường ấy. Có lúc hài hước, có lúc tối tăm, nhưng luôn luôn sáng tạo, Đột nhiên có tiếng gõ cửa là sản phẩm của một trí tưởng tượng kỳ lạ. Những câu truyện cực ngắn, mà âm hưởng lại quá dài. Cuộc sống – trong mắt Etgar Keret – đầy rẫy những bất ngờ, bấp bênh, cô đơn, và trống rỗng.

Cô gái Ella trong truyện “Lột vỏ” vô tình tìm thấy dưới lưỡi bạn trai mình một cái khóa. Cô mở khóa ra và thấy một con người khác – con người thật – của bạn trai mình. Hóa ra, anh ta uống rượu rất nhiều và không yêu cô như cô vẫn tưởng, rồi cuối cùng anh ta bỏ đi. Rồi đột nhiên, Ella cũng thấy dưới lưỡi mình có một cái khóa. Và những băn khoăn được đặt ra: chúng ta liệu đã hiểu hết những người xung quanh mình? Họ là những gì họ thể hiện, hay chỉ là vỏ bọc cho một con người khác – con người mà chúng ta chưa được biết? Và cả bản thân chúng ta nữa, liệu chúng ta có phải là con người như mình nhìn thấy trước gương mỗi ngày?

Anh chàng Haggai trong truyện “Nhắm mắt” dù đã có vợ con nhưng luôn mơ mộng vợ mình là một người khác, những đứa trẻ khác là con mình. Cô gái trong truyện “Ari” yêu đến 28 người cùng tên là Ari và rốt cuộc vẫn chưa tìm ra Ari “thực thụ” của mình.

Vì những bất ngờ, bấp bênh, cô đơn, và trống rỗng ấy, mà chúng ta cần có nhau, cần được chia sẻ và yêu thương, hay nói cách khác – cần được kết nối, một trong những vấn đề lớn của xã hội ngày nay. Nhân vật Sergei trong truyện “Bạn ước gì từ con cá vàng” sẵn sàng đánh đổi một điều ước vô giá chỉ để giữ lại con cá vàng làm bầu bạn. Hay anh chàng trong truyện “Bạn mang gì trong túi” luôn ních chật túi mình với đủ thứ vớ vẩn, từ bật lửa, kẹo ho, tem thư cho đến vài đồng tiền lẻ – tất cả chỉ để không phải bỏ lỡ cơ hội được mở lòng với người khác. Nhỡ có ai đó cần, nhỡ có ai đó hỏi… Hình ảnh “tiếng gõ cửa”trong tựa đề cuốn sách có gì đó giống niềm khắc khoải chờ đợi yêu thương của mỗi cõi lòng.

Bằng trí tưởng tượng đặc sắc của mình, Etgar Keret – hay “bậc thầy về cô đọng” như cách gọi của một số người dành cho nhà văn độc đáo này – mang đến cho người đọc một cách nhìn mới mẻ về thế giới, mà xuyên suốt là sự khao khát, niềm thương yêu, da diết mà không ảm đạm u sầu.

Cả một cuộc sống đa sắc thái được ngồn ngộn hiện bày trong những câu truyện ngắn, với những câu chữ đôi khi cũng gọn lỏn không kém. Và này anh nhà văn, chắc anh đã quen với cảnh ngồi một mình trước màn hình máy tính mà không biết viết gì? Thực tại xung quanh anh, như cách anh cảm nhận, là tẻ nhạt và chẳng có gì đáng viết? Vậy anh thử làm theo cách của Etgar Keret xem sao: đừng bận tâm tới việc lục tung khắp chốn tìm đề tài để viết nữa, thay vào đó, hãy để cuộc sống tự gõ cửa nhà anh, gí súng vào đầu anh, hoặc cầm dao kề cổ anh mà bắt anh phải kể cho nó nghe bằng được một câu chuyện – mà không phải là thứ chuyện anh thích kể sao thì kể, phải là thứ chuyện theo đúng yêu cầu của cuộc sống kia. Biết đâu, lúc đó, kiệt tác của anh sẽ ra đời.

Viết lời giới thiệu dài dòng cho một tuyển tập truyện cực ngắn, thực là một sự mỉa mai. Bây giờ, sách đã mở, mời bạn cùng chu du vào thế giới đượm màu siêu thực của nhà văn Israel đương đại Etgar Keret. Và biết đâu, bạn sẽ gặp mình trong thế giới ấy.

ĐỌC THỬ

Đột nhiên có tiếng gõ cửa

Kể cho tao một câu chuyện,” người đàn ông râu rậm ngồi trên ghế sofa phòng khách nhà tôi ra lệnh. Phải nói rằng tình thế chẳng hề vui vẻ chút nào. Tôi là người viết truyện chứ không phải người kể chuyện. Mà dẫu thế, đó cũng không phải là việc tôi sẽ làm khi bị ra lệnh. Lần cuối cùng có người đòi tôi kể cho nghe một câu chuyện, người ấy là con trai tôi. Từ một năm trước. Tôi kể cho thằng bé chuyện gì đó về một bà tiên và một con chồn sương – thậm chí tôi còn chẳng nhớ nổi chính xác câu chuyện là gì – và trong vòng hai phút thằng bé đã ngủ tít. Nhưng tình thế hiện tại thì khác hẳn. Vì con trai tôi chẳng có bộ râu rậm rì hay một khẩu súng ngắn. Vì con trai tôi đã hỏi xin câu chuyện một cách lễ phép, còn người đàn ông này chỉ đơn giản là muốn moi nó ra từ tôi.

Tôi cố giải thích với người đàn ông rậm râu rằng nếu gã cất khẩu súng ngắn đi, hành động ấy sẽ có lợi cho gã, và cho cả hai chúng tôi. Thật khó nghĩ ra nổi một câu chuyện khi cứ bị súng chĩa vào đầu. Nhưng gã vẫn không chịu buông súng. “Ở cái đất nước này,” gã giải thích, “nếu muốn thứ gì đó, mày buộc phải dùng vũ lực.” Gã vừa mới từ Thụy Điển tới đây, và ở Thụy Điển mọi sự khác hoàn toàn. Tại đó, nếu bạn muốn một thứ, bạn yêu cầu thật lịch sự, mà trong phần lớn các trường hợp bạn sẽ có được nó. Nhưng ở vùng Trung Đông ngột ngạt nhễ nhại mồ hôi này thì không. Chỉ cần sống một tuần tại đây là đủ để hiểu ra làm thế nào sẽ được việc – hay đúng hơn là làm thế nào sẽ không được việc. Người Palestine yêu cầu được có một nhà nước, một cách lịch sự. Họ có được nó không? Có mà xuống địa ngục với quỷ. Vậy là họ chuyển sang làm nổ tung trẻ con trên xe buýt, và người ta bắt đầu lắng nghe họ. Những người định cư kêu gọi đối thoại. Có ai chấp nhận đề nghị của họ không? Tất nhiên là không. Vậy là họ bắt đầu động thủ, đổ dầu nóng vào các toán tuần tra biên giới, thế là đùng một cái họ được tiếp kiến. Ở đất nước này, sức mạnh làm nên lẽ phải, chẳng cứ trong chính trị, kinh tế hay ở một chỗ đậu xe. Bạo lực là thứ ngôn ngữ duy nhất chúng ta hiểu.

Người đàn ông rậm râu di cư về từ Thụy Điển, một nơi tiến bộ, hơn xa về nhiều lĩnh vực. Thụy Điển không chỉ là ban nhạc Abba, hãng Ikea(1) hay giải Nobel. Thụy Điển là một thế giới của riêng mình, và mọi thứ họ sở hữu, họ đều có được bằng những cách thức hòa bình. Ở Thụy Điển, nếu gã tới nhà cô ca sĩ hát chính của Ace of Base, gõ cửa và đề nghị cô này hát cho nghe, cô sẽ mời gã vào, pha cho gã một tách trà. Sau đó, cô sẽ lấy cây ghi-ta mộc từ dưới gầm giường ra và chơi cho gã nghe. Và cô làm tất cả những chuyện này với nụ cười trên môi! Nhưng còn ở đây? Nếu không phải gã đang chĩa lăm lăm khẩu súng ngắn, chắc tôi đã tống khứ gã ra ngoài ngay rồi. “Nghe này,” tôi cố nói lý. “Nghe cái đầu mày ấy,” gã rậm râu hầm hừ, rồi đặt tay lên cò súng. “Hoặc là một câu chuyện, hoặc là một viên đạn vào giữa hai mắt.” Tôi thấy các lựa chọn của mình quả là ít ỏi. Gã này thực sự nghiêm túc đây. Vậy là tôi đành phải bắt đầu câu chuyện. “Có hai người đang ngồi trong một căn phòng, thì đột nhiên có tiếng gõ cửa.” Gã rậm râu cứng người lại, và trong khoảnh khắc tôi nghĩ có thể gã đang bị cuốn vào câu chuyện, nhưng không phải. Gã đang lắng nghe một âm thanh khác. Có một tiếng gõ cửa thật. “Ra mở cửa đi,” hắn bảo tôi, “và đừng giở trò. Tống khứ bất cứ đứa nào ngoài đó đi, và làm nhanh vào, nếu không chuyện này sẽ kết thúc xấu đấy.”

Anh chàng trẻ tuổi ngoài cửa đang làm một cuộc điều tra. Anh ta có vài câu hỏi. Ngắn thôi. Về độ ẩm cao ở đây vào mùa hè, cũng như việc nó ảnh hưởng thế nào đến tâm trạng của tôi. Tôi nói với anh ta là tôi không quan tâm nhưng anh chàng vẫn xộc vào.

“Ai vậy?” anh ta hỏi tôi, chỉ tay về phía người đàn ông rậm râu đang đứng trong phòng khách nhà tôi. “Đó là cháu họ tôi từ Thụy Điển tới,” tôi nói dối. “Bố cậu ấy mất trong một trận lở tuyết và cậu ấy ở đây dự tang lễ. Chúng tôi đang xem qua di chúc. Cậu có thể làm ơn tôn trọng sự riêng tư của chúng tôi và ra về được không?” “Thôi nào, ông ơi,” anh chàng điều tra viên nói và vỗ vai tôi. “Chỉ vài câu hỏi thôi mà. Hãy cho người ta cơ hội kiếm vài đồng đi nào. Người ta trả tôi theo số người trả lời đấy.” Anh ta ngồi phịch xuống ghế sofa, tay khư khư cặp tài liệu. Gã Thụy Điển ngồi xuống cạnh anh ta. Tôi vẫn đang đứng, cố làm ra vẻ nghiêm túc. “Tôi yêu cầu cậu rời đi,” tôi nói với anh ta. “Cậu đến không đúng lúc.” “Không đúng lúc hả?” Anh ta mở chiếc cặp nhựa và lấy ra một khẩu súng ổ quay to kệch. “Tại sao tao lại không đúng lúc? Vì da tao đen hơn à? Vì tao không đủ tử tế à? Với bọn Thụy Điển thì mày có vô khối thời gian. Nhưng với một người Ma rốc, một cựu binh đã để lại một phần lá lách ở Li băng, thì mày không thể bỏ ra lấy một phút ngắn ngủi chết tiệt được à?” Tôi cố nói lý với anh ta, bảo anh ta rằng hoàn toàn không phải thế, chuyện chẳng qua chỉ là anh ta đến đúng vào thời điểm tế nhị trong cuộc nói chuyện giữa tôi và gã Thụy Điển. Nhưng anh chàng điều tra viên đã đưa súng lên môi, ra hiệu bảo tôi im miệng. “Thôi ngay,” anh ta nói. “Đừng có viện cớ nữa. Ngồi xuống kia, và bắt đầu đi.” “Bắt đầu cái gì cơ?” tôi hỏi. Sự thật là lúc này tôi đang căng thẳng lắm rồi. Gã Thụy Điển cũng có một khẩu súng ngắn. Sự thể có thể vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Hai đằng có thể choảng nhau lắm chứ. Tính cách khác nhau mà. Hoặc giả gã Thụy Điển sẽ nổi điên lên, chỉ đơn giản vì hắn muốn toàn bộ câu chuyện cho riêng mình. Một mình gã mà thôi. “Đừng để tao nổi điên,” tay điều tra viên cảnh cáo. “Tao nóng tính lắm đấy. Kể chuyện đi! Và nhanh lên.” “Phải,” gã Thụy Điển rút súng chen vào. Tôi hắng giọng, và kể lại từ đầu. “Ba người đang ngồi trong một căn phòng.” “Và đừng có ‘Đột nhiên có tiếng gõ cửa’ nữa nhé,” gã Thụy Điển lên tiếng. Tay điều tra viên chưa chắc đã hiểu, nhưng cũng hùa theo. “Tiếp tục đi,” hắn nói. “Và đừng có gõ cửa gõ kiếc gì hết. Kể cho bọn tao nghe thứ gì khác. Làm bọn tao ngạc nhiên đi xem nào.”

Tôi ngừng bặt, hít một hơi thật sâu. Cả hai gã chăm chăm nhìn tôi. Thế nào tôi lại luôn đẩy mình vào những tình huống thế này chứ? Tôi cược là những chuyện kiểu này chẳng bao giờ xảy đến với Amos Oz hay David Grossman(2) cả. Bỗng có tiếng gõ cửa. Ánh mắt bọn họ trở nên đe dọa. Tôi nhún vai. Đâu phải vì tôi. Chẳng có gì trong câu chuyện của tôi liên quan tới tiếng gõ đó. “Tống khứ hắn đi,” tay điều tra viên ra lệnh. “Tống khứ hắn, dù hắn là ai đi nữa.” Tôi chỉ hơi nhích cửa mở ra một chút. Đó là một người giao bánh pizza. “Ông có phải là Keret không?” anh ta hỏi. “Phải,” tôi đáp, “nhưng tôi không gọi pizza.” “Trên này ghi ở đây, số 14 phố Zamenhoff,” anh ta cấm cẳn, chỉ vào phiếu giao hàng rồi chen vai lách vào trong. “Thế thì sao?” tôi nói. “Tôi không gọi pizza.” “Cỡ cho cả gia đình đấy,” anh ta khăng khăng. “Nửa dứa, nửa cá trống. Trả tiền trước bằng thẻ tín dụng rồi. Giờ đưa tôi tiền boa rồi tôi sẽ đi ngay.” “Mày cũng tới đây vì một câu chuyện à?” gã Thụy Điển vặn hỏi. “Câu chuyện nào?” tay giao bánh pizza hỏi, nhưng rõ ràng hắn đang nói dối. Hắn không khá lắm trong trò này. “Lấy nó ra đi,” tay điều tra viên thúc giục. “Thôi nào, lấy khẩu súng ra ngay đi.” “Tôi không có súng,” gã giao pizza ngượng ngập thừa nhận, và rút một con dao thái thịt ra từ dưới cái khay bánh bằng bìa các-tông. “Nhưng tôi sẽ thái hắn thành từng mảnh nhỏ trừ khi hắn chịu phun ra chuyện gì đó hay ho, và thật nhanh.”

Cả ba gã đều đang ngồi trên sofa – gã Thụy Điển bên phải, rồi đến gã giao pizza, rồi tay điều tra viên. “Tôi không thể làm điều đó như thế này,” tôi nói với họ. “Tôi không thể kể trôi chảy một câu chuyện trong khi ba người các anh ở đây cùng đống vũ khí. Hãy đi dạo một vòng quanh khu nhà, và khi các anh trở lại, tôi sẽ có một câu chuyện nào đó cho các anh.” “Thằng khốn này sẽ gọi cảnh sát,” tay điều tra viên nói với gã Thụy Điển. “Hắn nghĩ gì thế không biết, coi bọn ta mới đẻ hôm qua chắc?” “Thôi nào, cho bọn tao một câu chuyện đi và bọn tao sẽ biến,” gã giao pizza nài nỉ. “Một câu chuyện ngắn thôi. Đừng có keo kiệt thế. Thời thế khắc nghiệt lắm, mày biết mà. Thất nghiệp, đánh bom liều chết, người Iran. Dân tình đang thèm thứ gì khác. Mày nghĩ cái gì đã đẩy những gã vốn tôn trọng luật pháp như bọn tao đến nước này? Bọn tao tuyệt vọng, anh bạn ạ, tuyệt vọng.”

Tôi hắng giọng và bắt đầu lại. “Bốn người đang ngồi trong một căn phòng. Trời nóng. Họ chán ngán. Điều hòa nhiệt độ chạy tậm tịt. Một người trong bọn họ yêu cầu một câu chuyện. Người thứ hai hòa vào, rồi người thứ ba…” “Đó không phải là một câu chuyện,” tay điều tra viên phản đối. “Đó là một bản tường trình của nhân chứng. Đó chính xác là điều đang diễn ra tại đây lúc này. Chính xác là thứ chúng ta đang cố gắng trốn chạy khỏi. Đừng có trút thực tế xuống đầu bọn tao như một cái xe chở rác thế. Hãy dùng đến trí tưởng tượng của mày ấy, ông bạn. Hãy hư cấu, sáng tạo ra nó hoàn toàn.”

Tôi gật đầu và bắt đầu lại. Một người đang ngồi một mình trong một căn phòng. Anh ta cô đơn. Anh ta là một nhà văn. Anh ta muốn viết một câu chuyện. Đã lâu rồi anh không viết, và anh ta thấy thiếu vắng nó. Anh ta thấy nhớ cảm giác sáng tạo nên một cái gì đó từ một thứ nào đó. Đúng thế – một cái gì đó từ một thứ nào đó. Bởi vì tạo ra một cái gì đó chẳng từ gì cả là khi bạn tạo nên một cái gì đó từ không khí, trong trường hợp ấy nó chẳng có chút giá trị nào. Bất cứ ai cũng có thể làm thế. Nhưng tạo ra một cái gì đó từ một thứ nào đó có nghĩa là thứ ấy vẫn luôn tồn tại bên trong bạn, và bạn khám phá ra nó như một phần của một cái mới, cái chưa từng xảy ra. Người đàn ông quyết định viết một câu chuyện về tình thế. Không phải là tình thế chính trị, cũng không phải là tình thế xã hội. Anh ta quyết định viết một câu chuyện về tình con người, thân phận con người. Thân phận con người như anh ta đang cảm nhận nó ngay lúc này. Nhưng anh ta chỉ thu được sự trống rỗng. Chẳng có câu chuyện nào hiện ra. Bởi vì thân phận con người như anh ta đang cảm nhận nó ngay lúc này dường như không xứng đáng là một câu chuyện, và đúng lúc anh ta sắp sửa bỏ cuộc thì đột nhiên – “Tao cảnh cáo mày rồi đấy,” gã Thụy Điển ngắt lời tôi. “Không có tiếng gõ cửa nào hết đâu đấy.” “Tôi cần phải có,” tôi khăng khăng. “Không có một tiếng gõ cửa sẽ chẳng có câu chuyện nào hết.” “Để kệ hắn,” tay giao pizza dịu giọng nói. “Cho hắn nghỉ một chút. Mày muốn một tiếng gõ cửa chứ gì? Được, mày có tiếng gõ cửa rồi đấy. Miễn là nó đem đến cho bọn mình một câu chuyện.”

Miền nói dối

Robbie nói dối lần đầu tiên khi lên bảy. Mẹ cậu ta đưa một tờ tiền cũ xì nhàu nhĩ và sai con trai đi mua cho bà một bao thuốc Silk Cuts đầu lọc ngoài cửa hàng. Nhưng, Robbie lại đi mua kem. Cậu ta lấy lại tiền lẻ và giấu những đồng xu dưới một tảng đá trắng to ngoài vườn khu chung cư của gia đình mình. Khi bà mẹ hỏi chuyện gì đã xảy ra, cậu ta kể với bà là một gã thiếu niên đô con tóc đỏ chóe bị khuyết một cái răng cửa đã chặn đường để đánh và cướp tiền. Bà mẹ tin lời cậu con trai. Và kể từ đó, Robbie không ngừng nói dối. Khi học trung học, anh ta tha thẩn chơi ngoài bãi biển ở Eilat cả tuần sau khi kể cho người quản lý học sinh ở trường câu chuyện về một người cô sống tại Beer Sheba mới phát hiện bị ung thư. Hồi Robbie ở trong quân đội, bà cô tưởng tượng này bị mù và nhờ đó đã cứu anh ta thoát khỏi rầy rà to khi anh ta vắng mặt không phép. Không bị cấm túc, thậm chí chẳng bị cấm trại. Chẳng gì cả. Có lần, khi đến chỗ làm muộn hai tiếng, Robbie bịa ra câu chuyện về một con béc giê Đức nằm vật bên đường. Anh ta kể con chó đã bị xe cán phải, và anh ta đã đưa nó tới bác sĩ thú y. Trong lần nói dối này, con chó bị liệt hai chân, và Robbie mang nó tới chỗ bác sĩ thú y chỉ để biết rằng con chó sẽ không bao giờ cử động được hai chân sau nữa. Thế là đủ để được việc. Có vô vàn lời nói dối trong suốt con đường đời của Robbie. Những lời nói dối què quặt không tay, những lời nói dối bệnh hoạn, những lời nói dối tai hại, những lời nói dối có thể chết người. Nói dối khi đi bộ, nói dối khi ngồi sau tay lái, nói dối khi đang thắt nơ đen bảnh bao, và những lời nói dối có thể đánh cắp. Anh ta bịa ra chúng chỉ trong nháy mắt, không bao giờ nghĩ sẽ phải gặp lại chúng nữa.

Mọi chuyện bắt đầu với một giấc mơ. Một giấc mơ ngắn ngủi, mơ hồ về người mẹ đã mất. Trong giấc mơ này, hai mẹ con họ đang ngồi trên một tấm đệm rơm ở giữa một bề mặt màu trắng sáng dường như không đầu không cuối. Bên cạnh họ, trên bề mặt trắng vô hạn này là một cái máy bán kẹo cao su có phần đỉnh hình bong bóng, thứ máy kiểu cũ, bạn nhét một đồng xu vào khe, xoay tay cầm – và một cái kẹo cao su rơi ra. Và trong giấc mơ, bà mẹ Robbie nói với cậu con trai rằng thế giới bên kia đang làm bà nổi đóa, vì dân tình rất tử tế, nhưng ở đó chẳng hề có thuốc lá. Mà không chỉ không có thuốc lá, còn không cả cà phê. Không máy thu thanh. Chả có gì hết.

“Con cần phải giúp mẹ, Robbie,” bà nói. “Con phải mua cho mẹ một cái kẹo cao su. Mẹ đã nuôi nấng con, con trai. Suốt những năm đó mẹ đã dành cho con mọi thứ và không đòi hỏi điều gì. Nhưng giờ đã đến lúc đền đáp lại cho bà mẹ già của con. Mua cho mẹ một cái kẹo cao su nhé. Một cái màu đỏ, nếu con có thể, nhưng màu xanh dương cũng ổn.” Và trong mơ, Robbie loay hoay lục lọi khắp các túi áo túi quần, hy vọng tìm thấy chút tiền lẻ. Chẳng có xu nào. “Mẹ ơi, con chẳng có xu nào,” anh ta nói, đôi mắt ầng ậng nước. “Con không có tiền lẻ. Con đã tìm khắp các túi rồi.”

Robbie chưa bao giờ khóc khi thức, nên việc anh ta khóc trong mơ quả là lạ. “Con đã tìm dưới tảng đá chưa?” mẹ anh ta hỏi, và nắm chặt hai bàn tay cậu con trai. “Biết đâu những đồng xu vẫn còn đó thì sao?”

Và sau đó anh ta choàng tỉnh. Lúc ấy là 5 giờ sáng vào một ngày thứ Bảy, bên ngoài trời vẫn còn tối. Robbie chui vào xe và lái tới nơi anh ta từng sống khi còn bé. Đường xá vắng tanh, anh ta chỉ cần chưa tới hai mươi phút để tới đó. Ở tầng trệt tòa nhà, nơi từng là cửa hàng tạp hóa Pliskin, giờ có một cửa hàng tiện lợi và bên cạnh nó, thế chỗ tiệm sửa giày là một cửa hàng bán điện thoại di động đang tưng bừng mời chào những gói nâng cấp.

Nhưng bản thân tòa nhà không hề thay đổi. Hơn hai mươi năm đã trôi qua kể từ khi gia đình Robbie chuyển đi, tòa nhà thậm chí còn chưa được sơn lại. Khu vườn cũng vẫn thế, vài bông hoa, một vòi nước, một đồng hồ nước hoen gỉ, và cỏ dại. Góc vườn, cạnh những dây phơi quần áo, là tảng đá trắng, vẫn nằm nguyên đó.

Robbie đứng trong khu vườn phía sau tòa nhà, nơi anh ta đã lớn lên, mặc áo khoác có mũ, tay cầm một chiếc đèn pin nhựa lớn, và có cảm giác thật lạ lẫm. 5 giờ 30 phút sáng một ngày thứ Bảy. Giả dụ có một người sống ở đây xuất hiện – anh ta sẽ phải nói gì đây? Người mẹ quá cố của tôi hiện về trong giấc mơ và bảo tôi mua cho bà một cái kẹo cao su, vậy nên tôi tới đây tìm tiền lẻ chăng?

Thật lạ khi tảng đá vẫn còn ở đó sau bao nhiêu năm. Nhưng, nghĩ đi nghĩ lại thì, đá làm sao có thể tự đứng dậy mà bước đi được. Anh ta thận trọng nhấc nó lên, như thể có khả năng một con bọ cạp đang ẩn nấp bên dưới. Nhưng chẳng có con bọ cạp nào hết, không có rắn, và cũng chẳng có đồng xu nào. Chỉ có một cái hốc to bằng quả bưởi, và một quầng sáng phát ra từ bên trong hốc.

Robbie cố ghé mắt nhìn vào trong hốc, nhưng luồng sáng làm anh ta lóa mắt. Anh ta do dự trong một giây, rồi thò tay vào trong hốc. Nằm bệt xuống đất, anh ta đưa cả cánh tay xuống tới tận vai, cố chạm tới thứ gì đó dưới đáy. Nhưng chẳng có cái đáy nào cả, và thứ duy nhất anh ta nắm được là một thứ làm bằng kim loại lạnh ngắt, có vẻ là một cái tay cầm. Tay cầm của một cái máy bán kẹo cao su. Robbie xoay tay cầm mạnh hết sức có thể và cảm thấy nó nhúc nhích. Đây chính là khoảnh khắc cái kẹo cao su phải lăn ra ngoài. Đây chính là lúc cái kẹo đáng ra phải rơi từ trong lòng kim loại của cỗ máy xuống bàn tay cậu nhóc đang nóng lòng chờ nó xuất hiện. Đây là khoảnh khắc khi mọi thứ được trông đợi phải diễn ra. Nhưng chúng đã không xảy ra. Và ngay khi Robbie kết thúc việc xoay tay cầm, anh ta xuất hiện ở đây.

“Đây” là một nơi khác, nhưng cũng là một nơi quen thuộc. Đó là nơi từ trong giấc mơ của anh ta. Toàn màu trắng, không tường, không sàn, không trần, không ánh mặt trời. Chỉ có màu trắng và một cái máy bán kẹo cao su. Một cái máy bán kẹo cao su và một thằng nhóc tóc đỏ xấu xí nhễ nhại mồ hôi. Vì lý do nào đó, Robbie đã không để ý thấy cậu ta trước đó, và đúng lúc Robbie định mỉm cười với nó hay nói gì đó, thằng nhóc tóc đỏ đá vào ống chân anh ta mạnh hết sức bình sinh, và Robbie khuỵu xuống đất, oằn người lại vì đau. Khi Robbie quỵ xuống trên hai đầu gối, anh ta và thằng nhóc giờ đây cao bằng nhau. Thằng nhóc nhìn thẳng vào mắt Robbie, và dù biết họ chưa bao giờ gặp nhau, Robbie vẫn cảm thấy có gì đó quen thuộc ở cậu ta. “Mày là ai?” anh ta hỏi nó. “Tôi à?” thằng nhóc đáp, chưng ra một nụ cười đểu giả với một cái răng cửa bị khuyết. “Tôi là lời nói dối đầu tiên của ông.”

Robbie loạng choạng đứng lên. Chân anh ta đau như dần. Thằng nhóc đã biến mất từ lâu. Robbie xem xét cái máy bán kẹo cao su. Giữa những chiếc kẹo cao su tròn có những viên bi nhựa nửa trong suốt, bên trong đựng những món nữ trang rẻ tiền. Anh ta lục lọi khắp các túi tìm ít tiền lẻ, nhưng sau đó nhớ ra thằng nhóc đã giật mất ví của anh ta trước khi chạy đi.

Robbie tập tễnh bước đi, chẳng theo hướng cụ thể nào. Vì chẳng có phương tiện nào để đi trên bề mặt trắng, ngoại trừ cái máy bán kẹo cao su, nên tất cả những gì anh ta có thể làm là cố gắng rời xa khỏi nó. Cứ sau vài bước, anh ta lại quay người nhìn về phía sau để đoan chắc cái máy đang ở xa dần.

Đến một lần, anh ta quay lại và phát hiện thấy một con chó béc giê Đức đang đứng cạnh một ông già gầy khẳng khiu, đeo một mắt giả bằng thủy tinh và không có tay. Anh ta nhận ra ngay con chó qua cách nó nửa bò nửa lết lên phía trước, hai chân trước chật vật lê nửa sau bị liệt. Đó là con chó bị xe cán trong lời nói dối của anh ta. Nó thở hổn hển vì dốc sức và phấn khích, và rất hân hoan khi nhìn thấy Robbie. Con chó liếm tay Robbie và chăm chú nhìn anh ta với đôi mắt ươn ướt long lanh. Robbie không thể đoán ra nổi ông già gầy gò là ai.

“Tôi là Robbie,” anh ta nói.

“Tôi là Igor,” ông già tự giới thiệu, rồi vỗ vai Robbie bằng cái móc câu đeo trên tay.

“Chúng ta có quen nhau không nhỉ?” Robbie hỏi sau vài giây im lặng gượng gạo.

“Không,” Igor vừa nói vừa dùng một cái móc câu nhấc dây dắt chó lên. “Tôi có mặt ở đây chỉ vì nó. Nó đánh hơi thấy cậu từ cách xa hàng dặm và cuống lên. Nó muốn chúng tôi tới đây.”

“Vậy là không có mối liên hệ nào – giữa chúng ta phải không?” Robbie hỏi, cảm thấy nhẹ nhõm khi nói ra những lời này.

“Cậu và tôi ư? Không, chẳng có mối liên hệ nào hết. Tôi là lời nói dối của một người khác.”

Robbie thiếu chút nữa đã hỏi xem ông lão là lời nói dối của ai, song anh ta sợ câu hỏi có thể bị coi là thô lỗ tại nơi này. Về vấn đề nơi chốn, anh ta những muốn hỏi xem chính xác thì chỗ này là cái gì và liệu ở đó còn có nhiều người, hay nhiều lời nói dối, hay bất cứ cái gì bọn họ tự gọi mình, ngoài ông lão ra hay không. Nhưng anh ta nghĩ đây có thể là một chủ đề nhạy cảm và chưa nên nhắc đến nó vội. Thế là thay vì nói chuyện, anh ta vỗ về con chó tật nguyền của Igor. Đó là một con chó ngoan, và nó có vẻ hạnh phúc được gặp Robbie, lúc này đang thầm ước lời nói dối của mình chứa đựng ít đau đớn và khổ sở hơn.

“Cái máy bán kẹo cao su đó,” anh ta hỏi Igor sau vài phút trôi qua. “Nó nhận loại tiền xu nào nhỉ?”

“Lira,” ông già nói.

Robbie nói, “Vừa mới rồi ở đằng đó có một thằng nhóc. Nó lấy mất ví của tôi rồi. Nhưng dù nó không lấy thì trong đó cũng chẳng có đồng lira nào.”

“Thằng nhóc khuyết một cái răng phải không?” Igor hỏi. “Thằng ranh cặn bã đó, ai nó cũng ăn cắp. Nó thậm chí còn ăn cả đồ khô dành cho chó nữa. Ở chỗ tôi, ở Nga ấy, người ta sẽ túm gọn một thằng nhóc như nó rồi ném ra ngoài trời tuyết với độc đồ lót trên người, tới khi người nó tím ngắt, họ mới cho nó vào lại trong nhà.” Bằng một cái móc của mình, ông lão chỉ vào túi quần sau. “Ở đây tôi có vài đồng lira. Tự lấy đi. Coi như tôi trả.”

Robbie do dự, nhưng vẫn lấy một đồng lira từ trong túi quần ông lão ra, và sau khi cảm ơn ông già, anh ta đề nghị tặng ông cái đồng hồ đeo tay Swatch của mình để đổi lại.

“Cảm ơn,” ông lão gật đầu. “Nhưng tôi sẽ làm gì với một cái đồng hồ nhựa đây? Hơn nữa, tôi chẳng phải vội đi đâu cả.”

Khi thấy Robbie loay hoay tìm thứ gì khác để đưa cho mình, ông lão chặn anh ta lại và nói. “Dù sao tôi cũng nợ cậu. Nếu cậu không bịa ra chuyện nói dối về con chó, giờ tôi đã phải cô đơn lắm lắm. Thế nên giờ chúng ta hòa.”

Robbie tập tễnh quay lại nhanh nhất có thể về phía cái máy bán kẹo cao su. Anh ta vẫn còn đau điếng vì cú đá của thằng nhóc tóc đỏ, nhưng giờ đã đỡ hơn. Anh ta nhét đồng lira vào khe, hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại và xoay tay cầm.

Anh ta nhận ra mình đang nằm dài trên mặt đất trong khu vườn của tòa chung cư cũ nơi gia đình mình từng sống. Ánh sáng lúc rạng đông đang làm bầu trời chuyển sang những sắc thái khác nhau của màu xanh thẫm. Robbie rút tay ra khỏi cái hốc dưới đất. Và khi anh ta xòe bàn tay ra, bên trong là một cái kẹo cao su màu đỏ.

Trước khi rời đi, anh ta đặt tảng đá về đúng chỗ cũ. Anh ta chẳng hề tự hỏi mình về cái hốc và chính xác chuyện gì đã xảy ra dưới đó. Anh ta chỉ vào trong xe, lùi lại và lái đi. Cái kẹo cao su màu đỏ anh ta cho xuống dưới gối để dành cho mẹ mình trong trường hợp bà trở lại trong giấc mơ.

Thoạt đầu, Robbie nghĩ ngợi khá nhiều về chuyện đó, về nơi đó, về con chó, về ông lão Igor, về những lời nói dối khác anh ta đã nói ra nhưng may mắn không phải gặp lại. Còn có một lời nói dối kỳ cục anh ta đã nói với cô bạn gái cũ Ruthie khi không thể tới dùng bữa vào tối thứ Sáu tại nhà bố mẹ cô này – về cô cháu gái sống tại Natanyah bị chồng đánh đập, cũng như chuyện tay nọ đã dọa giết cô cháu thế nào, vậy là Robbie buộc phải tới để làm mọi thứ dịu xuống. Cho tới tận hôm nay, Robbie vẫn không hiểu vì sao anh ta lại bịa ra câu chuyện ngoắt ngoéo như thế. Có thể lúc đó anh ta nghĩ câu chuyện càng phức tạp và ngoắt ngoéo thì Ruthie càng dễ tin. Một số người khi né tránh các bữa ăn tối thứ Sáu thường nói họ bị nhức đầu hay chuyện gì đại loại thế. Nhưng anh ta thì không. Thay vì thế, vì anh ta cùng những câu chuyện của chính anh ta mà một gã chồng bệnh hoạn và một bà vợ tả tơi đang ở ngoài kia, cách không xa lắm, trong một cái hốc dưới đất.

Anh ta không quay trở lại chỗ cái hốc, nhưng điều gì đó ở nơi ấy ám ảnh anh ta. Thoạt đầu, Robbie tiếp tục nói dối, nhưng là những kiểu chuyện bịa trong đó không ai đánh ai, không ai bị què chân hay chết vì ung thư. Chẳng hạn: anh ta đi làm trễ vì phải tưới cây cho bà cô trong khi bà đi thăm cậu con trai thành đạt ở Nhật Bản. Hay: anh ta đến trễ một buổi tặng quà cho một bà mẹ tương lai vì một con mèo vừa đẻ trước cửa nhà anh ta và Robbie đành phải chăm lo cho lứa mèo con. Những chuyện kiểu đó.

Nhưng bịa ra chỉ toàn những lời nói dối tích cực là chuyện khó khăn hơn nhiều. Chí ít là trong trường hợp ta muốn chúng nghe đáng tin. Nói chung, nếu ta kể cho người khác điều gì đó tồi tệ, họ sẽ không thắc mắc gì, vì với họ đấy là chuyện bình thường. Nhưng khi bạn kể ra những chuyện tốt lành, họ liền nghi ngờ. Và thế là dần dần Robbie nhận ra anh ta cạn vốn bịa. Chủ yếu là do lười nhác. Và theo thời gian, anh ta ngày càng nghĩ về nơi đó ít hơn. Về cái hốc. Cho tới buổi sáng anh ta nghe lỏm Natasha ở phòng Kế toán nói chuyện với sếp của cô nàng. Ông bác Igor của cô này mới bị một cơn đau tim và cô cần nghỉ một thời gian. Ông bác tội nghiệp – một người góa vợ, vốn đã mất cả hai cánh tay trong một tai nạn ở Nga. Và bây giờ đến lượt quả tim của ông. Ông rất cô độc, không người giúp đỡ.

Ông trưởng phòng Kế toán cho cô nhân viên nghỉ phép ngay lập tức, không hỏi câu nào. Cô này quay về phòng làm việc của mình, lấy túi và rời tòa nhà. Robbie đi theo Natasha tới tận xe cô nàng. Khi cô này dừng lại để lấy chìa khóa từ trong túi ra, anh ta cũng dừng lại. Cô gái quay lại. “Anh làm bên Thu mua đúng không?” cô ta hỏi. “Có phải anh là trợ lý của Zaguri không?”

“Phải,” Robbie gật đầu nói. “Tên tôi là Robbie.”

“Chào Robbie,” Natasha nói với một nụ cười kiểu Nga bối rối. “Có chuyện gì thế? Anh cần gì sao?”

“Về lời nói dối cô vừa kể lúc trước với ông trưởng phòng Kế toán,” Robbie lắp bắp. “Tôi biết ông già đó.”

“Anh đi theo tôi tới tận xe của tôi chỉ để buộc tội tôi là kẻ nói dối sao?”

“Không,” Robbie nói. “Tôi không buộc tội cô. Thật đấy. Chuyện cô nói dối chẳng sao cả. Tôi cũng là một kẻ nói dối. Nhưng ông bác Igor trong câu chuyện của cô, tôi đã gặp ông ấy. Không thể lẫn được. Và cô – nếu cô không phiền nếu tôi nói thế – cô đã làm cho mọi thứ trở nên thật khó khăn với ông ấy. Vì vậy tôi chỉ muốn…”

“Anh có biến ra khỏi lối đi của tôi không đây?” Natasha lạnh lùng ngắt lời anh ta. “Anh đang chắn trước cửa xe tôi.”

“Tôi biết chuyện này nghe thật khó tin, nhưng tôi có thể chứng minh được,” Robbie nói, cảm thấy ngày càng khó xử. “Ông Igor này không có một mắt. Ý tôi là ông ấy có mắt, nhưng chỉ còn một bên thôi. Vào một thời điểm nào đó chắc cô đã bịa ra điều gì đó về chuyện ông ấy bị mất một bên mắt, phải không?”

Natasha đã chui vào trong xe, nhưng bỗng dừng lại. “Anh biết chuyện đó từ đâu hả? Có phải anh là bạn của Slava không?”

“Tôi chẳng biết Slava nào hết,” Robbie lẩm bẩm. “Chỉ Igor thôi. Thật đấy. Tôi có thể đưa cô tới gặp ông ấy.”

Họ đứng trong khu vườn đằng sau khu chung cư nơi anh ta từng sống. Robbie di chuyển tảng đá sang bên, nằm phục xuống mặt đất ẩm và đút cả cánh tay xuống cái hốc. Natasha đứng bên cạnh. Anh ta chìa cánh tay còn lại ra và nói. “Bám chặt vào.”

Natasha nhìn xuống người đàn ông đang nằm dài dưới chân cô. Ngoài ba mươi, đẹp trai, mặc một chiếc áo sơ mi trắng sạch sẽ là phẳng phiu, lúc này đã trở nên ít sạch và ít phẳng phiu hơn. Một cánh tay của anh ta tụt vào dưới hốc, má dán chặt xuống đất.

“Nắm chặt lấy,” anh ta nói. Và khi cô gái đưa tay ra nắm lấy tay anh ta, cô không đừng được băn khoăn rằng sao mình luôn gặp phải những kẻ dở hơi như thế. Khi anh chàng này bắt đầu với câu chuyện tào lao đó bên cạnh chiếc xe, cô đã nghĩ đó là một cách thú vị để bắt chuyện với cô, nhưng giờ cô hiểu ra anh chàng có đôi mắt dịu dàng và nụ cười bẽn lẽn đó thực sự là một kẻ gàn dở. Các ngón tay anh ta đan vào các ngón tay cô. Hai người cứ giữ nguyên tư thế đó, đông cứng, trong chừng một phút hay hơn, anh ta nằm dài dưới đất, cô đứng bên cạnh, hơi cúi người xuống, trông có vẻ bối rối.

“Được rồi,” Natasha thì thầm với giọng nhẹ nhàng, gần như của một chuyên gia trị liệu tâm lý. “Thế là chúng ta nắm tay nhau rồi. Giờ thì sao đây?”

“Bây giờ,” Robbie nói. “Tôi sẽ xoay tay cầm.”

Họ phải mất một hồi lâu để tìm ra Igor. Thoạt đầu, họ gặp một lời nói dối gù lưng, người đầy lông lá, hiển nhiên là người Argentina, tay này chẳng nói gì ngoài tiếng Tây Ban Nha. Rồi một lời nói dối khác của Natasha – một nhân viên cảnh sát nhiệt tình quá độ đội chiếc mũ cầu nguyện của người Do Thái khăng khăng giữ họ lại và đòi kiểm tra giấy tờ, nhưng chưa bao giờ nghe nói tới Igor. Cuối cùng, người giúp họ là cô cháu bị bạo hành sống tại Natanyah của Robbie. Hai người tìm thấy cô gái đang cho lứa mèo con trong lần nói dối gần nhất của anh ta ăn. Cô gái không thấy Igor từ vài ngày nay, nhưng cô biết phải tìm con chó của ông già ở đâu. Về phần con chó, sau khi kết thúc màn liếm bàn tay và mặt Robbie, nó hân hoan dẫn họ tới bên giường Igor.

Igor đang ở trong tình trạng rất tồi tệ. Nước da ông tái xám, và ông già đang vã mồ hôi nhễ nhại. Nhưng khi nhìn thấy Natasha, khuôn mặt ông sáng lên. Ông già phấn chấn tới mức ông nhấc mình dậy và ôm lấy cô, cho dù ông gần như không thể đứng nổi. Đến lúc đó, Natasha bắt đầu khóc và cầu xin ông tha thứ, vì giờ đây ông già Igor này không chỉ còn là một lời nói dối của cô mà còn là bác cô. Một ông bác hư cấu, nhưng dù sao vẫn là bác. Và Igor nói với cô rằng cô không nên áy náy làm gì, cuộc sống cô đã bịa ra cho ông tuy không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng ông trân trọng từng phút giây của nó, và Natasha không có gì phải lo lắng, vì so với vụ tai nạn tàu hỏa ở Minsk, vụ cướp ở Odessa, tia sét đã đánh trúng ông ở Vladivostock và bầy sói mắc bệnh dại ở Siberia, cơn đau tim này chẳng là gì hết. Và khi hai người quay lại chỗ chiếc máy bán kẹo cao su, Robbie nhét vào máy một đồng lira, cầm lấy tay Natasha và yêu cầu cô xoay tay cầm.

Sau khi hai người đã quay trở lại khu vườn, Natasha nhận ra cô đang cầm trên tay một viên bi nhựa với một món đồ trang sức bên trong: một lá bùa may mắn xấu xí màu vàng có hình trái tim.

“Anh biết không,” cô nói, “tôi định sẽ tới Sinai tối nay với một người bạn, ở đó vài ngày, nhưng tôi nghĩ tôi sẽ không đi nữa, và quay lại đây vào ngày mai để chăm lo cho Igor. Anh có muốn tới cùng không?”

Robbie gật đầu. Anh ta biết nếu muốn đi cùng cô gái, anh ta sẽ phải nghĩ ra một lời nói dối nữa tại văn phòng. Anh ta chưa dám chắc nó sẽ là về cái gì. Nhưng anh ta biết đó sẽ là một lời nói dối hạnh phúc, đầy ánh sáng, hoa và nắng. Ai mà biết được, có khi lại cả một, hai đứa bé nữa cũng nên, và chúng đang mỉm cười.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *