Đoạt Lửa

Doat lua - J. H. Rosny Anh1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả :  J. H. Rosny Anh

Download sách Đoạt Lửa ebook PDF/PRC/EPUB/MOBI. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : SÁCH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

2. DOWNLOAD

Download ebook                      

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.


Bạn không tải được sách ? Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Lời giới thiệu

Đoạt lửa là tác phẩm nổi tiếng của J.H. Rosny Anh, in lần thứ nhất ở Brussels (Bỉ) năm 1911 với tên là LA GUERRE DU FEU (Cuộc chiến đấu vì Lửa).

J.H Rosny là tên kí chung của hai anh em Honoré và Justin Boex, nhà văn Pháp, J.H Rosny Anh (1856-1940) viện sĩ Viện Hàn lâm Goncouri (Pháp), chuyên viết tiểu thuyết viễn tưởng về thời xa xưa, như “Đoạt lửa”, “Con mãnh thú khổng lồ”, v.v…

Trang đầu tác phẩm Đoạt Lửa, tác giả đã đề tặng bạn:

“Gửi Théodore Duret.

Cuộc du hành này trong thời kì tiền sử rất xa xưa, mà con người con chưa vạch bất cứ một hình thù gì trên đá và trên chất sừng, có thể cách đây một trăm ngàn năm”.

Vậy đó, câu chuyện này đã xảy ra khoảng mười vạn năm trước. Ở cái thời kì mông muội xa xưa ấy, con người đương từng bước từ “người vượn” chuyển đi lên, ăn lông ở lỗ, sống thành bầy, những bầy người nguyên thủy chỉ mới săn bắt và hái lượm. Trong thế giới hoang sơ dưới sự ngự trị của các lực lượng tự nhiên và của muông thú đông đảo, con người cũng chỉ là một giống thú – mà chưa phải là mạnh – nhưng lại là giống thú đứng thẳng, tư thế khác mọi giống kia làm bọn chúng phải e dè và cuộc sống của họ đã thực sự là cuộc sống của loài người từ khi có Lửa. Lửa nâng cao đời sống và cũng nâng cao “bản chất người” ở con người. Mất Lửa, con người phải lâm vào cuộc sống con vật và trở lại là con vật như những muông thú khác. Những bầy người thù địch thường tìm cách tiêu diệt Lửa để dìm đối phương vào trong bóng tối hãi hùng.

Một tác giả lớn, chuyên viết về tình báo công nghiệp đã nhận xét “Đoạt Lửa” là câu chuyện về chiến công tình báo công nghiệp đầu tiên của loài người. Một giáo sư địa chất nổi tiếng, qua truyện viễn tưởng khoa học của ông đã tâm đắc ca ngợi trí tưởng tượng của tác giả “Đoạt Lửa” đã làm sống lại cảnh vật thời nguyên thủy thật là tuyệt vời. Đọc tác phẩm “Đoạt Lửa”, các bạn hãy chú ý đến những ý kiến đánh giá ấy để có thể cùng tác giả sống với nhân vật bằng tưởng tượng – mà cùng đỡ ngỡ ngàng – trong một dĩ vãng xa xưa, một dĩ vãng không còn dấu vết và không bao giờ trở lại, nhưng là một bước đường đi lên của loài người. Văn hào Maxime Gorki đặt “Đoạt Lửa” vào danh sách – không dài – những tác phẩm cần phải cho trẻ em đọc để nâng cao hiểu biết về sự tiến hóa của nhân loại. Đó là một sự đánh giá sâu sắc, mà cũng là một “mệnh lệnh” đã thôi thúc người dịch và nhà xuất bản cố gắng hết sức mình để có thể giới thiệu “Đoạt Lửa” với các bạn. Nếu còn có gì các bạn chưa được vừa ý thì đó chỉ là do khả năng có hạn của người dịch. Mong được bạn góp ý nhận xét.

ĐỌC THỬ

Chương I – Lửa chết

Những người Oulhamr chạy trốn trong đêm dài khủng khiếp. Điên loạn vì đau đớn và mệt nhọc, đối với họ tất cả đều tưởng như vô vọng trước tai họa tột cùng: Lửa của họ đã chết mất rồi. Họ nuôi nó trong ba cái chuồng, từ khi bắt đầu có bầy, bốn người đàn bà và hai chiến sĩ bón cho nó ăn ngày đêm.

Trong những ngày đen tối nhất, nó vẫn được nhận các thứ nuôi sống nó, được che chở chống mưa, bão, lụt, nó đã vượt những dòng sông và những đầm lầy, không lúc nào mà không sáng xanh vào buổi sáng và nhuộm sắc huyết hồng về chiều. Diện mạo oai hùng của nó đuổi xa sư tử đen và sư tử vàng, gấu-hang-động và gấu xám, voi ma mút[1], cọp và beo; những chiếc răng đỏ của nó che chở cho con người trước thế gian mênh mông. Tất cả mọi niềm vui đều ở ngay bên cạnh nó. Nó nướng thịt săn cho có mùi thơm ngon lành, nó nung cứng mũi lao, phá nổ tung đá cứng, nhờ nó mà trong chân tay người rần rật một niềm khoan khoái tràn trề sức mạnh. Nó làm cho cả bầy người vững lòng giữa những đám rừng run rẩy, trên đồng cỏ vô tận, trong tận cùng những hang sâu. Đó là người Cha, người Bảo vệ, người Cứu giúp mặc dầu là hung hãn hơn, khủng khiếp hơn cả những con ma mút, mỗi khi nó xổng ra khỏi chuồng và ăn sống nuốt tươi mọi cây cối.

Nó chết mất rồi! Kẻ thù đã phá tan tành mất hai chuồng; còn ở chiếc chuồng thứ ba, trong khi chạy trốn, người ta thấy nó leo lét, mờ đi và lụi dần. Quá yếu sức, nó không còn cắn được vào những túm cỏ khô ở đầm lầy, nó giần giật như một con vật bị ốm. Cuối cùng chỉ còn là một con bọ đo đỏ, thoảng hơi gió là bị cào xé. Nó tắt ngóm…”. Và những người Oulhamr chạy trốn trơ trụi trong đêm tối mùa thu. Trời không sao. Dường như bầu trời nặng trĩu chạm ngay vào mặt nước nặng trịch, cây cỏ chìa ra những dây dợ lạnh lẽo, nghe tiếng những con bò sát quẫy nước; đàn ông, đàn bà, trẻ con chìm mất tăm lúc nào không biết. Hướng theo tiếng người dẫn đường, những người Oulhamr hú họa lần theo một dải đất cao hơn và cứng hơn, khi lội, khi bước trên những mô đất. Ba đời đã am tường con đường này, nhưng vẫn phải nhờ vào ánh trăng sao. Vào khoảng tinh mơ, họ tới gần đồng cỏ.

Một vầng sáng lành lạnh lọc qua những đám mây trắng và xám màu chì. Gió xoáy trên mặt nước lầy nhầy như nhựa nhão, rêu rong bồng lên thành từng nốt mụn, những con bò sát lờ đờ cuộn khúc trong đám cây súng và từ cô. Một con sếu bốc lên một thân cây khô mộc và đồng cỏ hiện ra với những cây thân thảo run rẩy, trong một đám mù hung hung, tít tắp tới cùng trời. Bầy người vụt đứng thẳng lên; lách qua đám sậy, họ bước lên cỏ, trên đất cứng.

Thế là, cơn mê hoảng về cái chết vừa dứt, nhiều người trở thành những con vật bất động: họ nằm dài trên mặt đất, họ thiếp đi trong giấc nghỉ. Đàn bà tỏ ra dẻo dai hơn cánh đàn ông; những bà mẹ bị rơi mất con trong đầm lầy bây giờ rú lên như chó sói cái; tất cả đều xót xa mà âm thầm, linh cảm sự lụn bại của nòi giống và những ngày mai nặng nề; một vài người đã bảo vệ được con, bế chúng giơ lên cao hướng về những đám mây.

Faouhm, trong vầng sáng mới, điểm lại bầy, bằng những ngón tay và những cành lá. Mỗi cành lá coi bằng số ngón cả hai bàn tay. Ông ta lúng ta lúng túng, tuy nhiên, ông cũng thấy còn lại bốn cành chiến binh, hơn sáu cành đàn bà, độ chừng ba cành trẻ con, vài cụ già.

Và cụ già Goun, người tính đếm giỏi nhất cánh đàn ông, nói rằng không còn nổi một đàn ông trong năm người, một đàn bà trong ba người và một đứa bé trong một cành[2]. Thế là tất cả những ai còn tỉnh táo đều cảm thấy tầm to lớn của tai họa. Họ hiểu rằng dòng giống họ bị đe dọa ngay tận gốc và những lực lượng của thế gian càng trở nên khủng khiếp, họ sắp phải đi mò mẫm, còm cõi và trơ trụi trên mặt đất.

Mặc dù dũng lực ít ai bì, Faouhm mất hết hi vọng. Ông không còn tin được vào vóc dạc cũng như vào đôi cánh tay vạm vỡ của mình; trên gương mặt to rộng dày đặc những lông cứng, cặp mắt vàng như mắt beo, để lộ vẻ mệt mỏi suy sụp, ông ngắm nghía những vết thương do ngọn giáo và mũi lao kẻ thù đã gây ra cho mình. Thỉnh thoảng ông lại mút dòng máu còn ri rỉ chảy trên cánh tay.

Cũng như tất cả những kẻ chiến bại, ông hồi tưởng lại cái lúc tưởng chừng mình sắp thắng: những người Oulhamr ào ạt xông vào cuộc chiến đấu, bản thân ông ta, Faouhm hạ được bao nhiêu là địch thủ dưới ngọn chùy nặng của mình. Họ sắp đuổi được kẻ thù khỏi vùng đất của mình để lại săn bắt đường hoàng trên những cánh đồng cỏ non và trong những cánh rừng dồi dào mồi thịt. Đã có một luồng gió thế nào thổi qua? Bởi sao mà các chiến sĩ Oulhamr bỗng nhiên lại quay cuồng trong cơn khủng khiếp, ngực ho ran lên tiếng rú hấp hối, trong khi đó thì kẻ thù tràn vào khu vực đóng quân dập tắt những ngọn Lửa thiêng liêng! Tâm trí Faouhm, đặc sệt và chậm chạp, tự hỏi như thế đấy! Nó bám riết vào hồi ức ấy, như con sài cừu bám ghì vào cái khung xương đã trơ hết thịt. Nó không muốn bị thất thế, nó không cảm nhận thấy sự thiếu kém khí lực, dũng cảm và tàn bạo.

Ánh nắng bừng lên trong đà sung sức. Nó trải dài trên bãi lầy, sục sâu xuống bùn và hong khô đồng cỏ. Niềm vui buổi sáng là ở nó, chất thịt tươi của cây cỏ. Nước có vẻ nhẹ đi hơn, bớt thâm hiểm và đỡ đục vẩn. Nước rung rinh những mặt gương ánh bạc chen giữa những hòn đảo màu xanh gỉ đồng, nó đẩy dồn những gợn thạch bích và hạt xoàn, nó dàn ra những đám lưu huỳnh nhợt nhạt, những mảng vẩy vân mâu và mùi nước có dịu bớt qua những rặng liễu và những cây trăn. Tùy theo cái trò giỡn lúc thế này khi thế khác, mà thấy hoặc những đám rong rêu bồng lên, bông huệ nước hoặc hoa súng vàng lấp lánh, hoặc nổi bật lên những thủy lan, những xương rồng đầm lầy, những trân châu thái, những từ cô, hoặc trải ra những vũng um tùm loài cây phụ tử, uốn éo những vòng lượn quanh co dày đặc cỏ cảnh thiên lông lá, sa thảo, liễu thảo màu hồng, thủy cần đắng, nhô lên những cánh rừng lau sậy cùng những bãi liễu dẻo lúc nhúc những chim cuốc, mỏ nhác đen, le le, óc cau, te te lông óng ánh ngọc bích, con gà sếu nặng nề và con gà nước có ngón chân dài. Bầy sếu rình mồi bên những vũng nước đục ngầu; bọn giang sà xuống dập cánh trên một mỏm đất cứng; con cá ngạnh xông vào đám cá mè và những con chuồn chuồn cuối cùng bay vút thành những tia lửa xanh lục, những đường chữ chi xanh biếc.

Faouhm đăm đắm nhìn bầy người của mình, tai họa hiện thân rõ lên ở ngay họ trông như một ổ bò sát: vàng ệch những bùn, đỏ ửng máu me, xanh lục những rong rêu, nó xông lên cái mùi của cơn sốt và của thịt thối. Có những người co cuốn lại như những con trăn gió, một số khác lại duỗi ra như lũ cá sấu và một vài người rên thở khò khè, chết đến nơi rồi. Những vết thương xám đen lại ở bụng, đã thấy kinh tởm, và ở đầu lại càng kinh tởm hơn, nhìn như hoác rộng ra do mảng tóc dẫm bết máu. Hầu hết rồi sẽ qua khỏi; những người bị thương quá nặng đã ngã xuống ở bờ bên kia hoặc chết trong đầm lầy.

Faouhm rời mắt khỏi những người đương nằm ngủ và chăm chú tới những người đương xúc động, quá cay đắng vì chiến bại hơn vì mệt mỏi. Nhiều người biểu hiện rõ vóc dạng khỏe đẹp của giống Oulhamr. Đó là những bộ mặt nặng chắc, trán thấp, hàm bạnh, da bánh mật không ngả sang màu đen, hầu hết trên mình và chân tay đều rậm lông. Cảm giác nhạy của họ là ở thính giác có thể thi đua với các thú vật. Họ có đôi mắt to, thường là dữ dằn, thỉnh thoảng ngơ ngác, vẻ đẹp thường nổi bật ở trẻ con và một vài cô gái thanh xuân.

Faouhm giơ cao hai cánh tay về phía mặt trời, hú một tràng dài và nói to:

– Không có Lửa, người Oulhamr làm được gì? Chúng ta sống làm sao được trên đồng cỏ và trong rừng, có gì che chở chúng ta chống lại bóng tối và gió bấc mùa đông! Ta sẽ phải ăn thịt sống và những thân thảo đắng ngắt, không có gì để sưởi ấm chân tay nữa, mũi cây giáo dành cứ mềm nhũn. Sư tử, gấu, cọp, con sài cừu lớn sẽ ăn thịt ta trong đêm tối. Người nào tìm được Lửa? Người đó sẽ là anh em của Faouhm, người đó sẽ được nhận ba suất thịt săn, bốn suất của cải, người đó sẽ được nhận cô gái Gammla, con gái chị tôi, và nếu tôi chết, sẽ nhận cái gậy chỉ huy.

Thế là Naoh, con trai Báo đốm, đứng lên và nói:

– Hãy giao cho tôi hai chiến sĩ chạy giỏi và tôi sẽ đi lấy Lửa ở những Người con của ma mút hoặc ở những kẻ Ăn thịt người, vẫn săn bắt hai bên bờ Sông Đôi.

Faouhm không nhìn anh ta bằng con mắt thiện cảm. Naoh vốn là người to con nhất trong những người Oulhamr, kể về vóc dạc. Đôi vai còn có sức nở rộng. Không có một chiến sĩ nào lanh lẹ bằng, chạy dai sức bằng. Anh ta vật ngã Mouh, con trai Trâu rừng, vốn sức vóc không thua gì Faouhm. Và Faouhm phải e ngại Naoh. Ông bắt anh ta làm những việc khó khăn dễ nản, sai anh ta đi xa bầy, đưa anh ta đến trước cái chết.

Naoh không ưa gì người chỉ huy, nhưng anh ta bốc lên khi thấy Gammla, duỗi dài, uyển chuyển và bí ẩn, mớ tóc như một đám lá cây xanh mượt. Naoh đã có lần đón rình cô gái trong những rặng liễu dẻo, sau những thân cây hoặc bên những bờ đất, người nóng ran và bàn tay run run, tùy lúc, anh bồn chồn hoặc là âu yếm hoặc là tức giận. Đôi lúc, anh dang rộng đôi tay như thể ôm lấy cô ta, chậm chạp và dịu dàng, đôi lúc, anh nảy ý muốn xông tới cô ta cũng như là đối với những cô gái trong những bầy người thù địch, quật ngã xoài xuống đất bằng một đường chùy. Tuy vậy, không lúc nào anh nghĩ đến làm khổ cô ta, nếu anh được cô ta làm vợ, nhất định anh sẽ không đối xử cục cằn, không muốn thấy hiện lên ở khuôn mặt cô cái vẻ sợ hãi làm cho hai bên trở nên xa lạ.

Phải như lúc khác thì Faouhm cũng chẳng đón nhận mặn mà gì những lời của Naoh. Nhưng lúc này thì ông ta đang bị đè dí xuống cái tai họa lớn. Biết đâu sự hợp tác với con trai Báo Đốm lại chẳng tốt lành! Bằng không thì ông cũng có cách để đưa anh ta vào chỗ chết. Và ông quay về phía chàng trai:

– Faouhm chỉ có một lời thôi! Nếu Naoh đưa được Lửa về cho bầy thì anh ta sẽ được nhận Gammla, không phải nộp một chút gì bù chuộc. Anh ta sẽ là con trai của Faouhm.

Ông giơ cao tay, nói thong thả, giọng cục cằn và khinh khỉnh.

Thế rồi, ông ra hiệu cho Gammla.

Cô gái bước tới, run run, ngước đôi mắt long lanh chứa chan ánh lửa ẩm thấp ở những dòng sông. Cô biết quá rõ Naoh từng rình cô giữa đám cỏ cây và trong bóng tối. Mỗi khi anh ta hiện ra từ sau một bụi cỏ, như là anh ta sắp xông tới vồ lấy mình thì cô cũng gờm anh ta, cũng có những lúc hình ảnh chàng trai ấy đối với cô lại chẳng chút gì là khó chịu, cùng một lúc, cô cầu mong anh ta bỏ mạng dưới tay quân Ăn thịt người cũng như anh ta đem được Lửa về.

Bàn tay thô kệch của Faouhm vỗ mạnh lên vai cô cháu gái, ông ta thét lên với tất cả lòng tự kiêu man rợ của mình:

– Hãy xem đây, trong đám những cô gái của con người, liệu có ai được đúc nặn tốt đẹp hơn? Nó có thể mang cả một con nai cái trên vai, đi bộ không hề chùn bước từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn, nhịn đói nhịn khát, vò mềm da các loại thú, bơi một mạch qua hồ, nó sẽ nở ra những đứa con vô địch. Nếu Naoh đem được Lửa về, anh ta sẽ đến nhận lấy nó mà không phải nộp lại những cây rìu, những cái sừng, những vỏ ốc hoặc những tấm da thú!

Đột nhiên, Aghoo con trai Bò Oroc[3], con người rậm lông nhất trong bầy Oulhamr, bước ra đầy vẻ thèm muốn:

– Aghoo muốn đi tìm Lửa về. Anh ta đi với các em của anh ta rình đón kẻ địch ở bên kia sông. Và anh ta sẽ chết dưới lưỡi rìu, đầu mũi giáo, dưới răng con hổ, dưới móng vuốt con sư tử khổng lồ, hoặc anh ta sẽ đem Lửa trở về cho bầy Oulhamr, không có Lửa, bầy Oulhamr yếu hèn như những con hươu hoặc những con dê núi.

Trên khuôn mặt của hắn, chỉ thấy mỗi cái lỗ miệng với dẻo thịt sống bao quanh và những con mắt khát máu. Vóc dạc bè bè làm tăng thêm quá cỡ chiều dài cánh tay và chiều rộng đôi vai, tất cả tấm thân hình ấy tỏa ra một sức mạnh cục súc bền bỉ và tàn nhẫn. Cũng chưa ai hiểu được sức mạnh của hắn đến mức nào. Hắn chưa hề thử sức với Faouhm hoặc với Mouh, hoặc với Naoh. Chỉ biết là nó ghê gớm lắm. Hắn không hề đem ra thi thố trong bất cứ một keo giao đấu thân thiện nào. Tất cả những ai chắn ngang đường hắn đi đều bị đánh gục, hoặc hắn chỉ tạm bẻ gãy một chi, hoặc hắn tiêu diệt và xếp những cái sọ xấu số ấy vào đống thắng lợi phẩm của hắn. Hắn sống cách biệt những người Oulhamr khác, cùng với hai đứa em trai, cũng rậm lông không kém, và vô khối đàn bà bị đày vào một cảnh tôi đòi khủng khiếp. Mặc dầu người Oulhamr có thiên tính là khắc nghiệt đối với mình và tàn bạo đối với kẻ thù, họ vẫn e dè sự quá mức của những đức tính đó ở mấy đứa con trai Bò Oroc. Vậy là có một sự bất đồng ý ngầm nổi lên, sự liên kết đầu tiên của quần chúng chống lại một sự thiếu yên ổn quá đáng.

Một nhóm xúm lại quanh Naoh, con người vẫn bị một số đông chê bai là ít bạo ngược trong lúc trả thù. Nhưng cái điều dở đó, ở một chiến sĩ hùng mạnh, thì lại được những người không có cơ bắp chắc nịch và chân tay nhanh nhẹn ưa thích.

Faouhm cũng ghét Aghoo không kém ghét con trai Báo đốm, ông ta còn gờm hắn hơn nữa. Sức mạnh cục súc và thâm hiểm của mấy anh em đó dường như bất khả xâm phạm. Nếu một trong ba người muốn một kẻ nào chết thì cả ba anh em đều cùng một lòng. Ai đã thách thức họ thì chỉ có chịu cho họ tiêu diệt hoặc phải tiêu diệt họ đi thôi.

Người chỉ huy bầy đã cố kiếm cho được sự hợp tác của họ, họ thì cứ lẩn tránh, núp kín trong sự ngờ vực, không chịu tin vào lời nói hoặc việc làm của mọi người, nổi khùng lên khi được đối xử tốt và không biết một cách vuốt ve nào ngoài sự khủng bố. Faouhm, đa nghi và tàn nhẫn không kém, dẫu sao cũng có những đức tính của người chỉ huy. Đó là sự độ lượng đối với những người cộng sự, sự cần thiết phải biết khen ngợi, một vài quan hệ gần gũi, hiếm hoi, đặc cách, kiên trì.

Ông trả lời thô lỗ:

– Nếu con trai Oroc đem được Lửa trở về cho bầy Oulhamr, anh ta sẽ được nhận Gammla không phải bù chuộc chút gì, sẽ là người đứng thứ nhì trong bầy các chiến sĩ phải tuân theo khi vắng người chỉ huy.

Aghoo lắng nghe một cách thô bạo, quay cái mặt rậm lông về phía Gammla, hắn thèm thuồng nhìn cô gái, đôi mắt tròn của hắn cứng lại, hằn học:

– Người con gái của Đầm lầy sẽ về tay con trai Oroc bất cứ kẻ đàn ông nào khác đụng tới cô ta sẽ toi mạng.

Lời tuyên bố làm cho Naoh nổi giận. Anh chàng hăng máu nhận cuộc chiến, anh dõng dạc hô lớn:

– Cô gái sẽ thuộc về người nào đưa được Lửa trở về!

– Aghoo sẽ đưa được Lửa trở về!

Hai bên gườm nhau. Cho tới hôm nay, giữa hai người chưa hề xảy ra một lí do gì để chọi nhau. Hiểu rõ sức nhau, không cùng chung một sở thích mà cũng không có sự tranh giành thiển cận, họ chẳng bao giờ chạm trán nhau, chẳng bao giờ cùng đi săn với nhau. Lời tuyên bố của Faouhm đã nhen nhóm sự thù hằn.

Mới ngày hôm qua thôi, Aghoo không nhìn Gammla khi cô gái lướt qua trên đồng cỏ, nhưng bây giờ nghe Faouhm ca ngợi cô ta thì hắn vụt thấy rung động tới từng thớ thịt. Từ tấm bé đã quen nết đuổi theo những dục vọng bất ngờ, hắn bỗng thèm muốn cô gái cũng khát khao dường như đã thèm muốn từ nhiều mùa qua. Từ đó, hắn kết tội tất cả mọi đối thủ, hắn cũng không có cả bất cứ ý định nào để cân nhắc, ý định của hắn đã nằm ngay trong những thớ thịt của hắn.

Naoh hiểu rõ điều đó. Anh nắm chắc cây rìu trong tay trái và ngọn giáo bên tay phải. Tiếp theo lời thách thức của Aghoo bọn em hắn hiện ra lặng lẽ, có phần man rợ hơn, với những chòm lông màu đỏ, đôi mắt chấp chới như cánh cứng con bọ cam. Thân hình mềm dẻo cũng đáng sợ ngang với sức mạnh của chúng.

Cả ba anh em, sẵn sàng giết chóc, dõi theo Naoh. Nhưng một tiếng ồn ào bỗng nổi lên trong đám chiến binh. Ngay cả những người đã chê bai Naoh cái tính yếu mềm trong căm thù, cũng không muốn thấy anh chết sau khi biết bao chiến binh Oulhamr đã bỏ mạng và khi anh đã hứa sẽ đem Lửa trở về cho bầy. Mọi người biết rõ anh lắm mưu nhiều mẹo, dẻo dai không hề mệt mỏi, khéo léo trong nghệ thuật giữ gìn ngọn Lửa hắt hiu nhất và làm cho nó cháy bùng lên từ đám tro tàn, nhiều người đặt niềm tin vào vận may mắn của anh.

Thực ra, Aghoo cũng có đủ kiên nhẫn và tinh khôn để thực hiện có hiệu quả mọi công việc và bầy Oulhamr cũng hiểu rõ ích lợi của một việc làm song song. Họ đứng dậy ồ ạt, những người cùng phe với Naoh hò hét càng hăng hơn, đứng thành hàng chiến đấu.

Dù chẳng biết sợ hãi, con trai Oroc vẫn không coi thường sự khôn ngoan. Hắn tạm dẹp cuộc tranh chấp để lại lúc khác. Ông cụ Goun gầy-khô-xương tập hợp ý kiến ồn ào của đám đông:

– Những người Oulhamr muốn bị tiêu diệt hay sao? Họ đã quên rằng kẻ thù và đầm nước đã giết hại bao nhiêu chiến sĩ rồi ư? Trong bốn người, chỉ còn sót được một! Tất cả những ai có sức mang nổi cây rìu, cây lao và cây chùy đều phải sống. Naoh và Aghoo đều là những kẻ mạnh trong số những người săn bắt trong rừng và trên đồng cỏ, nếu một trong hai chiến sĩ đó chết, bầy Oulhamr sẽ yếu bằng mất đi bốn người khác… Con gái Đầm lầy sẽ hầu hạ người nào đem được Lửa về cho chúng ta, bầy ta đã quyết định như thế!

– Đúng, đúng, phải như thế! – Những tiếng nói cứng cỏi nổi lên ủng hộ.

Và phái đàn bà, đáng sợ nể do số lượng đông, do sức lực hầu như chưa suy suyển, do sự nhất trí về tình cảm, dõng dạc tuyên bố:

– Gammla sẽ thuộc về người chiến thắng, đưa được Lửa về!

Aghoo so đôi vai lông lá. Hắn căm ghét tột độ đám đông nhưng cũng nhận thấy chống lại là không có lợi. Tin chắc sẽ vượt Naoh, hắn tự giành quyền cho mình, tùy theo trường hợp đôi bên chạm trán, sẽ đấu sức và sẽ thủ tiêu đối thủ luôn. Và ngực hắn phồng căng đầy tự tin.

Chương II – Voi ma mút và bò Oroc

Tinh mơ sáng hôm sau. Gió trên cao thổi trong mây, còn ở sát mặt đất và đầm lầy thì không khí đè xuống oi ong, thơm thơm và nóng. Bầu trời rung rinh như mặt hồ nước, lay động những đám rong rêu, những túm sen trắng, những bụi sậy xanh nhợt. Bình minh cũng cuồn cuộn tung bọt sóng muôn màu. Nó lan rộng ra, tràn thành những vũng vàng lưu huỳnh, những vịnh biếc ngọc bích, những dòng sông hồng xà cừ.

Những người Oulhamr, quay cả về đám lửa mênh mông ấy, cảm thấy từ đáy sâu tâm hồn dâng lên một cái gì như là một sự sùng bái và cái đó cũng đầy căng lên những chiếc kèn tí xíu của lũ chim trong đám cỏ trên đồng và trong những rừng liễu bên đầm lầy. Nhưng có những người bị thương rên rỉ vì khát, một chiến sĩ đã chết, duỗi dài chân tay xanh ngắt, một con thú ăn đêm đã gặm hết cái mặt anh ta.

Ông già Goun lẩm nhẩm những lời than vãn mơ hồ và Faouhm cho thả cái xác chết xuống nước.

Sau đó, tất cả sự chú ý của bầy người tập trung vào Aghoo và Naoh, những người sẽ đi lấy Lửa đang sắp sửa lên đường. Nhóm Rậm lông mang chùy, giáo và lao có mũi nhọn bằng đá lửa hoặc ngọc thạch. Naoh tin tưởng vào mưu mẹo hơn là vào sức mạnh, không chọn những chiến sĩ vạm vỡ mà lại là hai chàng trai trẻ lanh lẹ và đủ sức giữ vững một cuộc chạy dài hơi. Họ đem theo mỗi người một chiếc rìu, cây giáo và mấy ngọn lao. Naoh mang thêm ngọn chùy gỗ sồi: một cành sồi còn xù xì đã nung cứng trong Lửa. Anh ưa dùng chiếc vũ khí ấy hơn tất cả mọi thứ khác, kể cả khi đương đầu với những thú lớn ăn thịt.

Faouhm nói, trước hết với con trai Oroc:

– Aghoo đã đến với ánh sáng trước con trai Báo đốm. Anh ta sẽ chọn trước đường đi. Nếu anh ta đi về phía Sông Đôi, Naoh sẽ đi vòng theo bãi lầy, về phía Mặt trời lặn… và nếu anh ta vòng theo các bãi lầy thì Naoh đi về phía Sông Đôi.

– Aghoo chưa biết rõ đường nào sẽ đi! – Anh chàng rậm lông cãi lại – Ta đi tìm Lửa, có thể sáng đi về phía đông, chiều về phía bãi lầy. Thử hỏi người săn bắt theo con lợn rừng có thể biết được mình sẽ hạ con mồi ở chỗ nào không?

– Aghoo sẽ thay đổi hướng đi sau này! – Cụ già Goun góp ý và được những tiếng xì xào trong bầy ủng hộ. – Anh ta không thể cùng một lúc ra đi về phía Mặt trời lặn và về phía Sông Đôi. Anh ta hãy chọn đi!

Trong tâm hồn sâu thẳm của hắn, con trai Oroc hiểu rằng hắn sẽ phạm sai lầm, không phải do cưỡng lại người chỉ huy, mà ở chỗ gợi cho Naoh sự nghi ngờ. Hắn gào lên, quay luồng mắt chó sói về phía đám đông:

– Aghoo sẽ đi về phía Mặt trời lặn.

Và ra một dấu hiệu cộc lốc cho hai em, hắn lên đường theo ven bờ đầm lầy.

Naoh chưa quyết định nhanh chóng như vậy. Anh còn muốn nhận tiếp vào trong đôi mắt hình ảnh Gammla. Cô gái đứng dưới một cây tần bì, sau cái nhóm có người chỉ huy, cụ già Goun và các bô lão. Naoh tiến lại, anh thấy cô ta đứng yên, mặt ngoảnh về phía đồng cỏ. Cô gái đã cài lên mái tóc những bông hoa dại và một bông sen màu nguyệt bạch, một vầng sáng dường như ánh lên từ làn da cô, óng ả hơn là vầng sáng của những dòng sông tươi mát và của gỗ non xanh cây cối.

Ở Naoh bốc lên máu nóng của sự sống, lòng ham muốn ngại ngùng và không thể dập tắt, niềm ước vọng mãnh liệt được tái tạo ra loài vật và cỏ cây. Trái tim anh căng lên đến mức làm cho anh ngạt thở vì nó, dạt dào âu yếm và giận dữ, tất cả những kẻ nào chia rẽ anh với Gammla đều đáng khinh ghét như bọn Con của ma mút hoặc quân Ăn thịt người. Anh giơ cao cánh tay nắm cây rìu và nói:

– Hỡi cô con gái của Đầm lầy, hoặc Naoh không trở về, anh ta mất tích dưới đất, dưới nước, trong bụng lũ sài cừu, hoặc sẽ đem Lửa về cho bầy Oulhamr. Anh ta sẽ đem về cho Gammla những vỏ ốc, đá xanh, răng beo và sừng bò tót.

Nghe những lời ấy, cô gái đưa mắt nhìn người chiến sĩ, cái nhìn rung lên niềm vui của trẻ thơ. Nhưng Faouhm đã bồn chồn giục giã:

– Các con trai Oroc đã khuất sau những cây sến kìa!

Lúc ấy Naoh mới ra đi về phía nam.

Naoh, Gaw và Nam đi suốt ngày trên đồng cỏ. Đồng cỏ đương tràn trề sức sống, những vạt cỏ nối tiếp như những đợt sóng đuổi nhau trên mặt biển. Đồng cỏ cúi rạp dưới gió nồm, gãy giòn dưới nắng, tỏa trong không gian tính chất muôn vẻ của các thứ hương thơm, đồng cỏ thật là đáng sợ và trù phú, đều đều trong toàn bộ, đa dạng trong chi tiết, và sản sinh ra bao nhiêu là các loài thú cũng ngang với các giống hoa, các thứ trứng cũng ngang với các loại hạt giống. Giữa những cánh rừng cao lương, những vạt kim tước chi, những doi thanh hao, len lỏi những mã đề, những tiểu liên kiều, những tử bi, những mao lương, những cỏ thi, những ô rô, những thủy cần. Thỉnh thoảng mặt đất trơ trụi sống cuộc sống trì trệ của khoáng vật, bề mặt nguyên sinh ở đó cây cỏ không hề cắm nổi những đoàn quân bền bỉ. Thế rồi lại xuất hiện những đám cối xay và dã tường vi, bồ công anh và xa cúc, chẽ ba đỏ hoặc những bụi bờ điểm lác đác những cánh sao.

Đây đó, nhô lên một mỏm đồi, lõm xuống một hố trũng, một mảnh ao tù lúc nhúc côn trùng và ếch nhái, cóc, rắn, một vài tảng đá nhô lên nổi bật cái dáng voi cổ đại, người ta thấy những sơn dương, dê núi, thỏ rừng vụt qua, những sói và chó rừng xông ra đồng cỏ, những gà lôi hoặc cun cút bốc lên không, những gầm ghì, giang và quạ bay lượn, những ngựa, lừa rừng và những con lộc phi hàng đàn. Một con gấu xám, đi đứng trông như loài khỉ lớn và loài tê giác hỗn hợp, khỏe hơn cọp và cũng khủng khiếp gần như con sư tử khổng lồ, lùi lũi trên dải đất cỏ xanh, những con bò Oroc xuất hiện ở đường chân trời.

Noah, Nam và Gaw nghỉ đêm ven chân một gò đất, họ chưa qua được một phần mười đồng cỏ, họ chỉ mới thấy có những làn sóng cỏ đuổi nhau. Mặt đất bằng phẳng, đều đều và rầu rầu, tất cả mọi hình thái của thế gian hiện lên và nhòa mất trong những đám mây rộng lớn buổi hoàng hôn. Đứng trước hằng hà sa số đốm lửa trên cao, Naoh nghĩ tới ngọn lửa leo lắt mà anh đang đi tìm, tưởng chừng anh chỉ cần leo lên đỉnh một ngọn đồi, chìa một cành thông ra rút lấy một tia lửa từ những đống than hồng được nung đốt phía trời tây.

Mây đen sầm lại. Một cái vực màu tía mở ra rất lâu ở phía cuối vòm trời, những mẩu đá óng ánh xinh xẻo ở các vì sao vụt nổi lên cái trước cái sau, hơi thở của đêm tối đã thổi.

Naoh, vốn đã quen với đống lửa những buổi canh gác, cái bức rào sáng đặt chắn trước biển bóng tối, lúc này cảm thấy sự yếu đuối của mình. Gấu xám có thể xuất hiện, hoặc beo, cọp, sư tử mặc dầu họa hoằn lắm chúng mới sục vào sâu trong đồng cỏ, một đàn bò Oroc, ào tới như sóng tràn, sẽ nhấn chìm khối thịt mảnh mai của con người, số lượng đông cũng làm cho lũ chó sói có sức mạnh ngang những thú lớn, bụng đói lại kích thích cho chúng táo bạo thêm.

Ba chiến sĩ phải ăn thịt sống. Đúng là một bữa ăn buồn chán, họ luyến nhớ mùi thơm thịt nướng. Sau đó, Naoh canh đợt đầu. Toàn thân anh hướng vào đêm tối. Con người anh là một dáng hình tuyệt tác, thấm đậm những gì là tinh hoa của vũ trụ, nhờ cặp mắt, anh “bắt” được những ánh lân tinh, những hình dáng mờ nhạt, những sự di chuyển của bóng tối và anh cũng với thấu các vì tinh tú; nhờ đôi tai, anh phân biệt tiếng gió heo may, tiếng cành cây gãy, côn trùng và chim ăn đêm bay, thú rừng bước đi hay bò lết, anh nhận rõ từ xa tiếng chó rừng tru, tiếng linh cẩu cười gằn, tiếng chó sói hú, tiếng chim cắt kêu, tiếng xạt xành gãi cánh; nhờ mũi thính, anh “chớp” được hơi thở của bông hoa yêu đương, làn hương thoảng vui vui của cỏ, mùi hôi hám những thú dữ, mùi nhạt thếch hoặc nức xạ của loài bò sát. Làn da anh rùng lên theo hàng ngàn sự thay đổi nhỏ của lạnh và nóng, của ẩm thấp và khô ráo, với mọi sự biến đổi của heo may. Như vậy, anh sống cùng tất cả những gì chứa đầy trong không gian và trong thời gian.

Cuộc sống đó không phải là dễ dàng, mà cơ cực và đầy những đe dọa. tất cả những gì làm nên nó đều có thể hủy diệt nó; nó chỉ có thể sống còn nhờ ở sự nhanh nhẹn, sức mạnh mưu trí, một cuộc chiến đấu không mệt mỏi với mọi vật.

Naoh rình trong bóng tối những chiếc nanh cứa thịt, những chiếc vuốt xé da, con mắt nảy lửa của thú ăn thịt. Nhiều con thú nhìn nhận giống người là loài thú hùng mạnh và không dám lân la. Bọn linh cẩu với bộ quai hàm kinh khủng hơn hàm sư tử có bén mảng nhưng chúng lại không thích đánh nhau và chỉ đi tìm thịt thối rữa. Một đàn chó sói chạy qua và chúng chậm bước lại. Chúng hiểu rõ sức mạnh của số đông, chúng tự nghĩ cũng có thể gần cân sức với mấy người Oulhamr. Tuy nhiên cũng chưa đến mức đói meo, chúng lại đuổi theo vết dê rừng. Đến một bầy chó rừng, cũng chẳng kém cạnh hơn sói, chúng hú lên rất lâu chung quanh gò đất, khi thì chúng dọa dẫm, khi thì con này hoặc con khác mon men đến gần một cách nham hiểm. Bình thường thì chúng không tấn công vào con thú đứng thẳng. Đã có một thời, chúng sống đông đúc ngay cạnh bầy người, chúng ăn những thức ăn thừa và cũng nhập vào những cuộc săn. Ông già Goun đã làm quen với một cặp chó rừng và dành lại cho chúng lòng ruột và xương con thịt, chúng đã bỏ mạng trong một cuộc đấu sức với một con lợn lòi, sau đó thì không còn làm quen được với bọn chó rừng nữa bởi vì khi Faouhm cầm quyền chỉ huy đã ra lệnh giết chúng không tiếc tay.

Mối quan hệ ấy với chó rừng đã khiến Naoh chú ý, anh cảm thấy từ đó có thể nảy sinh một sức mạnh mới, ổn định hơn và quyền lực hơn. Nhưng giờ đây trong đồng cỏ, một mình với hai chiến sĩ, anh chỉ cảm thấy trong đó thì sự nguy hiểm là chính. Có thể anh sẽ thử được với vài ba con nhưng không thể với cả đàn chó rừng được.

Thế nhưng lũ chó rừng thắt chặt dần vòng vây, tiếng kêu của chúng thưa đi và hơi thở của chúng mạnh lên. Naoh hơi chờn chợn. Anh quơ một nắm đất, ném mạnh vào con chó liều lĩnh nhất, quát to:

– Chúng ta có nhiều mũi lao nhọn và những cây chùy nặng có thể giết chết gấu, bò tót và sư tử đấy!

Con chó bị ném trúng mõm, và giật mình vì tiếng quát của Naoh, nó vùng bỏ chạy. Những con kia gọi nhau và có vẻ bàn cãi với nhau. Naoh ném tiếp luôn một vốc đất.

– Chúng bay thì quá yếu làm sao chống nổi người Oulahmr chúng tao! Mau cút đi mà tìm sơn dương và tiêu diệt bọn chó sói! Con chó rừng nào dám lại gần một chút nữa sẽ xổ ruột ra đó!

Nam và Gaw nghe tiếng người chỉ huy cũng tỉnh dậy nhỏm vụt lên. Mấy cái hình chợt xuất hiện ấy khiến lũ chó rừng quyết định bỏ chạy thẳng.

Naoh đi ròng rã suốt bảy ngày, vừa đi vừa lo tránh những cạm bẫy của mọi thứ trên đời, càng tới gần rừng càng đầy rẫy. Mặc dầu cũng còn ở xa đến nhiều ngày đường, rừng đã đánh tiếng trước bằng những lùm cây to, bằng sự xuất hiện những thú dữ lớn, ba người Oulhamr đã nhác thấy con hổ và con báo đại cồ. Đêm đến lại càng cơ cực. Rất sớm trước hoàng hôn, họ đã phải kiếm cách che chắn quanh bằng các chướng ngại vật, họ tìm những hốc trong gò đất, trong tảng đá, trong bụi cây rậm dày, họ lánh xa các cây to. Ngày thứ tám và ngày thứ chín, họ khát khô cả họng. Không có lấy một dòng suối, một mảnh ao, bãi cỏ hoang vắng héo nhợt đi, những con bò sát cạn lấp loáng giữa những hòn đá, sâu bọ ran lên trong khoảng không một sự hồi hộp đầy lo âu, chúng bay vút đi như những vòng xoáy bằng đồng, ngọc thạch, xà cừ, chúng lao xuống da các chiến sĩ và thọc vòi quấy rối.

Lúc bóng chiều ngày thứ chín đã ngả dần, mặt đất trở nên mát mẻ và êm dịu, chợt thoảng có mùi nước qua những ngọn đồi đưa xuống, và có một đàn bò Oroc đương tiến về phía nam. Naoh bảo các bạn:

– Chúng ta sẽ được uống nước trước khi mặt trời lặn! Lũ Oroc đang kéo đến chỗ có nước!

Nam – con trai cây Sến, và Gaw – con trai Dê núi, vươn thẳng thân hình khô khẳng lên. Đó là những con người nhanh nhẹn và chưa ổn định. Cần phải gây cho họ lòng dũng cảm, khả năng chịu đựng, ý chí vững vàng trước đau thương, niềm tin. Trở lại, họ sẽ cống hiến sự phục tùng, họ sẽ dễ nặn như đất sét mà thường là hào hứng rất nhạy để quên nỗi đau khổ để hưởng niềm vui. Và cũng bởi vì, đã đơn độc ở đây, họ cảm thấy bối rối trước đất đai và thú vật, họ tự xếp vào một thể thống nhất. Do đó, Naoh nhìn thấy được ở họ những khả năng có thể tăng thêm cho chính sinh lực của mình. Bàn tay họ khéo léo, chân họ dẻo dai, mắt họ tinh, tai họ thính. Một người chỉ huy có thể nhận được ở đó sự giúp đỡ chắc chắn, chỉ cần làm cho họ hiểu được ý chí và dũng khí của mình. Thế mà, ngay từ lúc ra đi, trái tim họ đã gắn bó với Naoh, anh là hơi tỏa của nòi giống, là sức mạnh con người trước bí ẩn độc địa của vũ trụ, nơi trú ẩn có thể che chở họ trong khi họ phóng ngọn lao hoặc hạ lưỡi rìu. Và đôi khi, những lúc anh đi phía trước họ, trong niềm say sưa buổi sáng sớm, hoan hỉ về vóc dạc đồ sộ và lồng ngực rộng nở của mình, họ run lên trong một niềm phần khởi dữ dội và gần như trìu mến: tất cả bản năng của họ bừng nở theo người chỉ huy như cây dẻ gai vươn tới ánh sáng.

Naoh cảm giác điều đó hơn là anh hiểu nó, anh thấy mình mạnh lên từ những con người ấy đã gắn bó với số phận mình, đơn chiếc và đông đảo hơn, phức tạp hơn, vững chắc hơn để chiến thắng và để phá hỏng mọi cạm bẫy.

Những bóng đen dài nổi bật lên từ gốc cây, những đám cỏ căng đầy nhựa sống, và mặt trời, vàng hơn và lớn hơn dần theo mực nó tụt xuống phía vực sâu, chiếu vào đàn Oroc cho sáng ánh lên như một dòng sông cuộn nước màu hung hung.

Những nghi ngại cuối cùng của Naoh tan biến. Qua khoảng đèo thấp giữa mấy ngọn đồi, vạt nước nhìn thấy cũng gần, bản năng khiến anh tin tưởng như thế, và cả số lượng những con thú đương len lén lần theo con đường của đàn Oroc nữa. Nam và Gaw cũng biết rõ như thế, cánh mũi họ nở phập phồng trước làn hơi tỏa mát rượi.

– Phải đến trước lũ Oroc! – Naoh bảo.

Bởi vì anh sợ rằng vạt nước có thể không rộng và bọn đại cồ đó sẽ đông đặc khắp các mặt bờ. Các chiến sĩ rảo bước để kịp tới đèo thấp trước đàn thú.

Do số đông mà cũng do tính cẩn trọng của bọn bò đực già và tình trạng mệt mỏi của lũ bò non, đàn Oroc tiến chậm chạp. Các chiến sĩ Oulhamr bỏ cách quãng xa. Nhiều giống thú cũng làm cách đó, những con sơn dương nhẹ nhàng, những bò núi, dê núi, lừa rừng vụt qua và một đàn ngựa phi cắt ngang. Nhiều con đã lọt qua ngõ thấp.

Naoh đã vượt rất xa đàn bò Oroc, họ có thể uống nước thong dong. Khi mấy người đã vượt ngọn đồi cao nhất, lũ Oroc bị bỏ xa đến một nghìn cẳng tay[4].

Nam và Gaw vẫn chạy nhanh, họ khát quá rồi, họ vòng qua ngọn đồi, lọt vào con đường độc đạo. Làn nước hiện ra, bà mẹ sáng tạo, tốt lành hơn cả Lửa. Đây gần như là một cái hồ, trải dài dưới chân một dãy núi đá, có những bán đảo nhô ra, bên phải đón nước một dòng sông đổ vào, bên trái thì lại đổ ào nước xuống một vực thẳm. Có thể đi tới đó theo ba ngả: theo ngay dòng sông, theo cái ngõ mà những người Oulhamr mới lọt qua và một ngả khác, chen giữa những mỏm đá cao và một ngọn đồi, còn lại chỉ có sừng sững những bức tường đá ba dan đồ sộ.

Các chiến sĩ reo mừng chào làn nước ngả màu da cam dưới nắng chiều tà, làn nước làm dịu cơn khát cho những con linh dương mảnh dẻ, những con ngựa vóc dạc bè bè, những con lừa hoang có móng thon, những con dê rừng xồm xoàm râu và dăm bảy con hoẵng êm nhẹ hơn những chiếc lá rơi, một con hươu rậm sừng đá già, trên vầng trán như mọc lên một cây lớn. Một con lợn lòi hung bạo, gây gổ và âu sầu, là con thú duy nhất cứ uống nước một cách đường hoàng, những con thú khác, tai vểnh, mắt la mày lét, tư thế sẵn sàng để bỏ chạy. Tỏ rõ quy luật của cuộc sống, sự cảnh giác triền miên của kẻ yếu.

Bỗng nhiên, bấy nhiêu đôi tai đều dỏng lên, bấy nhiêu cái đầu đều thăm thú sâu vào cõi mơ hồ. Thế là nhanh vút, dứt khoát, có vẻ hỗn loạn: ngựa, lừa hoang, dê núi, hoẵng, lừa rừng, hươu rậm sừng, bỏ chạy trốn theo con đường hẻm phía nam, dưới những tia sáng đỏ rực chiếu xuống. Còn một mình chú lợn lòi cứ đứng yên, đôi mắt ti hí đỏ ngầu đảo trong đám lông mi. Và lũ chó sói ùa tới, những con sói cực lớn, sói rừng với sói đồng cỏ, cẳng cao, mõm chắc, hai mắt gần nhau mà luồng ánh sáng màu vàng không tỏa ra như ở mắt giống thú ăn cỏ mà lại tập trung chiếu thẳng vào con mồi. Naoh, Nam và Gaw nắm chắc ngọn lao và cây giáo sẵn sàng, còn con lợn lòi thì hếch những chiếc nanh móc nhọn lên và thở mạnh dữ dội. Qua đôi mắt ranh mãnh, cái mũi tinh nhạy, bọn sói ước lượng kẻ địch: nhận thấy quả là đáng sợ, chúng bỏ qua và kéo nhau đuổi săn bọn chạy trốn.

Bọn sói rút đi thì lại yên tĩnh vô cùng và mấy người Oulhamr đã uống xong nước. Hoàng hôn sắp đến, mặt trời khuất sau dãy núi đá. Muộn rồi, không thể tiếp tục đi nữa, nghỉ đâu bây giờ?

– Lũ Oroc sắp đến! – Naoh nói.

Nhưng ngay lúc đó, anh quay đầu về phía tây, cả ba chiến sĩ lắng nghe, rồi họ nằm úp xuống đất.

– Bọn đang đi tới từ phía ấy không phải là Oroc! – Nam khẽ lẩm bẩm.

Và Naoh nói chắc chắn:

– Đó là bầy ma mút

Họ vội vã xem xét quang cảnh chung quanh. Con sóng cuồn cuộn chen giữa ngọn đồi đất ba dan và một vách đá, ở đây có một mái đá chìa ra khá rộng, đủ cho một con thú lớn đi qua. Ba người Oulhamr trèo lên mái đá.

Dưới vực đá, nước chảy trong bóng tối và bóng nhờ nhờ lưu cữu; nhiều cây to bị đất lở cuốn theo hoặc vì chúng nặng quá mà tự nhổ bật lên, nằm bắc ngang trên vực, những cây khác lại mọc từ dưới sâu lên, mảnh dẻ và lòng ngòng dài quá cỡ, tất cả sức sống phải dồn vào việc đẩy một túm lá lên tới vùng có chút ánh sáng mờ nhạt; và tất cả, bị một lớp rêu dày như lông con gấu ngoạm chặt, bị dây leo quấn đến nghẹt thở, phô bày đức nhẫn nại không thể tiêu diệt nổi của những kẻ chiến bại.

Nam trông thấy đầu tiên một cái hang, thấp và không sâu bao nhiêu, thành vách nham nhở. Những người Oulhamr chưa chui vào vội, họ đưa mắt sục sạo thật kĩ. Sau cùng thì Naoh vào trước, cúi thấp đầu và phồng cánh mũi, anh nhận ra những đống xương cùng những mảnh da, những sừng, những gạc hươu rậm sừng, những quai hàm… Chủ hang đúng là một tay săn hùng mạnh và đáng gờm. Naoh cứ hít đi hít lại làn hơi tỏa ra.

– Đây là hang con gấu xám. – Anh nói to – Hang bỏ vắng có đến hơn một tuần trăng.

Nam và Gaw chưa hề biết đến con thú khủng khiếp ấy, những người Oulhamr lần mò những vùng chiếm cứ của hổ, sư tử, bò tót, cả ma mút nữa, nhưng gấu xám thì hiếm lắm. Naoh thì đã gặp con thú ấy trong những cuộc săn bắt xa hơn, anh hiểu rõ sự hung bạo của nó, sức mạnh của nó – xấp xỉ con sư tử khổng lồ và mù quáng như con tê giác, tính gan góc hung hãn và bất trị của nó. Hang bỏ vắng, có thể do con gấu không ở nữa, cũng có hể nó đã chuyển đi nơi khác độ vài tuần hoặc cả một mùa, hoặc nó đã bị tai nạn khi vượt sông. Chắc chắn là con thú chưa về hang đêm nay, Naoh quyết định mượn tạm chỗ ở của nó. Trong khi anh trao đổi ý đó với các bạn thì một tiếng ầm ầm dậy đất rung chuyển dọc những mỏm đá và triền sông: Lũ Oroc đã đến! Tiếng rống oai hùng của chúng như tiếng sư tử gầm, vang vọng khắp miền đất xa lạ.

Naoh không thể bình thản mà nghe ngóng động tĩnh của lũ thú đại cồ này. Thực ra, con người rất ít săn bắt trâu rừng và Oroc. Những con đực to lớn, khỏe mạnh, lanh lẹ đến mức những thế hệ nòi giống chúng sau này không sao bì nổi, ngực chúng hít vào một lượng vô kể dưỡng khí trong lành, những giác quan của chúng nếu không nhạy hơn thì ít ra cũng linh hoạt hơn và tinh tế hơn. Chúng hiểu rõ vị thứ của chúng, chúng chỉ e dè bọn thú dữ lớn cho những con yếu trong đàn, những con rớt sau đàn hoặc những con lang thang lẻ loi trong đồng cỏ.

Ba chàng Oulhamr ra bên ngoài hang. Ngực họ giật nảy lên trước cảnh hùng vĩ, con tim họ biết rõ cái huy hoàng hoang dã của nó, tâm tính u ám của họ tiếp nhận được ở đó, không lời nói, không ý nghĩ, cái đẹp kiên cường đương rung động ở tận đáy sâu chính con người họ, họ linh cảm cái bối rối bi thương từ đó sẽ nảy sinh ra, sau đó hàng thế kỉ những thế kỉ, vần thơ về những đại bộ tộc hoang dã.

Họ vừa bước ra khỏi vầng bóng nhờ nhờ thì một tiếng ầm ào khác nổi lên, cắt ngang tiếng ầm ào trước như một lưỡi rìu sắc thiến vào thịt một con dê. Đây là một thứ tiếng kêu run run, không trầm và không nhịp nhàng bằng, yếu hơn tiếng rống của lũ Oroc, tuy nhiên, nó báo cho biết sinh vật mạnh nhất hiện đương có mặt trên phần đất này. Thời đó, loài ma mút đi lại bất khả xâm phạm. Vóc dạc nó bắt sư tử và cọp phải lảng xa, gấu xám phải thất vọng, con người chỉ dám chọi sức với nó hàng ngàn năm về sau, và chỉ độc có con tê giác, mù quáng và ngốc nghếch mới dám đụng tới nó. Nó dẻo dai, nhanh nhẹn, bền bỉ, leo núi dễ dàng, thận trọng và có trí nhớ dai, nó lượm nhặt, nhào vọt và ước lượng mọi vật bằng cái vòi, dũi đất bằng cặp ngà vĩ đại, dẫn dắt những chuyến đi một cách khôn ngoan và hiểu rõ thế mạnh của mình: cuộc đời đối với nó thật là đẹp, máu nó chảy thật là đỏ, không thể nghi ngờ rằng tâm linh nó lại không sáng suốt hơn, cảm giác sự vật của nó lại không tinh tế hơn là ở những con voi đã bị chiến thắng lâu dài của con người làm cho thấp hèn đi.

Trớ trêu là những con đầu đàn Oroc và ma mút đều cùng một lúc tiến tới bờ nước. Bọn ma mút theo thông lệ của chúng, đĩnh đạc tiến lên trước. Cái lệ ấy xưa nay vẫn không hề gặp sự phản kháng ở loài trâu rừng hay ở loài Oroc. Thế nhưng đàn Oroc này lại nổi nóng lên, vì đã quen được các loài thú ăn cỏ khác nhường bước, mà cũng vì những con bò mộng đầu đàn chưa hiểu rõ loài ma mút.

Vả chăng, cả tám con bò mộng đầu đàn đều đồ sộ, con lớn nhất cũng ngang thân hình con tê giác, chúng đã kém nhẫn nại lại đương khát khô họng. Thấy bọn ma mút định vượt đi lên trước, chúng rống to tiếng kêu chiến đấu, mõm nghếch cao, cổ phồng lên như chiếc kèn bị.

Lũ ma mút lên tiếng. Đó là năm con đực đã già, thân hình chúng là những gò đống, chân cẳng chúng là những thân đại thụ, chúng chìa những cặp ngà dài đến cả chục cẳng tay, đủ sức xuyên suốt những thân cây sồi, vòi chúng nom như những con trăn đen, đầu là đá tảng, chúng vận động trong một lớp da dày như vỏ những cây dâu đã già. Phía sau chúng là cả đàn dài một màu đất thó.

Đôi mắt nhỏ và linh hoạt đăm đăm nhìn vào lũ bò mộng, những con ma mút già đứng chắn ngang đường, bình thản, ngang tàng và trầm mặc. Cả tám con bò mộng, tròng mắt đục ngầu, lưng gồ lên như ngọn đồi, đầu xòa lông xám và dài rậm, sừng cong chĩa ra ngoài, lắc lư cái bờm óng ả, nặng nề và dính đầy bùn. Trong bản năng sâu kín, chúng cũng đã nhận ra sức mạnh của đối phương nhưng những chiếc rống của cả đàn như dội vào chúng một tâm trạng bồn chồn muốn gây gổ. Con khỏe nhất, chỉ huy cả bọn đầu đàn, cúi vầng trán cứng đặc xuống, cặp sừng ánh lên, nó vọt lên như một mũi tên to lớn bắn ra, nhảy xổ vào con ma mút gần nhất. Bị húc mạnh vào vai, mặc dầu đã quật ngang tiếng vòi để chống đỡ, con vật khổng lồ vẫn ngã khuỵu xuống. Con bò mộng dồn dập tấn công với sự bền bỉ của giống nòi. Nó có thế lợi rõ ràng, đôi sừng nhọn hoắt đánh tới tấp, và con ma mút thì chỉ có thể dùng được mỗi cái vòi mà cũng rất lúng túng. Trong cái hỗn loạn ào ạt ấy của các cơ bắp, con Oroc là sự giận dữ bất thần, một cơn dông bão của bản năng lộ ra ở con mắt to và đục, cái gáy phập phồng, cái mõm sùi bọt cùng những động tác chắc chắn, rành rọt, dồn dập nhưng đơn điệu. Nếu nó húc ngã được đối phương và đâm cho thủng bụng, chỗ đó da có mỏng hơn và thịt có nhão hơn, nó sẽ thắng.

Con ma mút cũng cảm thấy rõ như thế, nó gắng gượng giữ cho không bị ngã hẳn xuống, và tai biến đã giúp nó thêm tỉnh táo. Chỉ cần một cái nhún là nó đứng thẳng lên được nhưng phải nhè lúc con Oroc hãm bớt những đợt đâm bổ.

Thoạt tiên, cuộc đọ sức khiến cho những con chỉ huy khác ở cả hai bên đều ngạc nhiên. Bốn con ma mút và bảy con bò mộng đứng đối mặt nhau, trong một tư thế chờ đợi kinh khủng. Không một con nào tỏ ý muốn can thiệp, con nào cũng như cảm thấy chính mình đương bị đe dọa. Bọn ma mút tỏ ra nóng ruột trước tiên. Con cao nhất, thở mạnh một tiếng, ve vẩy đôi tai mềm mại giống như những con dơi kếch xù, nó bước lên. Cũng gần đúng vào lúc ấy, con ma mút đương lâm nguy bỗng quật được một nhát vòi vào cẳng địch thủ. Con bò mộng chệnh choạng và con ma mút, đứng thẳng lên. Hai con vật hộ pháp đứng đối mặt. Cơn giận dữ quay cuồng trong đầu con ma mút, nó giơ cao vòi theo một tiếng gầm sang sảng và chuyển sang tấn công. Cặp ngà cong hất tung con bò mộng lên và nghe tiếng xương gẫy răng rắc, rồi con ma mút quật chéo vòi một phát. Cơn điên giận bốc lên ngùn ngụt, nó chọc thủng bụng đối thủ, nó giẫm nát lòng ruột nhòng nhèo và khung xương sườn gãy, nó dầm cả bốn chiếc cẳng đồ sộ trong vũng máu cho tới ức. Cơn hấp hối kinh khủng ấy bị át đi trong một chuỗi dài tiếng rống ĩ, đụng độ bắt đầu giữa những con đực lớn. Cả bảy con bò mộng, bốn con ma mút lao vào một trận đọ sức mù quáng, chẳng khác những cuộc bỏ chạy hỗn loạn khi con thú mất hẳn tự chủ đối với chính mình. Cơn hỗn loạn lan tới cả hai đàn thú: tiếng rống dài sâu của đàn Oroc luôn vấp phải tiếng thét rít của ma mút, lòng căm ghét kích động những làn sóng dài các thân hình ấy, những dòng lũ của bao nhiêu là đầu, là sừng, là ngà và là vòi đấy.

Những con đực đầu đàn chỉ còn biết có đánh nhau: thân hình chúng lẫn với nhau, nhung nhúc không ra hình dáng, máu đổ thịt rơi trong đau đớn và điên dại. Bắt đầu vào cuộc đụng độ, số lượng kém đã đưa bọn ma mút vào thế yếu. Một con bị ba con bò mộng húc cho chúi xuống, một con khác bị ghì chặt vào thế tự vệ. Nhưng hai con kia lại chiến thắng rất nhanh, toàn thân là cả một khối lao thẳng vào đối thủ, chúng đã đâm thủng, cuốn cho ngạt, xé nát kẻ địch, chúng mất nhiều thì giờ để giày xéo kẻ bị thua hơn là để đánh ngã. Sau đó, nhận thấy thế nguy của đồng ngũ, chúng tấn công ào ạt. Ba con bò mộng quá hăng say tiêu diệt tên khổng lồ bị xô ngã, lại bị đánh bất ngờ, chúng lăn nhào xuống một cục, hai con bị giẫm nát dưới những cẳng chân nặng trịch, con thứ ba bỏ chạy thẳng. Nó chạy trốn, kéo theo những con bò mộng đương đấu trận cũng bỏ chạy luôn, và thế là kinh hoảng lan lây rộng khắp cả đàn Oroc. Đầu tiên là một nỗi bàng hoàng như trước cơn dông, một sự bất động kì lạ bao trùm lấy đám đông, rồi những cặp mắt ngơ ngác đảo đi đảo lại, một đợt giẫm chân tại chỗ như mưa rào đổ, một cuộc chạy trốn như lũ xô, sau đó trở thành cuộc lộn ẩu trong cái hẻm quá chật hẹp: mỗi con thú biến thành một khí lực bị ép thụt ra, thành một quả đạn phóng đi, hoảng sợ, con khỏe xô ngã con yếu, những con chạy nhanh thì hộc tốc chồm trên lưng những con khác, trong khi xương gãy như là cây to bị cơn lốc quật đổ.

Bầy ma mút cũng không nghĩ đến đuổi theo nữa: thêm một lần, chúng tỏ rõ chúng là chủ trên mặt đất, và cái hang dài những con thú khổng lồ màu đất thó, lông dài và cứng, bờm thô kệch, đứng thành dây trên bờ nước mà uống kinh khủng đến nỗi mực nước trong vũng hạ xuống trông thấy.

Trên sườn dãy đồi, một đám đông những con thú lẹ làng vẫn chưa lại hồn trước trận ẩu đả, im lặng nhìn lũ ma mút uống nước. Những người Oulhamr cũng chiêm ngưỡng chúng, trong nỗi kinh khủng của một trong những giai đoạn trọng đại của thế gian. Và Naoh, so sánh những con thú thống trị ấy với Nam và Gaw, những cánh tay mảnh dẻ, những bắp chân thon thả, những thân hình gầy nhỏ với những cẳng chân thô kệch như những thân cây sồi, những thân hình bồ tượng như những lèn đá, anh nhận thấy sự nhỏ nhoi và sự mỏng manh của con người, cuộc sống hèn mọn lang thang mà anh đương trải qua trên đồng cỏ. Anh cũng nghĩ đến cả những con sư tử lông vàng, những con sư tử khổng lồ và những con hổ mà anh sẽ đụng đầu trong rừng rậm sẽ tới và dưới móng vuốt chúng, con người hay con hươu rậm sừng đều yếu hèn cũng như con chim câu trong móng con chim cắt.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *