Mùa Yêu Đầu

1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK 

Tác giả : Waka

Download sách Mùa Yêu Đầu ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : VĂN HỌC

2. DOWNLOAD

Định dạng ebook                  

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ? Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Lời giới thiệu

“Hoa đầu mùa bao giờ cũng đẹp

Nắng đầu mùa bao giờ cũng say

Mối tình đầu bao giờ cũng vậy

Rất đậm đà nhưng cũng rất đắng cay”

Mỗi người chúng ta ai cũng từng đi qua những rung động đầu đời. Tình đầu, giống như một cuốn phim đã ngả màu vàng ố sau khi bị lưu dấu tích của thời gian nhưng vẫn là kỷ vật tuyệt vời nhất trong ký ức của mỗi người. Những năm tháng thanh xuân ngắn ngủi đó đã chôn vùi biết bao ánh mắt, nụ cười và cả sự ngập ngùng e ngại. “Mùa Yêu Đầu” hướng về Mối Tình Đầu của mỗi người… tất cả những ai đã từng trải qua tình đầu đều không thể thôi bùi ngùi khi nhớ về nó.

Tuyển tập truyện ngắn Mùa yêu đầu do Waka.vn tuyển chọn sẽ đưa bạn đến tận cùng những cung bậc cảm xúc của tình yêu đầu.

ĐỌC THỬ

PHỐ NÚI MÙ SƯƠNG

(Tác phẩm đạt giải nhất cuộc thi “Viết từ trái tim” lần 1 do Waka tổ chức)

Y Nguyên

Hiền là chị tôi. Chị họ, mẹ bảo vậy. Hai bác cũng bảo vậy. Chị họ cũng là chị, tôn ti trật tự đàng hoàng, máu loãng hơn nước lã. Tôi biết, rất biết. không cần mẹ dạy, không cần mẹ rằn rực, răn đe mỗi bận nghe hai đứa bà bà tui tui. Hai bác tế nhị hơn, chỉ xa xôi: con Hiền lớn hơn, lại là chị, liệu mà cư xử cho ra chị…. Thống nhất ý chí gớm, rõ rồi. Hiền lớn hơn tôi thật. Hơn một tuổi. Trên một lớp. Có điều thân thì vẫn thân. Còn vì sao thân, hãy bắc thang lên mà hỏi ông trời…

Hiền là chị tôi. Là chị; tôi luôn nhớ điều này như in trong những kiến văn được lập trình sẵn cho lí trí. Có điều, trong những giấc mơ, tôi hay quên bẵng điều đó. Tôi thấy Hiền là bạn, là em, thậm chí là… mẹ tôi. Mẹ, bạn, em; nhưng chưa bao giờ là chị. Phải; Hiền chưa bao giờ là chị tôi. Trong mơ, kì cục chưa, tôi thấy tôi bá vai bá cổ Hiền. Tôi thấy tôi nũng nịu, vòi vĩnh cùng Hiền. Tôi thấy tôi cầm tay dắt Hiền đi chơi; thậm chí… bồng bế Hiền trên tay, hay những cảnh tượng khùng điên hơn! Ác mộng; tôi biết; nhưng đó là những ác mộng thường xuyên lặp lại từ khi chúng tôi bắt đầu bước một chân qua khỏi ngưỡng cửa tuổi thơ, từ khi mắt tôi bất chợt nhận ra những đường cong thiếu nữ lộ hằn sau chiếc áo ướt mưa dán sát người Hiền ngày hai đứa chở nhau qua quãng đồng mắc mưa không chỗ trú. Run bắn người, như điện giật; nhất là khi nhận ra hai cái núm hồng xinh xinh lấp ló mơ hồ trên hai chóp núi đôi. Và còn nữa; còn một vệt đen mờ ẩn hiện giữa cặp đùi gói trong chiếc quần lụa trắng cũng bị mưa làm dính bết! Hiền vô tư lắm; cười khanh khách, luôn mồm kêu lạnh, không nhận ra mắt tên em họ đang lạc thần…

Tôi biết, tôi đã bỏ lại tuổi thơ của mình, vĩnh viễn đánh mất tuổi thơ của mình, trên cánh đồng chiều ấy, sau cơn mưa.

Ác mộng nào cũng vậy. Giãy giụa. Gào thét. Quẫy đạp. Những nỗ lực tuyệt vọng, điên cuồng để mong chạy trốn. Trốn khỏi cái thực tại mộng mị. Cái thực tại không đội trời chung cùng thực tại! Đau đớn, tuyệt vọng, rã rời khi không thể trốn chạy; khi nhận ra rằng: mình thật sự không thể trốn chạy. Đừng ai bảo rằng trong mơ con người không ý thức. Ý thức vẫn hiện hữu, lạnh lùng quan sát mọi sự, quan sát cuộc đấu tranh tuyệt vọng của nạn nhân – con người cố rút chân ra khỏi vũng lầy thực-tại-mộng-mị. Quan sát mà không can thiệp (mà thực ra cũng không thể nào can thiệp). Hiền là chị, chị họ tôi, tôi biết. Ngay cả trong những giấc mơ điên khùng nhất của mình tôi vẫn biết. Biết; đó chính là điều khủng khiếp nhất; là căn nguyên cần và đủ để biến những giấc mơ tôi thành ác mộng!

Chiến tranh với chính mình luôn là một cuộc chiến tranh đáng sợ; thập phần đáng sợ. Trong cuộc chiến ấy, con người luôn phải đơn độc mà chiến đấu, tuyệt không một chiến hữu đồng hành.

Nhưng thôi; hãy kệ thây tôi với những ác mộng của tôi. Đó là vấn đề của riêng tôi. Của riêng Tiểu Vũ Trụ tôi (mỗi con người là một Tiểu Vũ Trụ). Nó không ảnh hưởng đến ai. Hòa bình thế giới vẫn được duy trì vẹn nguyên. Hiền (tôi muốn nói: chị Hiền!) vẫn vô tư nói cười, vẫn vô tư ngồi sau xe cho tôi chở lông nhông từ sau buổi chiều có cơn mưa ấy. Mẹ tôi, rồi hai bác, vẫn yên tâm khi thấy bọn tôi tôn ti ra trò lúc có mặt người lớn. Mấy lúc ấy, Hiền đúng là một “bà chị” thực sự, nghiêm khắc và kẻ cả (diễn không tệ!); chỉ thi thoảng đệm bằng một cú bụm miệng cười sau lưng rất quái! Ai đó bảo: cuộc sống là sàn diễn; và chúng tôi đang chơi trò diễn kịch (hoặc vũ hội giả trang). Hiền bảo: ông diễn kém, để tui…. Nhất trí. Và, trước mặt mọi người, tôi nhường Hiền vai chính; còn tôi chỉ thủ một vai phụ, rất phụ. Hạn chế đối thoại đến mức hệt diễn viên tuồng câm; giơ tay… ra dấu là chính. Vậy mà thi thoảng hạ màn vẫn bị Hiền ỏng eo: có mỗi cái… ra dấu mà ra cũng không nên!

Tội cho Hiền (tôi muốn nói: chị Hiền); chị Hiền không biết, không hề biết, tôi không chỉ diễn chung với chị mà còn diễn riêng; không chỉ diễn với khán giả người lớn mà còn diễn luôn với khán-giả-chị. Chị Hiền không biết tôi đang tham gia vào một vở diễn lớn lao và khốc liệt hơn nhiều so với vở kịch chúng tôi đang cùng nhau diễn. Và trong vở diễn này, tôi thủ vai của mình không tệ; thật sự không tệ! Bằng chứng là cho đến tận giờ vẫn không ai biết, không ai ngờ – kể cả chị Hiền – về những giấc mơ, những cơn ác mộng thường trực mỗi lúc đêm về của tôi…

Tôi biết mình có lỗi nhiều với Hạ. Tôi không yêu Hạ. Giờ thì tôi biết chắc điều đó. Nhưng đã muộn; rất muộn! Chị Hiền rủa: mày (lần đầu tiên Hiền, quên, chị Hiền, kêu tôi bằng “mày”) thật là đồ… chẳng ra gì! Đúng; tôi thật là đồ chẳng ra gì. Hạ khóc: Hiền để Thục đi, đừng rủa Thục. Tại mình hết. Tại mình dại khờ, nông nổi mới ra vậy…. Đến nước này, khi tôi thú nhận cái sự thật (chắc gần sập trời với Hạ) rằng tôi không yêu Hạ, rằng tôi yêu một người đàn bà khác, Hạ vẫn là người phụ nữ cư xử rộng lượng, vị tha. Tôi có đáng được Hạ rộng lượng, vị tha không? Tôi không biết. Chị Hiền thì bảo tôi không đáng…

Đó thực sự là một trạng thái bấn loạn, lùng bùng, mất tự chủ. Hình như tôi không biết, không rõ mình muốn gì từ khi tôi nghe tin chị Hiền kết hôn;từ khi tôi biết chị xin chuyển công tác theo quê chồng; một ngôi trường mãi tận vùng cao. Phố núi cao, phố núi đầy sương…

Hạ bạn Hiền. Cùng tuổi, học cùng khóa; giờ là đồng nghiệp dạy cùng trường. Chị Hiền bảo: tui làm mai cho; nàng tuổi tui, đẹp người đẹp nết. Ông lấy nàng, mai mốt về phố núi, thành hàng xóm với tui, ưng không? Gật ngay; chẳng thèm suy nghĩ lâu la. Sao kì???

Hạ ưng tôi. Càng ưng khi nghe nội dung “tiếp thị” của Hiền. Hiền nói về tôi những gì không biết; nhưng chắc chắn không tệ. Đương nhiên, sự thật là tôi cũng không tệ. Tôi cao ráo, đẹp trai. Bạn bè bảo trông tôi tràn đầy khí chất đàn ông. Cái ấy dễ hút hồn phụ nữ! Nhưng nội dung tiếp thị của Hiền cũng không thừa, tôi biết. nó như con tem đảm bảo chất lượng (ISO) dán lên “món hàng” tôi trong mắt Hạ! Niềm tin quan trọng hơn ta nghĩ. Đôi khi niềm tin khiến người người ta dễ chủ quan, khiến người ta đánh mất sự cảnh giác và nhạy bén cần thiết cho một quyết định…

Hạ chân thật, hiền lành và an phận. Giấc mơ của Hạ gói tròn trong viễn cảnh gia đình đầm ấm, một ông chồng tốt, những đứa con ngoan. Hạ tin Hiền, tin tôi, tin cái khát vọng của mình, sự trông đợi của mình vào người chồng tương lai không hề viễn vông, không có gì quá sức.

Tôi, đơn giản hơn, tiếp cận, cầu hôn Hạ chỉ với duy nhất một khát khao: mau chóng thành công dân phố núi! Thật tình thì tôi cũng thích Hạ, có thiện cảm với cái tính khí chân thật, nhu mì của Hạ (làm sao không thiện cảm?). Có lúc tôi cảm giác hình như mình có yêu Hạ. Mà nếu chưa yêu, tôi tin, với thời gian, chắc chắn mình sẽ yêu. Phải; Hạ là một phụ nữ đáng yêu. Trước tôi, Hạ không thiếu đàn ông ngấp nghé. Tôi tin mình đã yêu hoặc (tệ lắm thì cũng) sẽ yêu…

Hạ thì yêu tôi, chắc chắn yêu. Yêu một người đàn ông không yêu mình. Từ chối tình yêu của những người đàn ông khác để đi yêu một người đàn ông không yêu mình, đó là sự đùa cợt tàn nhẫn của số phận; là bi kịch ( có thể lớn nhất) của đời Hạ. Có phải Hạ không nhận ra sự lừng khừng, không nhiệt thành, cháy bỏng của tôi trong những khoảnh khắc yêu đương? Có phải Hạ không nhận ra chuyện tôi thích ở ngoài đường hơn ở nhà, thích tà tụ nhậu nhẹt, cà phê cà pháo cùng bạn bè hơn không khí riêng tư chồng vợ? Và còn nữa; có phải Hạ không nhận ra chuyện tôi thích sang nhà chị Hiền, thích chuyện trò, tâm sự với chị Hiền. Bóng điện chị Hiền cháy, vòi nước chị Hiền chảy, cửa sổ chị Hiền long đinh tôi đều tức tốc xắng xở sửa sang; trong khi cũng chuyện tương tự ở nhà tôi cứ ừ ừ cho qua? Có thể Hạ không biết; bởi mù quáng vì yêu. Mà cũng có thể Hạ biết; nhưng cố chịu đựng vì yêu. Vì khí chất cả tin, nhường nhịn, vị tha. Vì tin rằng tình yêu đích thực là cho; tin rằng sự hi sinh, nhu thuận, chìu chồng mọi nhẽ sẽ có ngày cảm hóa, đánh thức được tình yêu trong tôi.

Giả thuyết nào thì cũng khẳng định một điều: Hạ yêu tôi, rất yêu!

Tôi đã mắc lỗi nhiều với Hạ khi tôi không yêu Hạ, không thể nào yêu Hạ, bất kể những nỗ lực tận tụy của Hạ để làm một người vợ hiền (tôi đã cố; nhưng không thể!). Càng có lỗi hơn khi tôi đã – vì những dục vọng của riêng mình – mà cướp trắng đi của Hạ cơ hội gặp một người đàn ông tốt. Tất cả đều đã muộn, quá muộn, cho dù tôi không cố ý. Nhưng ngộ sát không phải không có tội. Nhẹ hơn; nhưng hậu quả thực sự của hành vi vẫn là chết người!

Có lần Hạ bảo: anh là tình đầu của em. Trước anh, em chưa yêu ai. Thực sự chưa yêu…. Tôi tin lời Hạ. Một niềm tin đầy ám ảnh. Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy/ Nghìn năm chưa dễ có ai quên…. Trời đất, sao lại là tôi. Sao không là một người đàn ông khác mà lại là tôi? Tội nghiệp Hạ và tội nghiệp tôi. Sao tình đầu của tôi không là… Hạ? Dưới gầm trời này, liệu tìm đâu ra người phụ nữ thứ hai tốt như Hạ? Tình yêu của tôi, sao nó không làm ơn biết nghe lời lí trí, song hành cùng những tư duy phải đạo của lí trí? Tôi không yêu Hạ. Giờ thì tôi biết: tôi lấy Hạ không vì yêu Hạ. Tôi yêu cái phố núi đầy sương…

Mà “tình đầu của tôi” ư? Hình như tôi chưa bao giờ bảo với Hạ rằng: trước Hạ, tôi chưa từng có người yêu; thực sự chưa!

…Tôi nhớ đến đám cưới chị Hiền. Ngày cưới chị, tôi cáo bận, không đi dự. Chị giận tôi lắm; giận đến mức không nhìn mặt! Nhưng thời gian là thần dược; rồi cũng đến lúc nguôi ngoai. Với lại, thân thiết đến chừng ấy thì đâu dễ một sớm một chiều bỏ nhau? Chị lo lắng khi thấy tôi cứ lông bông. Chị bảo: giận thì giận mà thương thì thương. Và Hạ đến. Hạ như chiếc phao cứu sinh cả cho chị Hiền, cả cho tôi. Và mai mối. Và cưới…

Ngày cưới tôi chị Hiền vui vẻ lắm. không hề “tính sổ” chuyện tôi trốn lúc trước, chị xăn tay áo lo toan cho tôi từ A tới Z. Anh Tân, chồng chị, cũng mừng. Anh yêu chị. Chị vui thì anh cũng vui. Phải; chị Hiền vui khi nỗ lực mai mối thành công; khi có thêm ông hàng xóm là tôi, em họ, lại đồng hương! Anh Tân chân chất thật thà. Với anh, vợ là tất cả vợ ơi vợ ơi; và để vợ vui, việc gì vợ thích là anh chìu…

Tôi sẽ từ bỏ phố núi. Tôi biết mình sẽ/ phải từ bỏ phố núi. Phố đầy ắp trong tôi kỉ niệm. Những con dốc mờ trong sương chiều, chìm trong sương sớm. Quán cà phê mộc dặt dìu nhạc Trịnh, loãng tan từng làn khói xám, đêm bập bùng thả trôi từng làn điệu guitar cứa buốt hồn! Thực lòng với Hạ tôi chỉ thương, không yêu; nhưng phố núi thì tôi yêu. Tôi phải lòng phố núi. Tôi…

Từ lúc nào nhỉ? Từ ngày đầu tôi đặt chân đến: phố buồn heo hút, lơ thơ hàng quán, vắng người lại qua? Không; là từ ngày Hiền về đây. Từ ngày có dáng Hiền thấp thoáng ngược xuôi trên những con dốc dài; tóc Hiền xõa, áo Hiền bay, giày Hiền gõ trên những con đường từ nhà dẫn đến trường, đến chợ, đến quán cà phê, đến…. Anh Tân bảo: mình yêu Hiền lắm; yêu hơn cả bản thân mình. Mất Hiền, chắc mình chỉ có chết…. Hạ cười cay đắng: đời em cũng lắm lúc thử hình dung cảnh cùng đường, rơi vào những thân phận bi đát nhất, kể cả… làm đĩ kiếm cơm! Nhưng có giàu tưởng tượng đến mấy em cũng chưa bao giờ hình dung đến cảnh mình là… hình nhân thế mạng! Tiếng cười của Hạ nghe thật rợn! Chị Hiền, không, Hiền, bảo: mày thật là đồ chẳng ra gì. Nói xong Hiền khóc! Đúng, tôi thật là đồ chẳng ra gì. Và càng chẳng ra gì khi khiến Hiền phải chảy nước mắt! Anh Tân bảo: anh không cho phép bất cứ ai làm Hiền khóc. Đứa nào cả gan làm Hiền khóc, anh sẽ tính sổ với nó! Giọng anh hung tợn lắm. Hiếm khi thấy anh hung tợn. Bình thường anh hiền, rất hiền…

Phố núi mưa.

Tôi ôm guitar gõ bập bùng theo mưa. Mưa rớt ngoài trời. Cà phê rớt trong ly. Và hát. Tôi hát trời còn làm mưa mưa rơi mênh mang từng ngón tay buồn em mang em mang đi về giáo đường rồi đến mưa soi dấu chân em qua cầu theo những cánh rong trôi mang niềm đau. Hết Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng lại đến Ngô Thụy Miên tháng sáu trời mưa trời mưa không dứt. Giờ cũng đang tháng sáu. Lần đầu tiên tôi gặp Hạ cũng một ngày mưa. Mưa tháng sáu. Quán cà phê. Và tấu khúc Over and over. I never dare to reach for the moon. I never thought I came heaven so soon…. Hạ thích Over and over, hát hay lắm. Em không mơ hoang kiếp sống trên cung Hằng, em không tham sang diễm phúc trên thiên đường, làm sao em nói cho hết những tâm tình, ước mơ muôn đời có anh bên mình…. Đó chính là Hạ, thực sự Hạ, tuyên ngôn Hạ, tâm tình Hạ mà tôi không hay biết. Over and over. Hạ đó. Định mệnh. Tiên cảm. Nhạc ám vào người. Anh, anh yêu ơi có những đêm trở lại, hôn, hôn trong mơ thấy xót xa trong hồn. tình trong đôi mắt thuở ấy nay đâu còn, mất anh muôn đời, mất anh thật rồi…. Nhưng dòng nhạc đang sầm sập, tuôn chảy trong tôi, trút nỗi niềm vào những cú vuốt, barre, giằng, quạt túa vung, nghiêng ngả thanh âm. Của Hạ? Không; là dòng nhạc của Hiền, cho Hiền…

Hiền thích mưa.

Tôi nhớ mình đã dựng xe, lảo đảo bước tới cổng nhà mà gọi Hiền. Tôi muốn mời Hiền, muốn uống cùng Hiền một li cà phê trong mưa, muốn hát cho Hiền nghe. Lần cuối. Mai tôi rời phố núi. Vĩnh viễn rời xa. Tôi lảo đảo vịn trụ cổng nhà Hiền mà gọi, Hiền ơi, chị Hiền…

Không; lạy trời đừng là anh Tân. Sẽ rất buồn nếu anh Tân ra mở cổng. Anh Tân tốt bụng, nhưng tôi không gọi anh. Tôi gọi Hiền, chị Hiền! Anh Tân thật. Trời, cậu Thục, uống đâu say mèm đít dữ. Khuya rồi; về nghỉ đi. Hay tôi đưa cậu về. Không, em không về đâu. Chị Hiền…. Để tôi đưa cậu về. Không, đừng lôi em. Em muốn gặp chị Hiền…

Anh vào nhà đi; để cậu ấy cho em…. Anh Tân ngần ngừ. Nghe em, vào đi! Âm sắc mệnh lệnh. Anh Tân thở đánh thượt, vừa đi vừa lầm bầm trong cổ họng. Xin lỗi anh Tân nhé; nhưng mai em đi rồi…

– Hiền, chị Hiền…

– Cậu Thục, cậu hư quá thể! Tôi đã nhắc…

– Chị Hiền, chị đừng mắng. Mai em đi rồi…

– Đi đâu?

– Em đi xa, rất xa. Vĩnh biệt phố núi, không về nữa. Không về…

– Cậu…?

– Hiền, mai… tôi đi rồi, Thục đi rồi, không gặp lại Hiền nữa, Hiền có…

Bất ngờ, Hiền choàng ôm lấy tôi. Ôm chặt!

Tôi lịm người, mê đi trong tiếng thở gấp gáp của Hiền, trong mùi thịt da của Hiền. cái mùi thịt da hằng bao nhiêu năm ám ảnh hồn tôi, nhận chìm tôi trong những cơn ác mộng khùng điên mà tôi chưa bao giờ dám hé răng cùng ai – dù chỉ là một chi tiết nhỏ! Khoảnh khắc đầu đời tôi nếm trải hương vị sở hữu trong vòng tay thực sự một tình yêu. Cái một tình yêu mà tôi; không, chúng tôi; chưa bao giờ dám đối diện…

Mà thực sự cũng không thể nào đối diện!

Chỉ có bóng đêm, bao dung và đồng lõa, mới giúp con người thêm can đảm, thêm liều mạng, để sống thực với chính mình, dù chỉ một phút, một giây! Hiền đang ngửa mặt; gương mặt nhập nhòa, hư thực trong đêm đen. Không hề gì. Gương mặt của Hiền, cánh mũi thẳng, làn môi cong trẻ thơ và đôi mắt lá răm của Hiền, dù bị mù một trăm năm tôi vẫn có thể hình dung rành rành như đang trước mặt! Hiền đang ngửa mặt, nhưng không nhìn tôi. Hiền đang nhắm mắt. Không, khép mắt. Mắt khép và đôi môi thì hé mở. Bản năng tự nhiên, tôi cúi xuống…

Nhưng tôi dừng.

Tôi vừa thấy mẹ tôi. Tôi vừa thấy hai bác bố mẹ Hiền. Tôi thấy anh Tân. Và Hạ.

Nụ hôn chệch đường, phớt qua trên má. Nhẹ nhàng gỡ tay Hiền, tôi quay đầu lảo đảo bỏ đi. Sau lưng, tôi biết Hiền đang khóc. Không ngoảnh lại tôi vẫn biết Hiền khóc. Cứ khóc đi em, Hiền, chị Hiền. Dại dột nào cũng sẽ qua. Mù lòa nào cũng sẽ qua. Sau cơn quị ngã, nếu mà chưa chết, dù muốn dù không, con người cũng sẽ vẫn phải thu hết sức tàn mà gượng dậy, mà góp nhặt những gì còn có thể, và tiếp tục cuộc hành trình…

Tôi nghĩ đến Hạ.

Không; anh không nghĩ mọi sự đã quá muộn màng đâu Hạ. Mà nếu muộn; thì một niềm tin, dẫu muộn, vẫn còn hơn không! Nhưng giờ thì anh phải ra đi, vĩnh biệt phố núi mù sương, tình đầu của anh….

Lại mưa. Mưa chảy tràn, ướt đẫm mặt tôi. Nước mưa mặn đắng.

PI-A-MƠ KHÔNG CHỈ NỞ TRÊN TRIỀN NÚI

 

(Tác phẩm đạt giải Nhì cuộc thi “Viết từ trái tim” lần 1 do Waka tổ chức)

Đặng Nguyên Sơn

“Cuộc sống của tôi vốn dĩ đã vô vị khi đến nơi rừng rú càng nhạt nhẽo hơn. Tôi dành thời gian rảnh cho những việc ngu ngốc. Ví như ngồi thừ ở chõng tre giữa sân cả tiếng đồng hồ chỉ để dõi theo một chiếc lá vàng cho đến khi nó rơi, ngắm những con ong thợ vờn trên những nhành hoa lan hút mật,… Tôi như một gã mất trí chẳng thiết gì. Không ai dám làm phiền tôi. Bởi, tôi là con của Chỉ huy trưởng. Vậy mà, tôi lại bị điều lên đây. Nơi rừng thiêng nước độc, vùng đất từng gánh chịu hậu quả chất da cam nặng nề. Khốn thân tôi quá. Đố ai tin. Nhưng tôi thề, tất cả là sự thật.”

Dũng ngồi ở ghế salon hai tay thỏng, mặt cúi gầm và nước mắt lã chã rơi. Mẹ Dũng không ngớt lời van xin nhưng cha Dũng gạt đi: “Phải đi thực tế cho biết mùi cực khổ, sướng quá hư thân”. Mẹ Dũng than: “Nhưng mà ông ơi, cái mảnh đất đó…” Cha Dũng cắt ngang: “Con người ta sống được, con mình sống được. Cứ như bà, lấy ai lên vùng cao biên giới, lấy ai tới nơi đầu sóng ngọn gió”. Mẹ Dũng nén tiếng thở dài bất lực, quay lại nhìn cậu con trai hai mươi tuổi mặt búng ra sữa, nước mắt tuôn ròng. Bà đành ngậm ngùi an ủi Dũng: “Đi nghĩa vụ năm hai năm rồi về coi như tu nghiệp con à”. Không thể phản kháng, Dũng buộc phải nhận nhiệm vụ và lên đường. Từ nhỏ đến giờ vẫn thế, cuộc sống của Dũng luôn được người cha vẽ ra, sắp sẵn, không có quyền làm bất cứ điều gì mình thích. Dũng chẳng khác nào một con chim quý đắt tiền được cha anh nuôi trong chiếc lồng bằng vàng. Chỉ cần ra khỏi “lồng” là Dũng bay nhảy quên đường về. Dũng muốn trở thành họa sĩ, anh có thể vẽ bất cứ thứ gì. Khao khát được thi vào trường đúng năng khiếu nhưng cha buộc anh phải thi đại học quân sự. Nghĩ đến chiếc “lồng” được thắt chặt hơn với những phép tắc, “kỉ luật thép” của quân đội Dũng ớn như ăn chè nếp.

Nhận được kết quả thi đại học của Dũng, cha Dũng ngồi yên như tượng, mặt lạnh như tiền ở phòng khách. Mẹ Dũng kéo anh lại nói nhỏ: “Cha đã biết con cố ý làm bài thật tệ để không đủ điểm sàn vào Học viện Biên phòng”. Từ đó trong mắt ông, Dũng là cậu con trai vô kham bất trị. Mẹ Dũng hiểu, thương Dũng bà chỉ biết khóc. Như hôm nay, chiếc xe Uoát chở anh đi ra khỏi cổng từ lâu, mẹ anh vẫn đứng dõi theo, mắt nhòe lệ.

Ông tài xế mở lặp lại bài hát về Đồn Biên phòng trên suốt dọc đường đi. Dũng nghe đến thuộc: “Đồn Biên phòng ở lưng chừng dốc… hớ hớ…núi, nắng lên cao vẫn chưa tan màn sương chắn lối về bản…” Đồn Biên phòng ở sát biên giới là nơi Dũng phải đến thực hiện nhiệm vụ. Đi xe ô tô, từ nhà Dũng đến Đồn mất nửa ngày đường. Xe đang rẽ vào con đường ngoằn nghoèo lởm chởm đá, giữa hun hút núi rừng. Dũng chưa bao giờ say xe, không hiểu sao hôm nay thấy người mệt lả, buồn nôn. Dũng chỉ kịp hét lớn: “Dừng lại!”. Anh vội xuống xe chạy sang mép đường. Tất cả những thức ăn có sẵn trong bụng đều tuôn ra ngoài.

Bầu trời hôm nay ức muốn phát điên vì không mưa được. Cái nắng gắt gao cộng mùi cháy khét làm Dũng khó thở. Trước mặt Dũng không có lấy một lùm cây bụi cỏ xanh tươi. Lửa đang liếm những cọng lá héo quắt còn sót lại dưới chân anh. “Cái quái gì thế này? Trời đất ơi, tôi đang đứng ở cánh rừng chết!” – Dũng gào lên. Ông tài xế cầm chai nước lọc, khăn lạnh đến đưa cho Dũng và nói: “Bây giờ đang là mùa khô, đồng bào ở đây họ đoán thời tiết giỏi lắm, đốt rẫy thế này có nghĩa là trời sắp mưa. Nhìn vậy chứ mưa xuống cỏ bò ra choán cả lối đi cậu Dũng à”. Dũng leo lên xe ngồi, muốn khóc nhưng không khóc được, đồng tử giản ra hết cỡ, vằn lên những tia uất ức:

– Bác thấy cháu có giống cha cháu chút nào không?

– Sao cậu lại hỏi thế?

– Nếu cháu là con ruột của ông thì ông sẽ không hành hạ cháu như thế này.

– Không đâu cậu Dũng, Chỉ huy trưởng chỉ muốn tốt hơn cho cậu thôi. Mọi chuyện rồi sẽ ổn cả.

– Cháu thì chẳng thấy tốt, ổn chút nào. Chắc chắn có uẩn khúc gì đấy mà cháu không biết bác à.

Quang cảnh dọc đường đi khiến Dũng chán nản. Đến nơi, Dũng càng ngao ngán hơn. Ngoài cổng đi vào có một phòng nhỏ dùng làm phòng họp. Phía sau có ba dãy nhà xây, tường vàng sơn đã xỉn màu. Dãy đầu dành cho cán bộ, tiếp theo là chỗ ở của lính và cuối cùng là nơi nấu nướng, ăn uống. Tít đằng sau nữa là khoảng đất dùng để trồng trọt và chăn thả gia súc gia cầm. Nền nhà và sân được nện đầm bằng đất lẫn đá sỏi núi. Những bụi cây quanh đồn đắm mình đất đỏ. Ở đây không có điện, họ phải thắp đèn dầu, phải ăn cơm tối trước năm giờ. Không có nước máy chỉ có một cái giếng tròn to sâu mười mét và lấy nước sinh hoạt bằng cái gàu địu có buộc sợi dây thừng dài. Phương tiện đi lại là chiếc xe Uoát dựng ở mé sân. Phương tiện thông tin là một chiếc đài xài bằng pin con thỏ của Đồn trưởng Chiến. Ai tiến tới chiếc đài ông Chiến cũng dặn với: “Chỉ bấm và nghe thôi chơ không được sờ mó lung tung”. Tất cả nói lên sự thiếu thốn của một vùng đất nghèo khổ.

“Tôi căm thù cha tôi vô cùng, phải ghi lại tất cả tâm trạng tồi tệ của mình vào một cuốn nhật ký. Nếu tôi bỏ xác lại nơi này thật thì cha tôi là người phải hối hận và đau đớn nhất khi đọc nó. Màn đêm ở chốn hoang sơ này buông nhanh kinh khủng. Tôi không ngủ, nằm buồn xo trong căn phòng lạnh ngắt. Bên ngoài gió nổi lên, nghe rõ tiếng lá cây rừng cọ vào nhau xào xạc. Những rặng nứa, vầu sau đồn nép vào nhau lượn theo chiều gió kêu ẻo ẹt…Lâu lâu có tiếng chim lạ rừng bên vọng tới. Tiếng chim than nghe ai oán não nùng:“Con còn côi cột, con còn côi cột,…”. Tôi trùm chăn kín đầu nhưng âm thanh chết tiệt đó cứ len lỏi vào tai tôi, quấy giấc ngủ của tôi. Bóng đêm tối om dần trườn vào khoảng không mù mịt. Tiếng gà gáy le te, trời rạng dần. Đêm nay tôi thức trắng, lẽ nào những đêm tiếp theo cũng như vậy? Cổ họng bắt đầu khát khô, toàn thân ê ẩm, mồ hôi tứa ra thành dòng…”

Dũng ốm. Cả đơn vị phát hoảng nhưng thuốc trong tủ đã hết. Đồn trưởng Chiến nghĩ đến Pi-a-mơ. Ông muốn nhờ cô bé dùng thuốc nam chữa bệnh cho Dũng.

Sau khi uống thuốc, nhiệt độ cơ thể Dũng giảm dần, xuất hiện trước đôi mắt nửa tỉnh nửa mê của anh là gương mặt một cô gái xinh đẹp như thiên thần. Chắc chỉ là giấc mơ, Dũng nghĩ vậy và nhắm mắt thiếp đi.

Trời xế chiều, Đồn trưởng Chiến lay nhẹ vai Dũng bảo, dậy ăn cháo rồi uống thuốc. Dũng ngồi dậy cười mỉm. Ông Chiến đùa:

– Chú này lạ nhỉ, ốm mà cũng cười được.

Dũng cảm thấy lạ, ở giữa chốn “khỉ ho cò gáy” này mà anh lại mơ thấy tiên. Một nàng tiên có mái tóc đen dài, cái miệng cười lộ chiếc răng khểnh rất duyên. Nàng có làn da trắng, đôi mắt to, ánh nhìn trong veo. Trên người nàng phát ra mùi hương rất dễ chịu. Nó không nồng đậm như hoa dẻ, không thùy mị tinh khiết như hoa sen, không thơm ngát như hoa sứ,…mùi hương dị biệt. Dũng không biết nàng tiên đó chính là cô bé Pi-a-mơ đã đến thuốc thang cho Dũng từ sáng sớm vừa mới ra về. Còn mùi hương kia phát ra từ loài hoa Pi-a-mơ trên núi. Cho đến khi Dũng nghe Đồn trưởng kể… Dũng vội xuống giường:

– Cháu muốn đi gặp Pi-a-mơ.

– Cũng phải gặp để cảm ơn người ta nhưng chú đang bị ốm, ở nhà ăn cháo, nghỉ ngơi cho khỏe, sáng mai chỉ chỗ cho gặp nhé!

“Nàng bảo, tên của nàng gắn với một loài hoa. Vì sinh ra giữa mùa pi-a-mơ nở nên mẹ lấy tên hoa đặt cho nàng. Hoa pi-a-mơ tượng trưng cho sự chung thủy của người con gái, một khi đã yêu thì dù có chết cũng không thay lòng đổi dạ. Pi-a-mơ phát ra dị hương như dẫn dụ mê hoặc, có thể ru người mất ngủ kinh niên ngon giấc, làm cho người bất hạnh tìm thấy hạnh phúc và người hạnh phúc sẽ được viên mãn. Thân Pi-a-mơ dùng làm kèn Amam gọi bạn tình trong mùa đi sim. Ngày xưa chất độc da cam biến nơi đây thành vùng đất chết. Nhưng pi-a-mơ vẫn vươn lên giữa trời. Thách thức. Bởi vậy thân và rễ của Pi-a-mơ phơi khô nấu uống giúp cơ thể khỏe mạnh phòng chống bệnh tật. Cuộc sống ở đây thật không quá tồi tệ như tôi nghĩ. Ít nhất, tôi cũng đã có một câu chuyện tốt đẹp để kể cho mẹ nghe.”

Pi-a-mơ ngồi trên phiến đá nghiêng đầu xỏa mái tóc dài chấm thắt lưng sang một bên. Tóc như muốn trôi theo dòng suối. Đôi tay thoăn thoắt chắt nước đầy cái mo cau rồi thả những bông hoa pi-a-mơ vào. Pi-a-mơ ngước đôi mắt trong veo nhìn Dũng hỏi:

– Sao bộ đội Dũng biết em ở đây mà tìm?

– Sương giăng chắn lối, anh lần theo tiếng kèn Amam của em đấy. Bản nhạc hay lắm. Mà em đang làm gì vậy?

– Em ướp hương hoa Pi-a-mơ vào nước suối để gội đầu.

– Hay quá nhỉ! Thế hoa khô có giữ được hương không?

– Dạ có, phơi càng đượm nắng càng thơm.

– Mai mốt nghỉ phép anh sẽ mang về tặng mẹ anh loài hoa này, gần đây bà nhọc lòng về anh nhiều nên hay mất ngủ.

– Em sẽ giúp bộ đội Dũng làm quà tặng mẹ nhé?

– Cám ơn cô bé! Đêm qua anh không ngủ được, có con chim lạ đứng trên ngọn vầu réo rắt: “con còn côi cột…” nghe nẫu ruột, tóc gáy dựng cả lên Pi-a-mơ à.

– Đó là chim Pha-triêng, nó gắn liền với một câu chuyện gần như cổ tích.

Pi-a-mơ kể cho Dũng nghe về loài chim có tiếng hót lạ đó:

– Phụ nữ ở bản em đến mùa sinh nở, người chồng sẽ làm cho một ngôi nhà cạnh bờ suối bên trong nhà tết toàn hoa pi-a-mơ khô, rồi vào rừng đốn củi về chất đống cạnh ngôi nhà. Rễ pi-a-mơ cũng được đào lên phơi khô dành sẵn. Khi sinh em bé, người chồng sẽ nhóm lửa rực than hồng, người vợ đi quanh bếp lửa chín vòng rồi xuống suối ngâm mình ướt hết áo quần sau đó lên đi tiếp chín vòng. Làm ba lần như vậy trong một ngày rồi thay áo quần nghỉ ngơi. Ba ngày sau ôm con về bản.

– Thế không ăn uống à? – Dũng hỏi.

– Có chơ, người chồng sẽ lo cơm nước. Nhưng nước phải nấu bằng rễ cây pi-a-mơ. – Pi-a-mơ trả lời.

– Tết nhiều hoa pi-a-mơ trong nhà để làm gì vậy cô bé?

– Hương hoa pi-a-mơ sẽ tẩy đi những uế tạp, tanh tưởi.

Dũng gật gù, chợt nhận ra ở vùng đất hoang vu sơn cước này luôn sở hữu và ẩn chứa những điều thần bí đang dần cuốn hút anh. Pi-a-mơ kể tiếp:

– Duy có nàng Pha-triêng, vì hiếm muộn đường con cái, khi có chửa sợ thú dữ bắt mất con nên chồng nàng làm cho một ngôi nhà trên cây. Nàng sinh con sớm trước một tuần, lúc đó chồng nàng đang lên rẫy. Sau khi sinh con ra, nhìn thấy mặt con, Pha-triêng hét lên rồi tụt xuống cây đi thẳng vào rừng tìm chồng. Vừa đi nàng vừa gọi: “Con còn côi cột,…”. Mãi sau không thấy Pha-triêng về, chỉ thấy có con chim lạ về, đứng trên ngọn cây trước nhà Pha-triêng mà hót: “Con còn côi cột,…” Dân bản bảo vì Pha-triêng nhìn thấy đứa con dị thường nên sợ hãi bỏ đi và biến thành con chim về báo cho chồng biết đứa con của họ vẫn đang còn trên cây. Từ đó loài chim này mang tên Pha-triêng.

Dũng chợt ngây người ra giây lát. Ai chẳng biết vùng đất nở tràn hoa pi-a-mơ xinh đẹp từng chịu ảnh hưởng nặng nề của chất da cam. Cha Dũng. Ông thừa biết cái sự thật thẳng thừng tàn khốc đó. Còn mẹ Dũng. Bà biết tất. Nhưng bà chỉ có thể lặng lẽ giấu đi những giọt nước mắt bất ổn, suy tư.

– Bộ đội Dũng nói về anh cho em nghe đi?

Giọng Pi-a-mơ lảnh lót, làm Dũng giật mình.

– Tôi á, tôi chẳng có gì tốt đẹp để kể. Cuộc sống của tôi chán ngắt. Con chim phải sống trên trời, con cá sống ở dưới nước, nếu hoán đổi vị trí cho nhau sẽ không tồn tại được. Vậy mà cha tôi biến tôi thành con chim, con cá, thả đâu sống đấy không lấy một chút tự do.

– Cha em nói thích nghi thì tồn tại.

– Tồn tại như thế này chi bằng chết quách cho sướng thân. Chẳng hạn làm con chim rơi xuống dòng suối này hoặc làm con cá bay vút lên trên cây. Chết. Là hết. Và tự do.

– Nếu tìm đến cái chết mà chết ngay được đã là sướng nhưng nhỡ chết dở sống dở thì đau lắm.

– Ừ. Chắc đau.

Pi-a-mơ nhìn ngọn suối đang tuôn trào dữ dội, cô bé cười tít mắt:

– Sợ đau như thế sao lại đòi chết! Theo em nào, đi gặp những thiên thần của em, bộ đội Dũng sẽ thấy yêu cuộc sống của mình ngay ấy mà.

“Những đứa trẻ mà nàng gọi là thiên thần đang bị bệnh và ở ngôi nhà cạnh vách núi. Cha mẹ nàng chăm chúng. Những đứa trẻ là con cháu của đồng đội cha nàng và đơn vị tôi đang đỡ đầu cho các em ấy. Dân bản cũng thường xuyên ghé thăm, lúc thì nải chuối, vài quả trứng gà, lúc thì dăm quả bắp non, lon đậu xanh, củ khoai, củ sắn,…Ở dưới xuôi tôi cũng hay chở mẹ mang sữa, bánh kẹo, mì tôm,…cho các em có hoàn cảnh bất hạnh. Tôi tưởng tượng khuôn mặt, hình dáng của lũ trẻ bụ bẫm đáng yêu như nhưng cô bé, cậu bé mà tôi đã từng gặp ở trong các trại trẻ mồ côi ở thành phố. Bỗng thấy lòng rạo rực. Tôi cũng yêu trẻ con lắm, ước gì mình cũng có vài đứa em. Nhưng khổ nỗi khi còn trẻ cha mẹ xa nhau biền biệt đến lúc gần nhau thì mẹ đã qua cái tuổi sinh nở. Tôi nóng lòng, giờ thì đã thấy yêu vùng đất nghèo khó này rồi. Nàng bảo, hái một ít hoa pi-a-mơ xuống làm quà cho bọn trẻ. Những bông hoa pi-a-mơ màu trắng có đốm tím li ti tết lại thành chùm rung rinh reo vui trên tay tôi. Bước vội theo Pi-a-mơ lòng tôi đầy hào hứng. Pi-a-mơ đặt những bông hoa trên những mô đất nhô cao. Như thấu được những điều khó hiểu qua ánh mắt của tôi, nàng nói: “Đây là nhà của những đứa trẻ không chiến thắng nổi bệnh tật.” Khuôn mặt nàng lúc đó như trời không có nắng. Tôi không hỏi gì thêm, theo nàng đến một ngôi nhà nhỏ đìu hiu nép mình dưới chân núi. Ngôi nhà lợp mái tranh bốn vách che bằng ván. Mẹ nàng ra mở cửa. Chợt tôi khựng lại khi nhìn những đứa trẻ bên trong ngôi nhà. Khiếp đảm. Nụ cười tươi như hoa bỗng héo hắt. Bó hoa pi-a-mơ trên tay tôi rơi vô thức xuống đất vung vãi. Tôi thét lên thất thần:“Trời ơi, không phải là người!”. Tôi bỏ chạy như bị ma ám lên triền núi. Băng qua bãi đất trống lồi lõm, xuyên qua những ngôi mộ lúp xúp,…Tôi khụy xuống giữa rừng pi-a-mơ. Toàn bộ sức lực dồn vào những hơi thở dốc. Gần như kiệt sức không thể lê bước thêm nữa. Tôi gục xuống và nằm quằn quại trên mô đất in bóng núi rồi từ từ ngửa mình duỗi thẳng chân tay. Bầu trời hôm nay như được chống lên cao xanh vút, sao tôi thấy u ám kì dị. Hơi nóng hầm hập trong người bốc lên ngùn ngụt, tôi run bần bật. Hình ảnh những đứa trẻ nằm ngồi co quắp, da nhăn nheo như bà già chín mươi tuổi, những cái đầu to hơn thân hình, những bàn tay tròn lẵn không có ngón, những bàn chân thừa ngón phủ đầy lông, con mắt lồi ra choán hết cả mặt, cái miệng không cười cũng như cười, toác ra kiểu hàm ếch, thân hình như bộ xương phơi khô dưới nắng khát. Ủ dột. Thui chột. Tất cả đang bủa vây hiếp đáp giác quan tôi một cách trắng trợn. Sự sợ hãi đang len lỏi vào máu, rối rắm. Tôi với tay kéo hoa pi-a-mơ phủ lên mặt. Hương hoa ru tôi vào giấc ngủ. Chợp chờn. Ma mị.”

Lính đi tuần ca năm giờ chiều phát hiện Dũng đang nằm bất tĩnh nên đưa về đồn. Các giác quan ướp hương pi-a-mơ ngủ quên chợt bị đánh thức khiến toàn thân Dũng run cầm cập. Mặt tái mét. Mồ hôi tuôn ra đầm đìa và nói như mê sảng. Chẳng ai hiểu Dũng nói gì. Đồn trưởng hốt hoảng, đúng lúc đơn vị nhận được thuốc cấp. Nhưng uống thuốc hạ sốt mấy tiếng sau, nhiệt độ cơ thể Dũng chẳng giảm chút nào. Toàn thân anh tím dắt, co giật liên tục, tiếng rên hư hử kéo dài và không ngừng đổ mồ hôi hột. Ông Chiến đích thân đến nhà Pi-a-mơ tìm nhưng không có cô bé ở nhà, ông liền tìm đến ngôi nhà bên vách núi.

Ông Chiến, Pi-a-mơ cùng mẹ về đến đồn. Ông Chiến ra lệnh tất cả giữ bình tĩnh. Mẹ Pi-a-mơ bắt mạch cho Dũng rồi bảo, Dũng ốm nặng lắm phải dùng biệt dược trị liệu ngay, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng loài thuốc này ở tận rừng sâu. Bà thở dài. Pi-a-mơ xin phép được đích thân vào rừng lấy thuốc. Ông Chiến nhét vội vào tay Pi-a-mơ chiếc đèn xài bằng pin con ó. Cả đội vệ binh hộ tống Pi-a-mơ vào rừng.

Đêm nay con chim Pha-triêng lại về đứng trên ngọn nứa ở sau hè réo lên liên hồi. Tiếng kêu man dại như gọi hồn ai. Liệu con ma rừng có bắt Dũng đi mất không? Mẹ Pi-a-mơ thở ra tê tái. Đến tận khuya Pi-a-mơ mới mang thuốc về. Mẹ Pi-a-mơ tự tay thái lá thuốc, nghiền nát, vắt nước vào chén rồi bón cho Dũng. Nhìn tư thế nằm èo uột, thở thoi thóp thiếu sức sống của Dũng, ai cũng lo lắng. Mẹ Pi-a-mơ chốt lại một câu: “Nếu sáng mai bộ đội Dũng không tĩnh lại thì đưa gấp về xuôi để cha mẹ cậu ấy gặp mặt con lần cuối.”

“Không hiểu sao tôi thích quấn quýt bên nàng. Có thể vì nàng đẹp hay nàng đã không quản nguy hiểm vào rừng sâu lấy thuốc cứu tôi thoát khỏi lưỡi hái tử thần? Tôi biết giữa tôi và nàng không thể tiến xa hơn. Chúng tôi không cùng chí hướng. Nàng yêu những đứa trẻ tật nguyền còn tôi nhìn chúng là sợ đến hồn xiêu phách lạc. Tôi thích sống ở chốn đô thành còn nàng thì bảo: “Pi-a-mơ chỉ có thể nở trên triền núi”. Đồn trưởng Chiến khuyên tôi, đừng đùa với tình yêu, đau đấy! Giá mà ai cũng biết trước “đau tình” như thế nào thì đã không tốn nước mắt cho chàng Romeo và nàng Julyet. Đúng không? Cũng như cái tên Pi-a-mơ khắc sâu vào tim, tan chảy trong huyết mạch của tôi lúc nào chẳng hay vậy. Hễ ai nhắc đến tên nàng là tôi lại kể về nàng với tất cả niềm say sưa không biết chán. Thú thực nàng rất đẹp, minh tinh màn bạc hay hoa hậu cũng chỉ có thể đẹp đến thế thôi. Biết tôi khoái Pi-a-mơ nên lúc tổ chức giao lưu văn nghệ giữa đơn vị và bản, anh em ghép tôi và nàng một cặp. Đan lấy tay nàng và nhảy sạp theo điệu nhạc truyền thống được xướng bằng miệng của những chàng trai cô gái: Son son son đô son, son son son đô rê,… Tôi thấy như có luồng điện chạy rần rần từ tay vào tim rồi phừng lên mặt nóng ran. Nàng cũng nhìn tôi mắt lúng liếng e thẹn. Cảm giác đó thật lạ, tôi không giải thích bằng lời hay tôi đã thích nàng mất rồi. Chẳng lẽ…? Ôi không! Điều đó là không thể xảy ra, nhất là với nàng. Tôi cố xua hình ảnh của nàng ra khỏi đầu bằng cách chạy ào ra sân và leo lên ngồi chễm chệ trên chõng tre giữa các đồng chí của mình. Các đồng chí thân yêu của tôi ấy, cứ thấy mặt là bắt tôi kể chuyện. Họ bảo tôi có khiếu nói chuyện trước công chúng. Chắc họ động viên thôi chứ tôi biết mình kể đâu có hay. Mà ở chốn rừng sâu này tìm ra được cái trò gì đó để tiêu khiển là tốt lắm rồi. Cứ khen nhau vài tiếng có mất gì đâu. Tôi vui mà họ cũng vui. Những câu chuyện tôi biết về nơi này, đều tìm hiểu từ nàng. Hôm nay tôi kể về tục đi sim: “Đó là một tập tục lâu đời của bản, diễn ra vào mùa trăng, nhất là những đêm trăng sáng, thời điểm lý tưởng cho những chàng trai cô gái trông ngóng đợi chờ để trao lời yêu thương. Chàng trai đứng ở sau hè và thổi chiếc kèn Amam nếu cô gái đồng ý sẽ ra khỏi nhà cùng chàng, họ sẽ hẹn hò bên cánh rừng, con suối… Và nếu phải lòng nhau họ có thể ngủ lại với nhau tại những ngôi nhà trên rẫy. Chàng trai sẽ trao cho cô gái mà mình yêu thương một chiếc vòng bạc để ngõ lời yêu. Đêm trăng chứng giám cho tình yêu bền vững, xanh mãi như ngọn núi cánh rừng, chảy mãi như con suối con sông.”

Bây giờ đang là mùa trăng, tiếng kèn Amam như thôi miên mênh mang trên núi. Anh em trong đơn vị rủ tôi trốn Đồn trưởng Chiến ra ngoài. Tôi chẳng biết thổi kèn, tôi gặp được nàng là nhờ các anh ấy sắp xếp cho. Tôi nghĩ, nằm chèo queo ở nhà một mình chỉ tổ cho buồn gặm nhấm, chi bằng đi gặp nàng vui vẻ và biết đâu lại cóp nhặt được mẩu chuyện gì đó hay hay.

Dưới trăng thanh gió mát, giữa rừng rú ngút ngàn, nàng thật rạng ngời trong trang phục áo váy truyền thống bằng thổ cẩm màu mận chín đính viền đăng-ten màu đen. Nàng tập cho tôi thổi kèn Amam. Rồi nàng hát: “Em ở chòi bên này chưa ngủ đợi anh/ Muốn thổi kèn Amam nhưng lại thiếu một người/ Kèn Amam không thổi một người/ Em biết thương ai bây giờ ngoài anh.” Tôi biết nàng cố ý bật đèn xanh. Phá tan không khí ngượng ngùng, tôi đánh trống lãng: “Sao kèn Amam lại làm bằng gỗ Pi-a-mơ mà không phải loại gỗ khác?” Mắt nàng cụp xuống nhưng vẫn ngoan ngoãn trả lời: “Gỗ gì mà chẳng được nhưng tiếng kèn từ thân cây Pi-a-mơ là hay nhất.” Thời gian trườn về đêm, thời khắc tuyệt vời cho những lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau. Chúng tôi ngồi cạnh nhau lặng nghe gió vờn lá… Và nàng kể về những đứa trẻ, mỗi khi cảm nhận được cơn đau hành hạ thân xác chúng, nàng khóc, chúng cũng sụt sùi, đưa bàn tay tật nguyền lau nước mắt cho nàng. Nàng nói, nếu tôi đặt mình vào hoàn cảnh của các em một lần thôi, tôi sẽ đồng cảm với các em và thấy mình vô cùng may mắn. Nước mắt hoen mi nàng. Nàng đang khóc, khóc không thành tiếng, nhẹ nhàng giản đơn như giọt sương đêm neo trên triền lá. Khi ánh trăng chênh chếch sau ngọn núi, tôi đưa nàng về. Tôi nắm tay nàng trên dọc đường đi và hôn nhẹ má nàng khi về đến cổng.

Những lời nói của nàng làm tôi thao thức suốt đêm, tôi không dám tưởng tượng nếu một ngày mình mất đi đôi chân, tự mình làm mọi việc bằng cách lê lết trên sàn một cách khó khăn như các em ấy. Có lẽ vì suy nghĩ như vậy nên tôi muốn được cùng nàng hái hoa pi-a-mơ đến thăm các em. Cầm được những cành pi-a-mơ chúng vui ra mặt, gật gật cái đầu như muốn nói lời cảm ơn. Dần dà, những dị tật trên người các em không làm tôi sợ hãi nữa. Tôi đùa cùng chúng, cù léc cho chúng cười lăn nghiêng ngã trên sàn nhà. Chúng thiệt thòi so với những đứa trẻ dưới xuôi nhiều quá. Ngay đến đồ chơi cũng chỉ là những cành hoa pi-a-mơ. Trái tim tôi bỗng dưng trĩu nặng, lòng hoang lạnh và tôi hiểu vì sao nàng lại yêu các em ấy nhiều đến thế!

Đồn trưởng Chiến biết chuyện Dũng đi sim cùng Pi-a-mơ. Nhân chuyến về xuôi báo cáo tình hình của đơn vị, cha Dũng mời Đồn trưởng Chiến về nhà dùng cơm. Thái độ lưỡng lự hằn rõ lên khuôn mặt của Đồn trưởng Chiến khiến ánh mắt của cha mẹ Dũng thắc thỏm dõi theo. Thả cái hơi thở đang bị dồn nén, Đồn trưởng Chiến cất lên cái giọng trầm khàn và tâm sự về chuyện của Dũng.

Cha mẹ Dũng nghe xong điếng người, không dám tin vào tai mình. Tự nhiên họ có ác cảm với cô gái tên Pi-a-mơ và dị ứng với loài hoa phát ra mùi hương dị biệt Dũng mang về. Mùi hương mà ai đến nhà cũng thích ngửi, tò mò hỏi, rồi tấm tắc khen. Khuôn mặt cha mẹ Dũng chợt biến sắc, cảm giác hoang mang khủng khiếp.

Thấu được lo lắng của cha mẹ Dũng, sáng hôm sau, Đồn trưởng Chiến gọi Dũng lên phòng gặp riêng và bảo:

– Chú hãy chuẩn bị chuyển công tác về tỉnh, đã có quyết định của cấp trên.

– Cháu muốn ở lại đây thêm một thời gian nữa, bác nói với cha giúp cháu một tiếng.

– Chú Dũng, chắc chú đã hiểu lý do. Cái gì mới cũng dễ dứt!

– Pi-a-mơ là cô gái thuần khiết, cô ấy khiến cháu muốn sống bác à.

– Tôi hiểu nhưng Pi-a-mơ là người đồng bào còn chú là con của Chỉ huy trưởng, không khéo lại làm khổ người ta.

– Pi-a-mơ nói với cháu, cha cô bé người kinh là bác sĩ quân y, còn mẹ là thầy lang của bản. Bản thân cô bé cũng đã tốt nghiệp phổ thông ở thành phố.

– Có điều, cha Pi-a-mơ đến đây khi nơi này còn là vùng đất chết. Chú không thấy những cô gái ở bản mười lăm, mười sáu tuổi đã có con bồng con bế nhưng Pi-a-mơ vẫn là người lẻ bóng.

– Pi-a-mơ vừa tròn mười tám mà bác?

– Cô bé không có điểm nào đáng chê, chỉ sợ ảnh hưởng đường con cái.

– Cháu tin sự sống đã hồi sinh. Cháu cũng đã hỏi những người từng đến đây, lúc về họ vẫn lấy vợ sinh con, con cái họ khỏe mạnh chẳng sứt mẻ tí nào.

– Đôi khi hạnh phúc mỉm cười với người này nhưng lại rơi lệ với người kia. Thôi, không phải nói nhiều. Về đi chú Dũng! Thời gian như vậy là quá đủ, đủ cho chú và cho cả sự áy náy của cha chú với những người lính dưới trướng của ông. Cớ chi một đóa hoa rừng…

Dũng vẫn điềm tĩnh, cố dùng mọi lời lẽ để ông Chiến hiểu tâm trạng bất đắc dĩ của cậu và hy vọng có một tình huống bất ngờ trì hoãn việc chuyển công tác về xuôi. Ông Chiến lờ đi và ngồi yên vờ như đang ngập đầu trong công việc. Không muốn câu chuyện thêm dài dòng, ông dong bàn tay phải lên cao và nói, về đi!

Buổi chiều hôm đó, tiếng kèn Amam dập dờn da diết từ môi Pi-a-mơ như vấn vít đôi bàn chân khiến Dũng không đành lòng quay bước. Dũng chạy vội ôm chầm lấy Pi-a-mơ từ phía sau. Tiếng kèn ngưng bặt. Dũng thì thầm:

– Theo anh về xuôi được không Pi-a-mơ? Anh yêu em nhiều lắm Pi-a-mơ à.

– Em biết, nhưng… – Pi-a-mơ bỏ lửng câu nói, nước mắt lưng tròng.

Nắng quái chia nửa tấm lưng nhỏ nhắn của Pi-a-mơ đang rảo bước về phía núi. Nơi ngôi nhà nhỏ với những đứa trẻ mà Pi-a-mơ gọi là “thiên thần”.

“Cái giây phút lặng nhìn nàng từ phía sau trên đồi pi-a-mơ đến nay đã tròn một năm. Thời gian đó với tôi sao vươn ra miên man bất tận. Dù không ít lần đã cố quên nàng, vậy mà càng cố quên lại càng nhớ. Tôi muốn quay lại vùng cao tìm nàng nhưng cha kiểm soát gắt gao quá, không cho tôi lấy một cơ hội. Ngoài giờ đến đơn vị, tôi biết làm gì ngoài việc đóng kín cửa phòng của mình và chăm chút cho bức tranh vẽ về khoảnh khắc nàng đứng thổi kèn Amam giữa rừng pi-a-mơ đang độ tỏa sắc. Ngày nào, cha mẹ cũng nhồi nhét vào tai tôi những câu chuyện khủng khiếp do họ tưởng tượng, thêu dệt về kết quả tình yêu giữa tôi và nàng. Dù vậy, tôi vẫn không tài nào xóa tên nàng trong mớ ký ức trôi. Trời ơi! Nỗi nhớ lại dày vò tôi nữa rồi. Tôi nhớ nàng, nhớ bản, nhớ hương thơm và vẻ đẹp kỳ diệu của hoa pi-a-mơ, nhớ những lúc đau ốm Đồn trưởng Chiến và anh em đơn vị thương yêu chăm sóc, những bữa cơm chiều vội vàng sợ trời tối không nhìn thấy thức ăn để gắp, những nhiệm vụ hàng ngày phải hoàn thành để bảo vệ bình yên cho tổ quốc. Và những đứa trẻ, tôi thương chúng đến nát lòng. Các em ơi, hãy chờ anh nhé! Anh hứa sẽ trở lại, tìm mọi cách xây cho các em một ngôi nhà thật đẹp, đầy đủ đồ chơi,… các em sẽ được hưởng mọi thứ mà những đứa trẻ ở phố đang hưởng. Lạ kỳ chưa! Nước mắt? Tôi có nhờ đâu, tự nhiên vội vã tuôn tràn ướt gối. Tôi nhủ lòng, nín đi! Đàn ông khóc là hèn, là đồ bỏ đi. Đàn ông phải chứng minh bằng hành động. Tôi ngồi phắt dậy và mang sách vở ra ôn thi. Lần này tôi quyết tâm thi bằng được vào Học viện Biên phòng. Ngày tốt nghiệp tôi sẽ tình nguyện trở lại Đồn Cửa khẩu. Lúc đó, tất cả mọi người và nàng sẽ ngạc nhiên về tôi lắm. Tôi sẽ thoát khỏi hình hài của một cậu bé, chín chắn và bản lĩnh hơn rất nhiều. Nhất định thế! Tôi ơi cố lên! Cố lên!”

Tối nay, mẹ Dũng nấu toàn những món hợp khẩu vị của hai cha con. Món cá diêu hồng kho mẻ Dũng thích, món canh khổ qua nhồi thịt lợn băm cha Dũng thích và có thêm món rau muống xào tỏi, các loại quả cắt lát kẹp rau thơm chấm ruốc.

Trước khi cầm đũa cha Dũng bảo, sẽ làm thủ tục trong tháng này để đưa Dũng ra nước ngoài du học. Ông nói qua về ngôi trường nơi Dũng sẽ đến học tập. Mẹ Dũng chen vào: “Ở đó có những cô gái đẹp người đẹp nết, con nhà tử tế.” Ông tiếp lời: “Nhất định con trai mình sẽ tìm được một cô hợp với mình bà nhỉ?” Ông tung bà hứng có vẻ rất ăn ý nhau.

Có lẽ bị chất độc da cam trong quá khứ thao túng khiến mẹ Dũng không thích Pi-a-mơ và ủng hộ Dũng, bảo vệ ý kiến của Dũng như trước đây nhưng dù vậy Dũng nhất quyết không đi du học. Cha Dũng có nặng lời, Dũng vẫn khăng khăng dùng mọi lý lẽ để bảo vệ chính kiến của mình. Cha Dũng phát cáu:

– Anh hãy soi gương và ngắm kỹ lại mình đi. Nhìn con người ta thấy ham, con nhà này thân tàn ma dại. Tôi đã quyết, anh đừng mang lý lẽ cùn ra hòng thay đổi mọi thứ hay con bé Pi-a-mơ bỏ bùa mê thuốc lú, hút linh hồn lẫn xác thịt của anh mất rồi?

– Cha đừng nói Pi-a-mơ như thế, Pi-a-mơ cũng như loài hoa Pi-a-mơ vậy. Kiên cường, bất khuất nhưng rất đỗi dịu dàng. Và những con người ở trên đó, họ sống thật thà chân chất, không hề “diễn”.

– Ơ, cái thằng này! Chưa sống ra hồn được ngày nào, bày đặt lên giọng với đời! Phải rồi, anh muốn thành người rừng xa lánh cuộc sống văn minh chứ gì?

Dũng đang ngồi so vai bỗng kéo ghế đứng dậy. Cha Dũng quát: “Anh định đi đâu?” Dũng thưa: “Con lên phòng, con không thấy đói. Con xin cha từ bây giờ đừng áp đặt cuộc đời của con nữa!” Cha Dũng đôi mắt rực lửa, đập mạnh cái chén lên bàn, đôi đũa văng mỗi nơi một chiếc: “Anh ngồi xuống cho tôi! Tiếp tục bàn chuyện đi du học.” Dũng cố chấp cãi lại: “Con không thích sống ở trời tây, con muốn ở nhà ôn thi và hứa sẽ đậu vào Học viện Biên phòng như cha mong muốn.”

Dũng và cha Dũng tiếp tục cự nhau rất lâu. Mẹ Dũng lên tiếng: “Mẹ báo cho con biết, mẹ rất yêu con nhưng tuyệt đối không chấp nhận Pi-a-mơ là con dâu của mẹ. Giờ hai cha con thôi đi! Trời đánh tránh bữa ăn.” Không ai chịu nghe ai. Cha Dũng càng lúc càng nặng lời. Dũng vẫn cãi tay đôi với cha khiến ông giận run người. Không kiềm chế được, cha Dũng giáng cho anh một bạt tai choáng váng. Lấy lại bình tĩnh, Dũng lẳng lặng quay ngoắt người rảo bước thẳng lên phòng. Không gian trở nên bức bối, căng thẳng. Cuộc khẩu chiến vẫn chưa đến hồi thỏa hiệp.

Cha Dũng đay nghiến: “Cứ cãi nhem nhẻm chẳng coi cha mẹ ra gì. Tại bà chiều nó quá, đâm hư. Thêm vài tuổi nữa, nó coi trời bằng vung”. Mẹ Dũng bật khóc. Cha Dũng lặng đi một lúc rồi chuyển giọng, ngôn từ ấm áp hẳn: “Phải bằng mọi cách đưa thằng Dũng đi du học càng sớm càng tốt bà à. Ở nhà, thể nào nó cũng tìm đến con Pi-a-mơ, rồi thì đẻ ra một lũ nhóc…” Bỗng giọng ông nghẹn lại. Im bặt. Đầy âu lo. Thoắt cái, ông đã rời khỏi chỗ của mình đi ra phòng khách. Bà nhìn mâm cơm nguội lạnh ngao ngán buông đũa, nước mắt rơi xuống bàn nghe rõ từng giọt.

“Có ai ở Đồn Cửa khẩu về là tôi bám theo để hỏi tình hình của nàng. Những câu đáp trả không mảy may chút bất an với nàng. Tôi cay đắng nhận ra trong những câu trả lời đó có bàn tay đạo diễn của cha mình. Hôm nay có người ở đồn về. Anh ấy cũng có hoàn cảnh tương tự như tôi. Tôi cố thuyết phục, lúc đầu anh nói vòng vo nhưng nhìn khuôn mặt buồn rũ rượi đầy ắp tâm sự như thể nàng là tất cả cuộc đời của tôi, cuối cùng anh không đành lòng. Anh bảo, nàng buồn nhìn ghê lắm. Mọi người nói nàng bị ốm vì tương tư tôi. Rồi anh tả về nàng, người nàng gầy đi như que củi, má hóp, mắt thâm quầng, hai xương ức nhô cao… Nàng cứ lủi thủi, lãng tránh mọi người, không buồn ăn uống và chỉ khóc. Lạ lắm, dù đến mùa nhưng pi-a-mơ trên núi vẫn không chịu nở hoa. Dân bản bảo, hoa buồn theo người. Chao ôi! Trái tim đang rỉ máu của tôi như bị bóp muối. Tê dại. Chới với. Nếu mất nàng, mọi vinh quang sau khi du học về có là thá gì trong cuộc sống của tôi. Và những dự định trở lại vùng cao, sự quan tâm đến các em nhỏ mà tôi chưa thể thực hiện! Cảm giác có một sợi dây vô hình nào đó thắt chặt ở cuống phổi khiến tôi không tài nào thở được. Còn các giác quan? Trời ơi! Chúng như bị quấn chặt lấy nhau nằm bại liệt khiến mọi thứ xung quanh tôi bỗng trở nên thừa thải. Tôi rơi vào tuyệt vọng.”

Dũng bỏ nhà đi và để lại một lá thư.

Cha Dũng đọc xong lá thư, ông bàng hoàng đứng lặng. Nghĩ đến cảnh Dũng và Pi-a-mơ đang quấn lấy nhau và sinh ra những đứa trẻ ngoài mong muốn. Nước mắt ông chực ứa ra. Khuôn mặt bỗng tối sầm, nén tiếng thở dài nhưng không giấu được sự đau khổ đang nhói lên nơi tận cùng tâm can. Lặng ngắt. Không gian như bị nén chặt. Mẹ Dũng vội đón lá thư đang rơi tự do xuống sàn. Bất ngờ cha Dũng nắm chặt lấy tay mẹ Dũng, giọng trở nên rời rạc, run run: “Chất độc da cam trong quá khứ đã thực sự ngủ yên chưa hả bà?” Mẹ Dũng ngỡ ngàng, không thốt nên lời. Chỉ có ánh nhìn xuyên vào nhau nghi vấn.

KHUNG CỬA SỔ BÀN SỐ 5

 

(Tác phẩm đạt giải Ba cuộc thi “Viết từ trái tim” lần 1 do Waka tổ chức)

Lê Ngọc Minh

Đan xuất hiện nhiều hơn trong suy nghĩ của tôi, đến tận bây giờ, khi sắp 18 tuổi, tôi mới biết cảm giác bị ám ảnh bởi một người con gái là như thế nào. Cứ rảnh rỗi là hình ảnh nhỏ chờn vờn trong đầu, những lúc ấy có một cảm giác gì dễ chịu xâm chiếm lấy mình mà tôi không thể nào lí giải được. Khi người ta thích một ai đó thì tự nhiên sẽ thấy người ấy ở khắp mọi nơi.

-o0o-

Mùa hè vẫn inh ỏi trên những vòm lá xanh đậm, nhưng mùa học của tôi đã bắt đầu rồi.

Con đường tôi đi học sáng lóa hoa điệp vàng, cả trên tán cây lẫn dưới mặt đất, hoa vàng tạo nên một khung cảnh kì diệu lắm, nhưng tôi không quan tâm, chỉ thấy khó chịu khi mỗi sáng đến trường vừa đi vừa gà gật mà tới đây thì không tài nào ngủ tiếp được nữa. Mới sáng mà con đường nhỏ đã rực như thắp đèn, trông xa cũng giống một dải bắp rang bơ vàng ửng người ta đánh rơi.

Như thường lệ, đi hết con đường hoa điệp vàng, tôi thấy Đan từ bước ra từ cánh cổng màu rêu, lúc mới đi ra khỏi nhà, đầu nhỏ cúi thấp, hai tay nắm chặt vào nhau, đi được một quãng, đến đúng cái khóm cúc Đà Lạt da cam ven đường thì cổ nhỏ mới bắt đầu chuyển động, ngửa lên trời, nhìn sang hai bên, tay cầm dây đeo cặp, tôi thấy đôi vai gầy thi thoảng đưa lên đưa xuống, nhỏ đang cố hít thở không khí trong lành buổi sáng.

Tôi cũng chẳng hiểu tại sao mình làm thế, như theo dõi người ta, mà đúng là đang theo dõi người ta thật. Nếu để bọn bạn biết thói quen đi sau và quan sát Đan như thế này, chắc chắn chúng nó sẽ hùa vào mà trêu tôi, vì chúng nó sẽ nghĩ rằng tôi thích Đan.

Tôi đang lê bước vào năm 12 cuối cấp, nhưng thực lòng mà nói tôi vẫn là một thằng ngờ nghệch, không hơn. Có một điều tôi ngờ ngợ, không rõ là có đúng hay không, nhưng nếu đưa ra câu hỏi chỉ được trả lời đúng hay sai, thì có lẽ đúng thật. Ừ! tôi thích Đan.

***

Nhà tôi cách nhà Đan đúng một con đường, không dài, đủ để tôi từ trạng thái mê ngủ ở đầu đoạn đường đến lúc tỉnh hẳn khi đi đến cuối nó và bắt gặp nhỏ. Tôi học cùng nhỏ từ năm lớp 10. Những ngày đầu, tôi rất sợ một đứa như nhỏ, học giỏi, xinh xắn, lạnh lùng, làm cán bộ lớp, và nhiều người theo đuổi. Với một thằng ham chơi, nhác học, suốt ngày lông nhông trong mấy quán game hay chạy huỳnh huỵch giữa trưa ngoài sân bóng thì nhỏ Đan trong từ điển của tôi được liệt vào danh sách quái vật ngoài hành tinh, hoặc yêu quái, vì tôi mê Tây Du Kí, dù đã lớn rồi, nhưng tôi không bỏ sót tập nào nếu bộ này được chiếu lại, bởi từ phim tôi đã rút ra được nhiều chân lí lắm, đặc biệt là sự thật không phải ai cũng biết: những đứa con gái xinh và giỏi, thì đều là yêu quái. Và tôi biết những đứa như thế thì cũng chẳng bao giờ coi người như tôi ra gì, thôi kệ. Có điều tôi tự thấy khó hiểu, tôi thường hay chế giễu mấy thằng con trai khi cứ mải mê ngắm nhỏ lúc nhỏ học bài, thật là đồ háo sắc, nhưng tôi cũng không thể ngăn mình thi thoảng liếc trộm cái khung cửa sổ nhỏ ngồi, ánh nắng trót lọt, ngoài sân trường tôi cũng đầy những hoa điệp vàng, nhưng so với bên trong khung cửa ấy, thì có vẻ bị kém rạng rỡ hơn. Nhưng dù có thế, tôi vẫn không thích nhỏ, coi như chẳng cùng thế giới cho dễ sống, tôi chưa một lần nói chuyện với Đan.

Nào ngờ lưới trời lồng lộng, tôi không thể thoát, ghét của nào trời trao của nấy. Đầu năm lớp 12, tôi bị chuyển tới ngồi cạnh Đan, một kết cục quá bi đát cho kẻ lười biếng.

Tự tôi giữ khoảng cách với nhỏ, làm như vậy mới mong sống yên ổn. Cũng từ thời điểm đó, Đan có những thay đổi kì lạ, nhỏ trở nên ít nói, không cười, vẻ mặt lạnh lùng sẵn có càng lạnh như băng, đôi mắt rất sáng giờ luôn trễ xuống ở khóe mi, không biết có chuyện gì xảy ra, hay nhỏ muốn tập trung học cho năm cuối cấp. Nhiều lúc tôi tự đập vào đầu mình, rõ ràng tôi không ưa nhỏ, nhưng sao vẫn cứ quan sát, để ý nhỏ như vậy.

Lại nói về mình, tôi không phải là một thằng nhận thức kém, nói đúng ra là khá thông minh, nhưng tôi lười quá, và đã lười thì có muôn vàn lý do để ngụy biện cho cái sự học hành chểnh mảng. Đến tận lớp 12 rồi, tôi vẫn chưa có định hướng nào cụ thể, vẫn như một quả trứng được bố mẹ bao bọc. Tôi cũng muốn kiếm cho mình một cái đam mê, một con đường để tự lập, nhưng bố mẹ ngày nào cũng rót vào tai tôi mấy câu kiểu:

– Học mau ra rồi về nhà bán hàng với bố mẹ, dễ kiếm tiền.

Tôi chán, nhưng cũng mặc kệ, đứng giữa bao nhiêu ngả đường của tuổi trẻ, tôi chọn con đường buông xuôi, có thể nói, tôi là một thằng hèn, vì khi ấy tôi chưa biết suy nghĩ như một người trưởng thành. Có lẽ trong đời ai cũng từng một lần như thế, quan trọng là có biết thức tỉnh hay không.

Lớp tôi gồm những thành phần đa số là thích chơi hơn học, đến năm nay thì có vẻ tinh thần thi cử cuối cấp đã ngấm vào đầu chúng nó, ai cũng lo lắng chú tâm mà học để ra trường. Nhưng chơi mãi thì kiểu gì chẳng tạo ra lỗ hổng, lớp tôi có truyền thống học kém và sợ môn Lý. Năm ngoái được thầy dễ tính dạy mà điểm đứa nào đứa nấy đều lẹt đẹt, ngoại trừ nhỏ Đan. Đúng như người ta hay nói, khi ta lo sợ điều gì, thì y như rằng điều đó sẽ đến. Lúc nhỏ Đan đi họp cán bộ lớp đầu năm về thông báo tên giáo viên chủ nhiệm mới, gần như cả lớp phản ứng theo dây chuyền: khóc một dòng sông. Đứa nào đứa nấy nhìn nhau cằm rơi xuống cổ, trong mắt đã long lanh những con điểm 0, 1, 2 nhảy nhót tưng bừng. Tất cả đều biết ngày tận thế sắp đến, khi bây giờ chủ nhiệm lớp tôi là cô Bắc, người được mệnh danh Sát thủ lực hướng tâm, tức là những dân đen dưới sự thống trị của cô ấy đều bị quay cuồng và văng tung tóe cho tan xác; Dòng điện một chiều hay Máy biến thế… Nghe các anh chị khóa trước truyền lại, lớp nào học cô, lớp ấy cứ xác định một đi không trở lại.

Giữa cái đám đông hỗn loạn vì kinh hãi ấy, Đan bình thản trở về chỗ ngồi, nhỏ đi đến đâu, tôi cảm tưởng hàn băng chân khí tỏa ra ở đó. Lúc nhỏ lách người sau tôi để vào trong, tay nhỏ khẽ chạm vào lưng áo, tôi thấy mình run bắn một cái như điện giật. Cả buổi tôi cứ bị cái cảm giác lâng lâng không tiếp đất khó chịu bám riết lấy, chẳng hiểu sao. Hoa điệp tô vàng khung cửa sổ bàn số 5, có một khuôn mặt lạnh lùng in lên ô cửa ấy.

Cô Bắc thực sự còn kinh dị hơn nhiều so với các giai thoại để lại. Với thuyết “không nhân nhượng” cộng với bộ mặt âm 273 độ K và đôi mắt như được làm bằng kim loại siêu dẫn điện, cô làm tê liệt tất cả mọi đối tượng đang run rẩy cắn bút phía dưới lớp.

Không ngoài dự đoán, tháng đầu tiên chúng tôi đã được nếm trải ách thống trị “tàn bạo” của Sát thủ lực hướng tâm. Vẫn cái thói không bao giờ học Lý, thằng Nam Trứng Vịt đã bị đưa lên đoạn đầu đài ngay từ tiết Lý thứ 3, nó nghênh ngang đi lên bảng, vừa đi vừa quay đầu sang hai bên và hôn gió các “fan”. Kết cục thì ai cũng biết, nó ôm một quả trứng tròn xoe về chỗ ngồi, cô Bắc ghi thẳng con 0 vào sổ điểm, “không nhân nhượng”. Cả bọn quay sang trêu:

– Mày nối nghiệp bố mẹ được rồi Nam Trứng ơi, học hết năm nay chắc cô cho mày đủ vốn.

Tiếng cười khúc khích, thằng Nam Trứng cũng tẽn tò cười, nhưng trong cái cười của nó có cái gì thảm thảm.

Tôi cũng không nằm ngoài cái danh sách bị xử trảm. Đứng trên bảng trả bài, tôi chắp tay ra sau, chỉ ấp úng được vài câu nhớ mang máng trong đầu, nhìn ra ngoài cửa lớp, hoa điệp đang rụng dần, tán cây thưa lộ ra vài mảnh trời xanh ngọc, thu chắc đang trên đường đến, mùa thu cuối cùng của đời học sinh. Cô Bắc cho tôi mang về một con ngỗng dài ngoằng, lúc ném cho mấy chiến hữu dưới lớp một nụ cười, tôi bắt gặp mắt Đan, hàng lông mày khẽ nhíu lại, có nhiều thứ trong đôi mắt ấy. Tôi không cười nữa, lặng lẽ vào chỗ như một tên trộm vừa bị đánh. Hình như tôi đã sai, với chính bản thân mình.

Ngoài tiết mục kiểm tra miệng kinh hoàng, cô Bắc còn có một tuyệt chiêu khiến tất cả lũ trò chúng tôi chết ngất, đó là thi thoảng đang giảng bài, cô bỗng nhiên dừng lại, cả lũ nín thở như đợi giao thừa. Cô mỉm cười, nụ cười sắc như kiếm Nhật, có thể chém một phát đứt đôi …., và chậm rãi nói một câu khiến ai nấy rụng rời:

– Lấy giấy kiểm tra 10 phút!

Chúng tôi đặt cho cô Bắc một biệt danh ngầm mới: Bác Đại Bằng. Người ngoài nghe chắc chẳng ai hiểu, chỉ có lớp tôi mới hiểu được cơn ác mộng mang tên Bắc Đại Bàng.

Bảng điểm của chúng tôi dần được tô điểm bằng những con số không bao giờ quá 5, đứa nào được 5 sẽ phải khao cả bọn, nhưng khổ thay không đứa nào được hưởng cái diễm phúc đó. Tất nhiên những trò này đều ngoại trừ nhỏ Đan. Lớp tôi bắt đầu không mấy thiện cảm khi một mình nhỏ cứ điểm cao chót vót, rất được cô Đại Bàng tín nhiệm, đúng là kẻ ăn không hết người lần không ra. Và nhỏ lại càng bị kì thị khi sinh hoạt lớp cuối tuần đứng lên phê bình cả lớp, nhỏ nói thẳng:

– Nếu các cậu cứ học như vậy, thì không chắc đã qua được năm nay, qua được kì thi tốt nghiệp.

Mấy thằng bạn lúc trước thích nhỏ, giờ cằn nhằn trong ngao ngán: “Con nhỏ tinh tướng”. Nhưng cả lũ thở dài, Đan nói đúng thật, năm cuối rồi, cứ tình trạng này liệu chúng tôi có qua được kì thi nào không?

Đôi khi không biết có việc bận gì, cô lại đi ra ngoài, và đưa đề kiểm tra 10 phút cho Đan chép lên bảng, mọi người xì xầm nhỏ được thiên vị, hay biết trước đề. Chẳng biết nhỏ có biết không, nhưng tôi thấy tội nhỏ. Tôi đã không còn ghét nhỏ nữa, trong khi cả lớp bắt đầu nhìn nhỏ với con mắt khác.

Tôi thường xuyên thiếu đồ dùng học tập, đặc biệt là giấy kiểm tra, mỗi lần cần, tôi lại í ới vay mượn khắp nơi, hoặc xé vở. Có lần không thằng nào cứu trợ nữa, tôi loay hoay tìm trang giữa nhưng cũng chẳng còn quyển vở nào đáp ứng được, đang nhăn nhó thì bàn tay bên phải đẩy sang một tờ giấy đã được kẻ điểm lời phê, tên họ đàng hoàng: Nguyễn Linh Đan. Tôi giật mình quay sang, mắt Đan vẫn chăm chú nhìn vào cây bút đang cầm, bàn tay đã rút về đúng địa phận của nó. Tôi chưa kịp cảm ơn thì cô đã đọc đề. Vội vàng gạch chữ Đan đi, thật may, tên của Đan chỉ hơn tên tôi đúng một chữ, tự nhiên tôi lại cười.

Đan xuất hiện nhiều hơn trong suy nghĩ của tôi, đến tận bây giờ, khi sắp 18 tuổi, tôi mới biết cảm giác bị ám ảnh bởi một người con gái là như thế nào. Cứ rảnh rỗi là hình ảnh nhỏ chờn vờn trong đầu, những lúc ấy có một cảm giác gì dễ chịu xâm chiếm lấy mình mà tôi không thể nào lí giải được. Khi người ta thích một ai đó thì tự nhiên sẽ thấy người ấy ở khắp mọi nơi.

Tôi luôn canh đúng giờ đi học để đi cùng Đan từ cuối con đường hoa điệp vàng đến trường dù là chỉ đi sau như kẻ ám sát. Tôi chỉ muốn đảm bảo nhỏ an toàn trên đường đi, từ khi nào tôi lại có cái ý nghĩ điên rồ là bảo vệ cho nhỏ như thế nhỉ? Trời đã chuyển sang thu. Bầu trời cong lại giống mái vòm, những đám mây xốp trắng thong thả trôi như những bản tình ca. Không biết từ lúc nào tâm trạng tôi cứ bồng bềnh, bồng bềnh như thế. Nhiều lúc truy hỏi lương tâm, tại sao tôi lại thích Đan, tại sao tôi lại thích một đứa như nhỏ, vò đầu bứt tai như tổ quạ, tôi thấy mình đần cả người, thích là thích, chứ không thể biết tại sao.

Dạo gần đây Đan lại có những hành tung bí ẩn, nhỏ hay ở lại sau giờ học và chui vào bãi để xe sân sau trường, cái dáng vội vàng khẩn trương, có chút cảnh giác của nhỏ làm tôi tò mò, nhưng tôi không dám đi theo, mặc dù rất muốn. Hôm nay lần đầu tiên Đan đi học muộn, cái khoảng trống bên phải khiến tôi thấp thỏm không yên, đến khi nhỏ đứng xin phép thầy ở cửa lớp, tôi mới thôi lo lắng. Vẫn cái thái độ lạnh lùng bình thản, nhỏ đi êm ru vào chỗ ngồi, nhưng trong mắt dường như có điều gì rón rén. Tôi thi thoảng cứ quay sang ngó nhỏ lom lom, nhỏ quay sang là lại giả vờ nhìn ra ngoài cửa sổ. Điệp đã rụng hết không còn sót cánh nào, lá bàng đang ốm nghén ngả màu, trên tán xà cừ, có đôi chim sẻ đang hàn huyên tâm sự, tích tích tích…

Grù..grù…..grù… tiếng động lạ phát ra từ ngăn bàn Đan, tôi lắng tai nghe mới thấy. Nhỏ lật đật đút tay vào ba lô trong hộc bàn, mắt chớp chớp liên hồi. Rõ ràng tôi nghe thấy tiếng thở của con gì đó, hình như là một con mèo. Đan mang mèo đến lớp làm gì nhỉ, thật kì lạ, nhỏ càng ngày càng kì lạ. Xem chừng nghĩ rằng tôi đã biết, nhỏ quay sang không nói gì, chỉ dùng ánh mắt nói chuyện, tôi dịch được thứ ngôn ngữ vô thanh ấy ra thành:

– Cứ coi như cậu không biết gì đi.

Lần đầu tiên tôi thấy nhỏ bối rối. Cái cách một người luôn luôn tự chủ được những việc mình làm lâm vào cảnh không biết đối phó thế nào thật dễ thương. Tôi vẫn chú ý vào con mèo nhỏ, nó bắt đầu rên ư ư, có vẻ không chịu được cái không gian ngột ngạt nóng bức, nó sắp kêu meo lên rồi. Tôi chợt nhớ ra mấy thứ đồ hay cầm đi để trêu bọn con gái, thò tay vào ngăn cặp lục tìm, tôi dúi cho nhỏ Đan con chuột giả. Mèo con chắc là mải mê với đồ chơi mới, không quấy nữa. Đan cảm ơn tôi bằng một nụ cười. Cái lúc đưa con chuột cho nhỏ, tôi thấy ngón tay mình chạm vào lòng bàn tay nhỏ, mặt tôi nóng bừng lên, tôi phải cúi xuống vì sợ bị nhìn thấy khi đỏ mặt, giờ nhìn thấy nhỏ cười, cái cười từ mắt, đến môi, đến cái má lúm một bên, tất cả đều cười, vừa sáng bừng vừa dịu dàng như tháng chín, da gà da vịt của tôi nổi lên hết cả. Có thể nhỏ là yêu quái thật, chỉ cười một cái mà đã làm người khác chao đảo hồn bay phách lạc thế này.

Tan học Đan lại lủi ra phía sau trường, lần này tôi quyết tâm đi theo, nhỏ làm gì mờ ám không nghiêm chỉnh thì tôi không nghi ngờ, tôi chỉ sợ nhỏ gặp nguy hiểm.

Đan biến mất sau đống gạch đá đổ dở góc cuối bãi để xe, tôi thấy chộn rộn nhiều âm thanh gù gù meo meo nho nhỏ, chắc không phải chỉ một con mèo. Tôi đừng thập thò sau gốc bàng cổ thụ ngó vào. Lúc này nhỏ Đan băng giá hằng ngày biến mất, giữa đàn mèo 5, 6 con non và một mẹ mèo tam thể, nhỏ hiền lành như một cô tiên. Mắt cười lấp lánh. Nhỏ nựng từng con mèo nhỏ, đồ sữa và đồ ăn ra cho chúng, cái ổ kìn đáo dựng bằng thùng các tông tựa như xứ sở của những chú lùn. Nhưng nhiều mèo như thế này làm sao mà nhỏ nuôi được hết cho đến lớn.

Tôi cứ mê mải ngắm, mỏi gối quá đổi tư thế thì vô tình dẫm phải cành cây khô dưới đất đến “rắc” một cái. Không kịp chạy, Đan đã phát hiện ra tôi. Trước giờ tôi vẫn thấy mình giống như một thằng ngố, nhưng bây giờ chắc bộ dang tôi không khác gì thằng hề, tôi không dám chạy, cũng không dám bước tới, thế là ngồi thụp xuống, nhặt nhặt lá bàng và xâu lại, đúng như người ta miêu tả những thằng dở hơi chuyên đi nhặt lá đá ông bơ. Tôi lại biết thêm một sự thật đau lòng nữa, khi người ta thích một người, thì bất cứ lúc nào cũng có thể trở nên ngu ngốc trước mặt người ấy.

Đan đến gần tôi, bình thường ngội cạnh nhau, tuy có tự phân chia lãnh thổ nhưng cũng chỉ cách một bàn tay, giờ nhỏ cách tôi hẳn mấy bước chân mà tôi lại run như cầy sấy, tôi đâu có làm gì sai.

– Linh ơi! Cậu có thích nuôi mèo không?

Thì ra là thế, Đan nhặt được mèo bị bỏ rơi, con mèo mẹ sắp sinh, vậy là nhỏ thương và nuôi nó đến tận ngày trở dạ. Rồi lại chăm sóc cho lũ mèo con từ ngày chưa mở mắt, một con bị ốm, nhỏ mang đi chữa bệnh rồi sáng nay mới đưa nó về với mẹ. Nhỏ không được phép mang mèo về nhà, nên mới phải tìm chỗ trong trường để nuôi. Tôi thấy lòng mình mềm nhũn, tưởng nhỏ ghê gớm với người, thì chắc là chẳng yêu thương cái gì cho nổi, nhưng tôi đã nhầm. Lòng người đa chiều lắm, luôn có một nơi ấm áp dù cho những chỗ khác có lạnh lẽo, hoặc giả là người ngoài không thể thấy được sự ấm áp trong tấm lòng con người ấy.

– Cậu giỏi thật, làm việc lén lút bao nhiêu ngày mà không bị phát hiện.

Đan không nói, chỉ cười, tôi không biết hôm này trời có bão tố giông lốc gì không, nhưng quả là một kì tích.

Tôi khuân hết đống mèo của Đan về nhà, hứa sẽ tìm chủ nuôi lũ mèo con cho nhỏ. Nhỏ còn chưa tin hẳn, đòi gặp chủ mới rồi mới đồng ý. Tôi kêu gọi mấy thằng bạn thân có em gái, bắt chúng nó mua về cho em nuôi. Chật vật mãi cũng lo cho lũ mèo được yên ổn.

Chỉ có tôi là không yên. Thằng Tuấn xù bóp bóp cằm bắt chước Gia Cát Lượng:

– Tao nghĩ mày bị bệnh rồi Linh ơi!

– Cái gì?

– Mày bệnh rồi, nên mới đi buôn lậu mèo với con nhỏ Đan quái dị

Thằng Long ruồi lại đế thêm:

– Đúng đúng, mày bị bệnh tương tư rồi con ơi…

Tôi thụi cho hai thằng bạn mỗi thằng một quả.

Kể từ lần ấy, trên lớp, Đan vẫn không hết lạnh lùng, vẫn không nói nhiều hơn, cũng chẳng cười, tôi tự hỏi tại sao lại có con người oái oăm như nhỏ. Nhưng có điều lạ, là thi thoảng không có giấy kiểm tra, bàn tay bên phải đưa sang cho tôi tờ giấy, đã kẻ điểm lời phê và họ tên, chỉ khác là không phải Nguyễn Linh Đan, mà là Nguyễn Linh.

Những người khó hiểu, luôn khiến người ta muốn hiểu họ nhiều hơn.

***

Trở về với chuyện cô chủ nhiệm Đại Bàng, sau buổi họp phụ huynh bất thường đầu tiên vào giữa kì một, các bậc cha mẹ xưa nay vẫn yên tâm vì con cái dù nghịch ngợm đến mấy cũng không thể ở lại lớp, nay đã gục ngã trước cơn đại dịch mang tên “bảng điểm” và lời đe doạ sẽ không đủ điều kiện thi tốt nghiệp vì môn Vật Lý mang đầy tính nhân văn. Trứng, gậy, vịt gà ngan ngỗng cứ thế được phụ huynh mang về nhà mà phang tới tấp vào mặt con trẻ, những tội nhân giấu mặt xưa nay đã bị lôi ra ánh sáng. Tối hôm đó hàng loạt những cuộc điện thoại kể khổ kèm theo hàng loạt kế sách đã được đưa ra để làm sao sống sót qua cái môn hãi hùng này.

Ngay hôm sau, bọn thằng Hùng “hồn” vì quá cay cú với vụ khủng bố bất ngờ, bày trò trả đũa cô Đại Bàng. Trên bục giảng chỗ cô hay đi lại có một cái lỗ hổng nhỏ xíu do gạch vỡ, chúng nó đục thêm cho cái lỗ to hơn cái gót đôi giày cao cô hay đi.

Quả nhiên không ai trên đời này hoàn hảo, sát thủ cũng có lúc gặp nguy. Đúng vào tiết học có người dự giờ, cô Đại Bàng mắc chân vào cái lỗ hổng do “quân phản nghịch” đào bới, gãy cả gót giày, Đại Bàng gãy cánh ngay trên bục giảng, cũng may chỉ đau chân sơ sơ, không nghiêm trọng.

Dân tình hả hê, chỉ có Đan giờ ra chơi lặng lẽ ra ngoài sân thể dục lấy cát sỏi lấp đầy cái hố nhỏ nhưng nguy hiểm chết người. Tôi nhìn những việc làm của nhỏ, thấy trong lòng tự nhiên buồn, không còn khoái trá của cái trò trẻ con kia nữa.

Trả đũa được một lần không có nghĩa là những bài kiểm tra hắc ám của chúng tôi chấm dứt.

Và cuộc hành trình của những con thiêu thân bắt đầu. Tất cả lao đầu vào học, dù sao thì mười hai năm đèn sách không thể có kết cục bi thảm chỉ vì một môn học xưa nay vẫn lười nhác cho qua. Bắt đầu xuất hiện lác đác nhưng con 6 khi trả bài kiểm tra. Nghe thằng Nam Trứng Vịt khoe bố mẹ nó đã ép plastic điểm 6 đầu tiên của nó rồi đóng khung treo giữa nhà. Rồi những điểm 7, 8 cũng bắt đầu xuất hiện. Lớp tôi như đang bước vào thời kì phục hưng, mọi bóng tối có vẻ như đang dần lùi về hậu trường nhường chỗ cho ánh hào quang phía trước.

Riêng tôi, tôi mua hẳn cuốn sách giải Vật Lý để đối phó khi gặp bài khó quá mà quên mất kiến thức đã học không giải được.

Một lần kiểm tra 10 phút bất ngờ, vì đêm hôm trước mải thức khuya xem bóng, tôi không kịp giải lại mấy dạng bài cô cho ôn tập, bí quá, tôi mở quyến sách giải trong ngăn bàn, nhẹ nhàng như khi lướt qua hàng phòng ngự của đội bạn để dẫn bóng về khung thành. Nhưng bỗng đâu tôi bị trọng tài thổi phạt. Đan đang nhìn tôi chằm chằm, ánh mắt nhỏ, làm tôi tê cứng, bàn tay trong ngăn bàn như bị búa giáng cho một nhát. Thường tôi vẫn dịch được thứ ngôn ngữ vô thanh trong mắt nhỏ, nhưng lần này, tôi không tài nào hiểu được ánh mắt nghiêm nghị ấy.

Bỏ trống bài làm đang dở, nộp bài. Tôi tự hứa với mình sẽ cố gắng học để không kém cỏi trước mắt Đan, tôi sợ ánh mắt ấy, tôi thấy xấu hổ vì ánh mắt ấy.

Chưa bao giờ tôi phát hiện ra khả năng của mình cho đến khi tập trung cho một mục tiêu nào đó. Dần dần những công thức, những định lý đã trở thành niềm đam mê của tôi, tôi thấy mình như trở thành một con người khác khi việc học giờ đây là một sự vui thích chứ không chán trường như trước. Không phải chỉ mình tôi, bố mẹ tôi đã định đưa tôi đi khám bệnh khi thấy tôi tự giác vào bàn học, rồi hai người lục đục đi thắp hương lên bàn thờ khi tôi nói tôi không sao. Mấy thằng bạn thân thì lại được thể mở hội nghị bàn tròn và phán bệnh cho tôi:

– Mày bệnh thật rồi đấy Linh ơi.

– Mày yêu nó thật rồi Linh ơi.

– Mày bỏ bọn tao rồi Linh ơi..

Tôi lấy quyển sách bịt mồm chúng nó lại, lôi chúng nó vào mấy cái đề thi khó nhằn.

Cả lớp tôi có một bước chuyển mình mạnh mẽ, tôi trở thành ngôi sao vụt sáng môn Vật Lý. Có những lần cô ra bài khó quá, cả lớp giải không xong, tất cả nhìn về phía tôi chờ đợi, tôi được gọi lên bảng giải bài, dù trong lòng có đôi chút tự hào, nhưng tôi vẫn không hết thở dài. Vì tôi biết rằng trong vở người ngồi bên phải, bài đã làm xong từ lâu. Đan vẫn không nói, hai khoé môi chỉ khẽ đưa lên, rất nhẹ thôi, nhưng cái cười ấy đã theo tôi cả vào trong giấc mơ.

Đúng lúc cái tiểu quốc nhộn nhạo này đang tưng bừng tinh thần học Lý, thì cô Đại Bàng nghỉ dạy. Những ngày cuối cùng, cô ho nhiều, và nói nhỏ đi, có ngày cô còn mang mic đi để giảng bài cho rõ.

Những đứa ngày trước một mực không đội trời chung với cô giờ lại là những đứa lo lắng nhất. Không ai nghĩ rằng một ngày cô biến mất lại để lại sự hụt hẫng lớn lao như thế.

Rồi một buổi chiều đầu đông, chúng tôi được trường cho nghỉ học. Cả lớp nối đuôi nhau đến tiễn cô lần cuối.

Khuôn mặt cô không còn nghiêm nghị nữa, hiền lành và thanh thản như đang trôi trong một cõi bình yên vô tận, có lẽ cô đã vất vả rất lâu để đến giờ mới được nghỉ ngơi. Đứa nhìn thấy cô, đứa chưa đến nơi nhìn thấy mặt cô, đều khóc. Chưa nói được lời cảm ơn cô, chưa nói được lời xin lỗi cô, cô đã ra đi như thế. Những vòng khăn trắng làm đầy thêm tiếng nấc nghẹn trong cổ họng. Mưa phùn làm nhoà thêm nỗi đau, thấm nỗi buồn mất mát vào trong lòng những đứa trẻ sắp từ biệt tuổi học trò. Đan đứng một mình một chỗ, ôm quyển sổ bìa rộng màu đen, lặng lẽ lau nước mắt.

Ngày hôm sau chúng tôi nhận được một tập tài liệu ôn thi từ cuốn sổ bìa rộng màu đen, đã được soạn thảo rất kĩ, tới phần nào có một vài người thấy khó, lại được đề tên người đó, kèm theo ghi chú: “Cố gắng lên em!”

Trang cuối là những dòng tâm sự của cô. Chúng tôi đã không thể biết rằng, cô lo lắng quan tâm đến chúng tôi như thế nào; không thể biết cô đã yếu rồi nhưng vẫn cố đi dạy cho cái lớp yếu kém nhất trường về môn lý, không thể biết mỗi lần kiểm tra 10 phút bất ngờ là những lần cô mệt quá không thể nào tiếp tục giảng bài; không thể biết đằng sau những con điểm thấp là những đêm cô miệt mài thức soạn bài để chúng tôi học cho dễ hiểu. Đọc đến dòng cuối cùng:

“Cô xin lỗi vì đã không thể đi cùng cả lớp tới cuối chặng đường. Cô yêu tất cả các con!”

Nhiều đứa oà lên khóc. Đám con trai ngày trước vẫn hay xuyên tạc những câu chuyện châm biếm về cô hay bày trò phá hoại giờ ngồi lặng thinh, niềm hối hận ngập đầy trong mắt. Cô ra đi để lại cho lũ trò nhỏ bài học sâu sắc và không thể quên trước khi bước vào đời: Đừng vô tình phán xét bất kì ai, vì bạn không thể biết những gì họ đã từng trải qua.

Thời gian của năm cuối cấp như được gắn thêm động cơ tăng tốc. Mùa đông lạnh không thắng được không khí đang sôi sục của cái đám đang dùi mài kinh sử.

Qua hai mùa, tôi vẫn đi sau Đan như thế. Những ngày rất lạnh, gió tạt dọc đường đi học. Đan quay lưng về hướng gió, hai tay ôm vào nhau, đi ngược chiều. Cứ ngày nào như thế, tôi lại không thể đi sau nhỏ được nữa. Không biết làm thế nào cho phải, tôi đành bước đi cùng.

– Cậu lạnh à? Sao lại đi ngược?

– Ừ, cũng hơi.

– Sao cậu không mặc áo ấm, nhiệt độ này không cần mặc áo đồng phục đâu.

– Tớ sẽ mua khi có điều kiện.

– Bố mẹ cậu không lo cậu ốm ư?

– Dùng tiền của bố mẹ thì không hay.

Tôi cởi áo cho nhỏ mặc, nhỏ nhất quyết không chịu, chỉ đáp lại bằng một cái lắc đầu kèm theo một nụ cười rất ấm nhưng làm tôi đau thắt một nơi trong lồng ngực. Giá như nhỏ có thể mở lòng ra một chút, giá như tôi có thể bớt ngớ ngẩn và nhút nhát đi một chút. Giá như tôi có thể nói ra…

Ngày chia tay càng gần tôi lại càng thấy nhiều điều rõ ràng lên từng chút một.

Bàn số 5, ô cửa. Có một thứ tình cảm chẳng thể gọi tên, có một người luôn nhìn về bên phải, một người luôn không nói. Ngoài khung sắt mưa nắng đã thay màu không đếm được số lần, nhưng số lần tôi được nói chuyện cùng Đan, đếm đi đếm lại vẫn chưa đầy mười ngón.

Thời đi học tôi không sợ niềm đau thi trượt, chỉ sợ bị rơi vào một mối tình vô vọng đơn phương. Bây giờ những ngày tháng cuối đang gần đến, tôi mới hiểu tại sao tình đầu thời đi học là điều mà không ai có thể quên được.

***

Một buổi chiều không mưa, nắng vàng như đổ lửa, qua đoạn đường có cánh cổng màu rêu, tôi thấy mấy bóng áo xanh bên trong một đám người nhốn nháo. Vòng ngoài là những người hàng xóm đến xem, người này nói cho người kia chuyện của đôi vợ chồng phạm pháp.

Đan ngồi thu lu sau hàng rào bao cổng, nhìn người ta đưa bố mẹ lần lượt đi ra, lên xe theo công an về đồn. Không sợ hãi, không bất ngờ, không khóc.

Tôi chưa thấy hình ảnh nào thảm thương đến thế. Tôi đã hiểu tại sao Đan bỗng dưng trở nên trầm, kì dị và ít nói. Nhỏ chắc đã chịu đựng đến chai lì những phức tạp trong chuyện làm ăn mà bố mẹ. Từ khi bố mẹ nhỏ gặp khó khăn trong việc trả nợ, nhà nhỏ được ngăn ra thành nhiều phòng. Những đôi trai gái cứ lén lút ngượng ngùng ra vào đó. Chắc Đan đã rất buồn, rất thất vọng, nhưng không có quyền lựa chọn, chỉ còn cách cố gắng học để mau chóng tách khỏi ra đình.

Hoàng hôn buông phủ, Đan mệt nhọc đứng dậy đi vào trong nhà, cái dáng nhỏ liêu siêu trong màu nắng nhạt. Tôi thấy lòng đau quá, mà không dám chạy tới để hỏi han, không dám vào an ủi hay chỉ xem nhỏ có ổn không. Giá như tôi có thể dúng cảm hơn một chút…

Nghĩ lại mình, tôi thấy tự hổ thẹn vì cái lựa chọn buông xuôi lúc trước. Người ta khổ người ta vẫn phải sống cho kiên cường, tôi sướng mà còn định lãng phí cuộc đời. Người ta là con gái phải gồng mình lên để sống, tôi là con trai mà lại lêu lổng vô âu vô lo.

Tôi nhớ lại vẻ mặt Đan ngày cô Bắc mất. Có lẽ bây giờ nhỏ cũng đang rất đau.

Kìm nén nỗi buồn chắc chắn là biệt tài của nhỏ. Những ngày sau Đan vẫn đi học như bình thường. Mắt có thêm những đường viền mệt mỏi, hoặc khó nhiều. Tôi thấy xót xa lòng, mà không dám nói, sợ nhỏ ghét bị thương hại. Tôi vốn ngốc nghếch, không biết làm gì cho người khác vui, nhặt con ve khô xác ép vào trang vở, vẽ cánh quạt cho giống trực thăng, rồi tặng cho Đan. Khoé miệng nhỏ lại khẽ đứa lên, tôi biết mình chắc chẳng bao giờ quên được nụ cười ấy. Tôi rất sợ khi nghĩ đến cái ngày chúng tôi mỗi người một ngả, nỗi sợ thành hình, khiến giấc ngủ cũng không thể nào yên.

Bỗng muốn rơi em ạ!

Rơi về đâu phượng cháy một góc trời?

Những ngày tháng cũ em ơi

Làm sao đủ với giờ chia tay cuối?

Đỏ và tím chẳng nói lời tiếc nuối

Nắng tháng 5 lạnh một góc tim

Tôi sẽ đến tận nơi nao tìm?

Người con gái ba năm gọi bạn

Người con gái đầu tiên khiến tôi yên lặng

Tôi đợi chờ hay đợi bóng hạ sang?

Những ngày cuối chúng nó thi nhau truyền tay lưu bút, vẽ áo, kí tên. Đan vẫn ngồi chăm chỉ học bài bên ô cửa, có chú chim nào liệng bay trên khoảng trời biếc xanh ngoài ấy. Tôi cũng không có lưu bút, không vẽ áo, chỉ ngồi lặng yên bên cạnh mối tình đầu. Con tim bất lực với những điều không thể nói. Tình cảm tự khóc thương trong những ngõ ngách tâm hồn.

Buổi học cuối cùng, giờ văn học, tôi làm bộ mượn cây thước kẻ kẹp trong cuốn vở Văn, Đan lặng im không nói. Có ai nếm đủ nỗi buồn như tôi không, khi mà thích nhưng không dám nói, đến phút cuối rồi mà vẫn chỉ bị đáp trả bằng những lạnh lùng. Tôi nài nỉ Đan cho mượn luôn cả cuồn vở văn ấy nữa, dù biết là vô lý, dù biết buổi học cuối cùng rồi thì tôi cũng không còn cơ hội mà trả lại, nhưng tôi vẫn cứ xin. Không một dòng lưu bút, những kỉ vật cho mối tình đầu có chăng là những thứ trong giờ chia tay cuối.

Trên bục giảng, những bài hát chia tay đang hoà cùng nước mắt. Tôi đánh bạo lên hát “Phượng hồng”, hát đến câu nào, thấy trái tim mình chảy ra tới đó, vừa đau vừa thương. Đan vẫn vậy, bóng hình ấy in lên ô cửa bàn số 5, đơn côi, lặng lẽ. Hoa điệp đang sắp nở trên những khóm lá già. Lúc trở về Đan đẩy sang cho tôi cây thước kẻ, cùng cả cuốn vở Văn màu xanh, vẫn lặng im không nói.3Minhhoa Khungcuasobanso5Cứ thế chúng tôi chia tay nhau, cứ thế chúng tôi xa những tháng ngày ngồi cạnh nhau mà tim không thể nào nghe tiếng để cùng chung nhịp đập. Món quà cuối cùng được tặng, đúng ra là tự tôi chiếm lấy, tôi cất kĩ vào nơi trong trẻo nhất của thời tuổi trẻ. Không phải mối tình nào cứ chân thành là được trọn vẹn, không phải kẻ nhút nhát nào cũng gặp may, không phải người yêu người là hiểu được nhau, không phải im lặng là không hề cảm nhận được. Nhưng điều đẹp đẽ nhất của những năm tháng ấy, phải là tình yêu.

Mãi sau này tôi mới tìm thấy dòng chữ nhỏ trong trang giữa, đúng tâm cuốn vở học sinh:

“Cảm ơn cậu nhiều lắm. Tớ biết cả. Ước gì chúng ta có thể gặp lại nhau…

Đan”

Tôi chỉ còn biết cười ngơ ngẩn.

Bây giờ, cậu ở nơi nào? Bây giờ, em ở đâu?

-o0o-

“Em ở đâu cho tôi được đến tìm?

Mùa hạ ép con ve khô xác

Bằng lăng tím tự bao giờ con ngơ ngác

Em về đâu sau giờ học cuối cùng?

Em ở đâu cho tôi được đến tìm?

Màu áo cũ – như màu mây xuống phố

Ba năm học, bàn số năm, ô cửa…

Đếm được mấy lần tôi trò chuyện cùng em?

Em ở đâu có tôi được đến tìm?

Ánh mắt em

Một lần kiểm tra tôi lén xem trộm sách

Đến tận bây giờ còn day dứt

Ánh mắt em.

Em ở đâu cho tôi được đến tìm?

Tôi gắng học để trước em không kém cỏi

Những bài toán cả lớp tin rằng chỉ mình tôi giải nổi

Tôi vẫn biết em đã làm xong.

Có bao giờ em hiểu tôi không?

Tim tôi đập rung trong tầng đá lạnh

Em yên lặng em bước qua kiêu hãnh

Tôi nghe lòng nhức nhối phía xa xôi.

Không một dòng lưu bút cho nhau

Giờ văn học cuối cùng tôi mượn cây thước kẻ

Em vẫn chỉ lặng lẽ đưa, lặng lẽ.

Giá như em…” (*)

(*) thơ Đàm Huy Đông

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *