Trang chủ / Lịch sử - địa lý / Góc Nhìn Sử Việt: Bánh Xe Khứ Quốc

Góc Nhìn Sử Việt: Bánh Xe Khứ Quốc

banh-xe-khu-quoc-ebook1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả : Phan Trần Chúc

Download sách Góc Nhìn Sử Việt: Bánh Xe Khứ Quốc ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : LỊCH SỬ

2. DOWNLOAD

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ?  Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Sau khi Đức ông Hoàng Trừ – Thái tử Lê Duy Vỹ bị chúa Trịnh bức hại, Lê Hoàng phi cùng ba con trai cũng bị cầm tù. Mười năm sau, một sự kiện nhỏ bao hàm trong một cuộc tình cờ lớn đẩy nước Việt Nam vào một cuộc loạn ly ròng rã tới một phần tư thế kỷ, đó là một cuộc đảo chính mà người đương thời gọi là “Kiêu binh nổi loạn” đã giải thoát Lê Hoàng phi cùng ba con một bước từ nhà ngục đến lầu vàng. Một trong ba vị hoàng tôn này là Lê Duy Khiêm – người sau này kế vị vua lấy niên hiệu Lê Chiêu Thống, từ đó cái vinh và cái lụy của chiếc ngai vàng hoàng đế bám riết lấy cuộc đời ông cho đến tận cuối đời.

Kinh thành mây phủ

Ngày 20 tháng Chạp năm Tân Mão(1).

Thành Thăng Long, sau những ngày hiu quạnh của tiết Đại hàn, như vừa được khoác một tấm áo mới, dưới những ánh nắng mặt trời êm dịu.

Trên làn cỏ non liên tiếp, không khác một dải lụa màu hoa lý viền lấy hồ Hoàn Kiếm, dân đô thành đua nhau ra hưởng vội vàng lấy cái khí ấp áp là vật mà về mùa giá lạnh, hóa công vẫn tỏ ra dè dặt, mỗi khi cần phải ban pháp nó cho muôn loài.

Sau quán Vọng Tiên cũng như trước các phố Hàng Khay và Hàng Bạc, có hàng trăm đứa trẻ, mình trần như nhộng, tụ vào một chỗ chơi nhảy “vô” hoặc “ú tim, ú òa”.

Nước da bánh mật của chúng phản chiếu lại ánh mặt trời, cũng óng ánh như những hòn ngói tráng men trên nóc chùa Ngọc Sơn, một tòa lâu đài mà khách du có cái cảm tưởng như nổi lềnh bềnh trên mặt nước, những lúc mặt hồ gợn sóng. Cạnh chúng, là một bọn dân nghèo công nhiên phơi cái cảnh cùng túng của họ giữa nơi đô hội nhất của thành Thăng Long. Họ trút bỏ tấm áo mã khoa nâu đã biến sắc xuống cỏ mà bắt rận hoặc khâu vá lại những lỗ thủng là di tích của đời lao khổ và thời gian.

Dưới hồ, kẻ tắm, người gội, đàn ông và đàn bà thích cánh nhau mà không chút e ngại hoặc sượng sùng, vì không ai có mục đích gì khác là nhờ giọt nước hồ Gươm để trút bỏ những cái dơ bẩn bám vào người mình. Câu “nam nữ thụ thụ bất thân” của ông Mạnh thực ra chỉ đáng nêu nên ở những gia đình đài các và phong lưu, nơi người ta có dư thì giờ để nghĩ đến những chuyện vẩn vơ vì họ không phải bận rộn gì về sinh kế.

Ven hồ, trên những cầu tre có nhiều bậc mà bậc sau cùng là bắc là là ngay trên mặt nước, người ta tranh nhau giặt giũ: nào quần, nào áo, nào chăn, nào màn. Tiếp, họ phơi tất cả ngần ấy thứ lên bãi cỏ hoặc cành cây. Buổi nắng mới vô tình rốc ra bờ hồ tất cả những cái nhơ bẩn mà thành Thăng Long đã phải chứa chất một cách nhẫn nhục trong những ngày mưa rét.

Trong các phố phường, vẻ náo nhiệt lại còn rõ rệt hơn nữa.

Tại các chợ Đồng Xuân và Báo Thiên, kẻ mua, người bán, tuy đã quá Ngọ, vẫn không ngớt. Những đống bùn lớn trên mặt đường dần dần sẽ lại, tiếp khô hẳn, nhờ ánh nắng mặt trời và sự giày đạp của chân người. Công chúng qua lại thỉnh thoảng lại kính cẩn dãn ra hai bên lề đường để nhường lối cho những cỗ kiệu sơn son của các quan Tham, Chưởng… hoặc những chiếc võng màu cánh gián của các vị phu nhân. Vì gần gũi với Triều đường và Phủ liêu, dân đô thành vẫn tự hào với người các Trấn là họ có thể phân biệt được phẩm cấp của các quan văn võ, do theo nước sơn trên kiệu, võng của các vị ấy.

Trong lúc mọi người mải miết lăn lưng vào một cuộc náo nhiệt mà thời tiết vừa làm cho đình trệ thì từ phương Đông, chân trời bỗng vẩn lên một đám mây đen. Đám mây đó không khác gì một vết dầu loang, lan rất mau khắp da trời. Người ta đoán là trời sắp đổ mưa nên người lo thu những đồ vật phơi phóng ở sân vào, kẻ rảo bước về nhà hoặc tìm chỗ ẩn tránh. Chỉ trong chớp mắt, sự hoạt động của thành Thăng Long lại bị đình hẳn như chiếc máy đồng hồ, vì hết dây cót mà đứng dừng lại.

Người ta đoán lầm.

Đám mây, đáng lẽ phải đổi thành nước mưa mà dội xuống Long thành, nhưng nó vẫn cứ bám sát vào da trời, mỗi phút một dày đặc mãi ra. Lâu dần mặt trời bị phủ kín hẳn, thậm chí hai người không nhận được mặt nhau, tuy chỉ đứng cách nhau có vài bước. Các nhà giàu sợ quân gian thừa cơ lẻn vào trộm cắp, phải vội vã thắp đèn. Bọn sai dịch lo chậm trễ việc công cũng bắt buộc phải đốt đuốc mà đi ngoài đường phố.

Đô thành bỗng chốc đã hiện ra các cảnh tượng đêm ba mươi tết.

Trước một trạng thái phi thường như vậy, công chúng không thể không tự hỏi: tại sao?

Phải, tại sao trời đương nắng ráo phút đổi ra tối sầm?

Tại sao giữa trưa ngày hai mươi tháng Chạp mà mịt mù như lúc giao thừa?

Rồi trong lúc mỗi người tự đào óc để tìm lấy một câu trả lời cũng kỳ quái chẳng kém gì cái hiện tượng nói trên thì, từ ngục Đề lĩnh, một cậu lính Thiết đột hốt hoảng chạy ra, báo nhỏ với người bạn của hắn là lính Túc vệ đứng canh ở cửa Đại Hưng:

– Đức ông Hoàng Trừ bị hại rồi!

Hắn lại dặn thêm:

– “Việc quốc gia bí mật” anh nên biết một mình thôi, chớ nói lại với ai mà rụng đầu đấy!

Nhưng hắn vừa đi khỏi thì cậu Túc vệ đã lặp lại với một bọn chừng người cậu Túc vệ khác, từ trong thành ngất ngưởng đi ra.

– Các anh có biết không? Đức ông Hoàng Trừ bị hại rồi! “Việc quốc gia bí mật”, các anh nên biết một mình thôi, chớ nói lại với ai mà rụng đầu đấy!

Rồi, từ mười người này truyền sang một trăm, tiếp một ngàn người khác, việc mà cậu lính Thiết đột gọi là “quốc gia bí mật”, chỉ trong khoảnh khắc, đã do con đường “cửa miệng” của công chúng mà lan ra khắp thành Thăng Long.

Một vài kẻ khác cũng giàu trí tưởng tượng như tấm lòng mê tín, lại phê bình thêm với một giọng nói ngọt ngào:

– Đó là báo ứng của oan hồn đức ông đấy!

ĐỌC THỬ

Thái tử Duy Vĩ

Tại sao cái chết của một người – dù là chết oan và chết lối “bất đắc kỳ tử” – đã được công chúng tin rằng có ảnh hưởng và gây ra một trạng thái phi thường trong vũ trụ!

Muốn trả lời câu trên này, trước hết các bạn phải biết qua thân thế của Đức ông Hoàng Trừ và địa vị Đức ông trên lịch sử Việt Nam giữa thế kỷ XVIII.

Người mà công chúng quen gọi là Đức ông Hoàng Trừ tên thật là Lê Duy Vĩ, con trưởng vua Lê Cảnh Hưng, hiện giữ ngôi Trừ Nhị(1) ở Bắc Hà.

Duy Vĩ vẻ người tuấn nhã và thông minh rất sớm. Tuy đã được kén làm Thái tử, nghĩa là nắm vững cái phú quý trong tay, nhưng không đêm nào chàng không đọc sách và thân yêu kẻ sĩ, cho nên trong nước, ai cũng kính trọng và tin rằng tiền đồ của nước Nam sẽ ở trong tay một ông Vua minh mẫn.

Minh đô vương phi là Nguyễn Thị Ngọc Vinh cũng mến tài đức của Thái tử nên bàn với chồng, mang con gái yêu là Tiên Dung Quận chúa, gọi gả cho chàng, để giữ trước cho con gái mình ngôi “mẫu nghi thiên hạ”.

Quận chúa có cái sắc đẹp thùy mị, lại học rộng và rất giỏi về văn thơ, đính hôn với Thái tử tưởng không còn gì xứng đáng hơn nữa. Song hóa công hình như hối hận là nếu đãi đôi thiếu niên mày một cách quá hậu, sẽ mang tiếng bất công với muôn loài nên đã dành cho họ một cái kết quả rất cay độc để giữ thế tương đương với những cái ân huệ mà họ được hưởng, khi mới bước chân vào cuộc thế.

Nguyên, ngoài Tiên Dung Quận chúa ra, Minh đô vương còn có một người con trai lớn (khác mẹ) tên là Trịnh Sâm. Sâm được lập làm Thế tử(2), cũng là tay văn võ kiêm toàn, nhưng tiếc rằng độ lượng khí hẹp hòi. Chàng thấy Thái tử có tài mạo chẳng kém gì mình mà được vợ chồng Minh đô vương biệt đãi thì có ý ghen tức.

Một hôm, nhân Trịnh phủ có yến, Vương phi cho đặt một mâm cỗ ở sập trên, chiếu trải năm trùng để dành riêng cho Thái tử. Còn Thế tử thì phải ngồi sập dưới, chiếu trải có ba trùng.

Khi vào tiệc, Thế tử vô tình ngồi cùng với Thái tử một mâm. Nguyễn vương phi chợt đến, tỏ ý không bằng lòng dụ bảo hai người:

– Thái tử với Thế tử, tình là anh em, nhưng nghĩa là Vua tôi. Tuy ở trong gia đình cũng không nên bỏ lễ tôn ti trật tự.

Tiếp, Vương phi bắt Thế tử ngồi xuống chiếu dưới mà không tìm lấy một lời yên ủy.

Cử chỉ đột ngột đó làm cho Trịnh Sâm hổ thẹn không biết ngần nào. Rồi từ hổ thẹn đổi sang oán giận, chỉ trong có một bước: suốt bữa ấy, Sâm không ăn uống gì cả, chỉ nghĩ cách ám hại Thái tử.

Tan tiệc, Thái tử và Thế tử cùng ra về, tới cửa phủ, Sâm ngăn Thái tử lại, rút một đôi đũa bạc thủ sẵn trong tay áo ra bẻ làm đôi nói:

– Hai chúng ta tất phải có một người sống, một người chết. Vua ấy với Chúa này quyết không thể cùng đứng với nhau được!

Thái tử mỉm cười, gạt tay Sâm ra, lên kiệu tiến thẳng về cung nên cuộc xung đột của hai người, Minh đô vương và cho cả đến Nguyễn vương phi nữa, cũng không nghe biết.

Tại sau Duy Vĩ lại đáp lại sự khiêu khích của Trịnh Sâm bằng thái độ yên lặng, trong không khỏi có ý khinh bỉ?

Giản dị lắm.

Thái tử đã là người thông minh, bác học, tất không quên được việc Trịnh Tùng giết vua Lê Kính Tông, Trịnh Giang hại Lê đế Duy Phương và gần đây hơn hơn hết, Trịnh Doanh vô cố truất vua Lê Ý Tông, ấy là chưa kể bao nhiêu lần khác nữa, họ Trịnh đã tự ý bỏ và lập các vua Lê, không luận gì đến lễ nghĩa Vua tôi và lòng mong mỏi của sĩ phu trong nước.

Họ Trịnh có cả thiên hạ mà vua Lê chỉ được hưởng lộc của một nghìn làng. Họ Trịnh chiếm đoạt cả chính quyền lẫn binh quyền; vua Lê chỉ được giữ năm nghìn lính Túc vệ để canh giữ các cung điện.

Họ Trịnh là một quyền thần, nối đời ức hiếp nhà Vua .

Trái lại, vua Lê không khác một pho tượng gỗ, giương đôi mắt bất lực nhìn cái thế lực điêu tàn của nhà mình bị chìm đắm dần vào cõi tiêu diệt.

Duy Vĩ oán họ Trịnh.

Nhưng chàng cũng tự biết rằng cái sức bạc nhược của nhà Lê lúc này, chăng đủ trừ được một con hổ dữ mà thời gian đã nuôi cho béo và khỏe vô cùng.

Chàng trông cậy vào tương lai.

Chàng kết giao với sĩ phu trong nước, hy vọng là sau này sẽ nhờ cái lực lượng của họ để lật đổ chiếc vai cầy mà nhà Lê phải đeo đẳng đã trên hai thế kỷ.

Duy Vĩ có trí lớn.

Chí ấy không phải Minh đô vương không biết. Nhưng giữa Vương và Thái tử, có tình bố vợ con rể nên tuy biết mà Vương vẫn làm ngơ. Không may cuộc hôn nhân chưa kịp thực hiện thì Tiên Dung Quận chúa qua đời. Giọt lệ khóc ý trung nhân của Thái tử chưa ráo thì lại tiếp đến Minh đô vương băng hà. Thế là cái cầu nối hai họ Lê và Trịnh bắc chưa xong đã bị đổ ngổn ngang bỏ lại giữa nhà Chúa và nhà Vua một cái vực sâu thẳm.

Trịnh Sâm được thay cha lên làm Chúa Bắc Hà, lấy hiêu là Tĩnh đô vương.

Tĩnh vương không quên câu đe dọa hồi còn ở ngôi Thế tử.

Nhưng mấy năm đầu, Vương sở dĩ còn dùi dẳng là vì truất bỏ một vị Thái tử không dễ như cách chức một tên nội giám trong cung; cần phải có một cớ – dù chính đáng hay không cũng được – để thân minh với quốc dân.

Sau rốt, Tĩnh vương tìm được một cớ là vu cho Thái tử thông gian với những phi tần của cha mình.

Không luận rằng cái cớ “tổ truyền”(3) ấy công chúng có chịu nuốt trôi hay không. Tĩnh vương cũng cứ sai hai viên quan hoạn thân tín là Vũ Huy Đĩnh và Hoàng Ngũ Phúc vào nội điện bắt Thái tử hạ ngục.

Người ta sẽ chê Thái tử là chất thực quá, nếu chàng không đoán biết là sẽ có một cái vạ tày đình từ Trịnh phủ gieo xuống thân mình mà liệu cách đề phòng.

Có, Thái tử đã đoán biết cả. Vì đoán biết nên chàng thận trọng từng ly, từng tý, khiến cho Tĩnh vương tuy tốn công dò xét mà không bắt được chàng làm một việc gì trái với pháp luật hay luân thường.

Vua Lê cũng hết mực lo lắng cho con. Nhất là từ hồi trong giếng Tam sơn ở sau điện có tiếng nhưng tiếng sấm nổi lên thì nhà Vua lại càng tin rằng tất có biến cố xảy ra, nên cho cầu đảo suốt đêm ngày, hy vọng là thượng đế sẽ thấu tấm lòng thành của nhà Vua mà cho họ Lê được tai qua nạn khỏi.

Nhưng ý định của hóa công là bất di bất dịch.

Liệu biết là giờ khốc liệt của mình đã gần đến, Thái tử lẩn trốn vào nội điện của vua Lê, tin rằng họ Trịnh sẽ vì nể mặt nhà Vua mà cho Thái tử được an toàn. Nhưng đó là một cái ảo tưởng. Vì Vũ Huy Đĩnh, sau khi lục soát Đông cung rất kỹ càng mà không thấy Thái tử đâu cả, liền vào thẳng nội điện, cáo tố tội trạng của Thái tử với vua Lê, rồi tâu:

– Tôi nghe Thái tử ẩn trong điện, xin bệ hạ truyền cho Thái tử ra đây để tôi khỏi phải làm náo động nơi ngự tẩm.

Vua Lê thừa hiểu rằng con mình vô tội, nhưng nếu cưỡng với chúng cũng chẳng được nào, thành ra cứ dùng dằng không nỡ rời con. Thái tử vội ra mặt khóc lậy từ cha, rồi thân xuống thềm cho Vũ Huy Đĩnh bắt, giải về Vương phủ.

Đến trước Tĩnh đô vương, Vũ Huy Đĩnh giục chàng cởi mũ và quỳ xuống chịu tội. Nhưng Thái tử không nghe, hằm hằm nói:

– Thí nghịch, phế lập là việc thường của Chúa tôi nhà mày. Ta đây phỏng có tội gì? Sau này sẽ có sử xanh định liệu!

Nhưng một câu nói của Thái tử có khi nào làm chuyển một khối óc của một bọn người mà lương tâm đã bị mù, điếc vì sự hằn thù.

Người ta cứ thi hành đúng những cơ mưu đã định sẵn.

Người ta giáng Thái tử Duy Vĩ làm thứ dân mà hạ ngục.

Người ta đặt vào ngôi Thái tử, người con thứ tư của vua Lê C ảnh Hưng – Lê Duy Cẩn – một ông hoàng có bộ xương sống rất mềm, lại chăm ra vào Trịnh phủ.

Tấm lòng hờn oán của Tĩnh đô vương tuy vậy vẫn chưa được thỏa mãn. Vì xưa kia chẳng phải Thế tử Trịnh Sâm đã đứng trước Thái tử Duy Vĩ mà thề: “Hai chúng ta tất phải có một người sống, một người chết!”

Thế tử hiện nay đã lên ngôi Chúa, quyết là không chết được rồi. Vậy kẻ cần phải khước bỏ ra ngoài ánh sáng mặt trời, hẳn không còn ai khác là Thái tử Duy Vĩ, tuy Duy Vĩ đã không là Thái tử nữa!

Để hại Duy Vĩ, Tĩnh vương lại tìm ra được cớ thứ hai: vu cho Duy Vĩ mật mưu với bọn gian thần là Nguyễn Lệ, Lương Giản và Vũ Bá Cảnh để vượt ngục ra ngoài làm loạn.

Lương Giản may biết sớm, trốn thoát.

Vũ Bá Cảnh chậm chân, bị Vũ Huy Đĩnh bắt được, tra tấn đến cực hình. Bá Cảnh không nhịn được đau, phải nhận liều là có âm mưu thật và phun bậy ra thêm một người nữa là Điện tiền hiệu điểm, Nguyễn Lệ, tức là viên tướng quản lĩnh đội cấm binh của Duy Vĩ khi còn làm Thái tử.

Người ta bắt Nguyễn Lệ mà tra tấn.

Lệ khẳng khái, khai:

– Thái tử là ông Vua tương lai của một nước, không có tội gì mà bị bắt giam thì ai chẳng bất bình. Mưu cướp Thái tử ra khỏi ngục là nghĩa cử đó. Tôi chỉ tiếc rằng không được dự vào việc này. Vả trong khi Thái tử bị giam, đến vợ con cũng không được vào thăm thì chúng tôi phỏng còn mật mưu được với Thái tử bằng cách nào? Nếu muốn giết tôi thì cứ giết. Hà tất phải vu cho tôi những việc mà tôi không dự một mảy may nào cả.

Lại một lần nữa, người ta không cần phải tra cứu xem việc đó có thực hay không.

Các quan thẩm phán vẫn là Vũ Huy Đĩnh và Hoàng Ngũ Phúc – đã tiếp được mật lệnh phải kết án bọn Nguyễn Lệ và Vũ Bá Cảnh.

Họ cứ ngoan ngoãn mà kết án: hai người phải chịu tử hình.

Duy Vĩ cố nhiên cũng cùng một số phận với hai người trên. Nhưng vì trọng chàng là Thái tử cũ nên cho chàng được chết một cách kín đáo, nghĩa là đặc biệt hơn. Cho nên trong lúc Nguyễn Lệ và Vũ Bá Cảnh phải rụng đầu, giữa những tiếng chiêng và trống om sòm trên bến Thảo Tân thì Thái tử Duy Vĩ lẳng lặng tự kết thúc đời mình bằng ba vuông lụa mỏng trong một gian phòng tối tăm và ẩm ướt tại ngục Đề Lĩnh.

Lúc ấy vào khoảng cuối giờ Ngọ.

Cũng là lúc một tấm màn hắc ám bao phủ lên đô thành Thăng Long.

Người Việt Nam, luôn tin tưởng là có thần quyền, cho đó là một trạng thái gây ra bởi oan hồn của Thái tử Duy Vĩ(4).

Đời hay là hai cánh cửa nhà ngục

Đám mây đen đã tản dần để nhường chỗ cho hoàng hôn sắp tới.

Trên con đường tắt từ Linh Đường sang Dịch Vọng, thoáng có bốn cái bóng người lên lủi trên đồng lúa xanh rì. Trong bốn người đó, thật ra chỉ có một là đủ tính cách để được gọi là người, vì là một thiếu phụ, trạc ngoại ba tuần; còn ba là những đứa trẻ măng sữa mà đứa lớn nhất chưa đầy bảy tuổi, gay dắt một thằng bé lên năm. Đứa thứ ba thì do thiếu phụ ẵm trong lòng, nó mới ngoài ba mươi tháng.

Thiếu phụ, cũng như ba đứa trẻ, đều bận quần áo nâu đã bạc màu. Nhưng dưới mảnh vải thô lỗ, ngấn lên những thân hình rất đều đặn, phủ bằng nước da trắng mịn.

Thiếu phụ tuy đã đứng tuổi, nhưng đôi môi đỏ thắm không khác gì một vệt son mềm mại điểm trên khuôn mặt trái xoan. Mái tóc của nàng bị gió đập mạnh, xổ ra đen nhánh và gợn lên như những làn sóng nhỏ.

Ba đứa trẻ, con thiếu phụ, đều tuấn dị hơn các trẻ thường. Nhất là đứa lên bảy thì, thoạt trông, ai cũng biết là sẽ có một tương lại oanh liệt.

Đứa bé này, hai tai rất lớn, đôi con mắt đen và sáng, lúc nào cũng óng ánh như hai vì sao, tiếp với cái miệng hơi rộng, hẳn có một cái cằm rất nở, biểu lộ khối óc cương quyết và đại lượng.

Bốn người có lẽ đi đã lâu lắm. Vì trừ đứa bé được ẵm ra thì ai nấy đều bị bùn phủ lên đến đầu gối và bước cao bước thấp, coi rất nặng nề.

Tuy không phải bận rộn về thằng bé lớn nhất nó vẫn gắng gượng bước trên bùn lầy, nhưng thiếu phụ thỉnh thoảng vẫn phải ngừng lại để dỗ dành thằng bé lên năm. Thằng này cứ khóc và nhất định ngồi bệt xuống đường, kêu đau chân quá, không thể đi được.

Đến cuối làng Dịch Vọng thì trời vừa tối và lất phất có mấy hạt mưa. Tự liệu là có ép mấy đứa trẻ đi cố cũng không ích gì, thiếu phụ do dự một chút, rồi đi rẽ vào một ngôi nhà gỗ ở gần vệ đường, phía trong nhà có ánh đèn le lói, nàng đánh bạo gọi cổng xin vào ngủ trọ. Nhưng vừa dứt lời thì đã thấy một ông già hấp tấp chạy ra, ông ta dẫn đường cho thiếu phụ và dắt hai đứa trẻ vào. Ông lại thân đi lấy nước cho khách rửa chân tay, rồi mời cả lên một cái bục cao kê ở giữa nhà, trên đặt sẵn một mâm cơm bày thức ăn la liệt.

Thấy cách tiếp rước của chủ nhân rất vồn vã và sự khoản đãi hình như đã dự định từ trước, thiếu phụ không khỏi kinh ngạc và cố ý khước từ:

– Mẹ con tôi lỡ độ đường, được cụ cho nghỉ nhờ một đêm, cũng đã là may mắn lắm rồi, có đâu dám phiền cụ quá như vậy!

Ông già liếc nhìn mấy đứa trẻ, rồi cung kính thưa:

– Đêm qua, tôi chiêm bao thấy thần truyền: “Phải quét dọn nhà cửa cho sạch sẽ. Ngày mai sẽ có Vua và thái hậu đến đây”. Tôi mong suốt cả ngày hôm nay, tuyệt nhiên không thấy một ai. Bây giờ mới có bà và ba cậu xin vào ngủ trọ. Tôi chắc không phải họ hàng nhà Vua thì cũng là dòng dõi nhà Chúa chứ không sai.

Thiếu phụ hơi biến sắc mặt, nhưng lại nghiêm nghị nói:

– Mộng mị xưa nay có đúng sự thực bao giờ, cụ lầm đấy. Không nên nói quấy quá mà có khi nguy hiểm đến tính mạng.

Ông già làm thinh không đáp. Nhưng những cử chí rất thành kính của ông sau này đủ chứng rằng lời thiếu phụ chẳng đánh đổ nổi sự tin tưởng của ông. Ông hết sức chăm nom cho mấy đứa trẻ và tự buông màn lấy mời thiếu phụ đi nghỉ.

Hôm sau, thiếu phụ dậy thật sớm, cáo biệt chủ nhân, rồi lại ẵm và dắt ba con lên đường. Ông già cố giữ lại ăn cơm sớm, nhưng nàng nhất định chối từ. Ông liền tặng vài nắm cơm với một chút đồ ăn và tiễn ra đến tận cộng.

Dọc đường, chốc chốc thiếu phụ lại cúi đôi con mắt đẫm lệ xuống nhìn nhìn hai con và nghẹn ngào thúc giục cho chúng đi thật mau lên, mặt trời vừa đứng bóng thì mẹ con nàng đã đến Đại Phùng, một bến đò trên con đường Sơn Tây, cách đô thành chừng bốn mươi dặm.

Thấy hai con đã mệt lử, thiếu phụ liền ghé vào một quán nước, bỏ cơm nắm ra ăn. Nhưng nàng vừa cắt xong cơm nắm đặt lên vỉ với một chút muối vừng thì, phía ngoài chợt có tiếng ngựa hý, xen lẫn với tiếng rầm rập của chân người. Bất giác nàng đứng dậy, toan dắt ba con ẩn vào sau quán thì đã có hàng trăm tên lính nón dấu, áo nẹp đổ xô vào, vây bọc lấy mẹ con nàng.

Từ đám đông đó, một viên tướng tiến lên, vái chào thiếu phụ thưa:

– Thần được lệnh của Chúa thượng đi thỉnh lệnh bà và các hoàng tôn về an trí ở kinh thành, xin lệnh bà mau mau lên võng để thần khỏi phải làm trái với đạo thần tử.

Nước da đang trắng nõn bỗng đổi sang tái nhợt, thiếu phụ đứng trơ như một khúc gỗ, giữa mấy đứa trẻ níu chặt lấy áo mẹ nó để cầu sự che trở trước một bọn người mà chúng không hề quen biết bao giờ. Song hình như lại định thần được ngay, thiếu phụ đáp lại những câu thúc giục của viên tướng bằng một cái gật đầu. Tiếp, lẳng lặng nàng dắt con ra đặt lên một cái võng mà người ta đã dựng ở cửa tự lúc nào, chính nàng cũng không được biết.

Bắt được mẹ con thiếu phụ rồi, Vũ Huy Đĩnh (tên viên tướng) vui vẻ nhảy lên mình ngựa, hộ quân kéo thẳng lên Sơn Tây. Trên võng thiếu phụ vẫn thản nhiên vuốt ve ba con. Nhưng chúng thấy phu khiêng võng đi lanh như gió cuốn thì kinh sợ, hỏi mẹ:

– Họ đưa chúng ta đi đâu mà vội vàng thế hả mẹ?

Thiếu phụ ung dung đáp:

– Xuống âm phủ để xum họp với cha các con đấy!

Đứa lớn nhất hiểu thấu câu ấy nên mặt thoáng có vẻ buồn. Trái lại, thằng bé lên năm tưởng là lời nói ngay thật thì vỗ tay reo:

– Được thế thì còn gì vui hơn nữa, mẹ nhỉ!

Thiếu phụ gật đầu, trong khóe mắt rân rấn ra hai giọt lệ.

Ngay ngày hôm ấy, cả bọn cùng tới trấn lỵ Sơn Tây. Nhưng cái danh phận của tội nhân có lẽ khí quá lớn, không xứng với cái uy quyền khí nhỏ quá của viên Hiến sát sứ Trấn Đoài, nên người ta lại do con đường cũ mà giải mẹ con thiếu phụ về Thăng Long.

Tới đô thành, Vũ Huy Đĩnh đưa thẳng tội nhân đến ngục Đề Lĩnh mà giam vào một gian phòng ẩm ướt và tối tăm, gian phòng mới bỏ rỗi được hai ngày, vì chủ nhân cũ của nó vừa chịu tử hình.

Trước khi trở về Trịnh phủ để phục mệnh Tĩnh đô vương, Huy Dĩnh còn dõng dạc truyền bảo giám ngục quan:

– Phải canh phòng cẩn mật, nghe không? Chúng toàn là những tử tù cả đấy!

Từ nhà ngục đến nhà Vàng

Hai tiếng “tử tù” thốt ra từ miệng Quận Đĩnh bất giác làm cho thiếu phụ rùng mình. Nàng hình dung nó là một chén thuốc độc hay ba vuông lụa mỏng đã kết liễu biết bao cuộc đời lỗi lạc, trong những buồng ngục ẩm thấp ở Bắc Hà.

Nàng không sợ chết, nếu cái chết chỉ là món quà để tặng riêng nàng. Vì, chết đối với nàng là trút bỏ tất cả những nỗi đau khổ âm thầm, là sang một thế giới vô hình để sum họp với người, vì Tiên Dung Quận chúa xấu số đã nhường cho nàng được nâng khăn sửa túi.

Nhưng nàng vẫn hết sức lẩn trốn cái chết không phải vì nàng mà vì ba đứa trẻ – ba khối thịt trong là máu nàng hòa lẫn với máu của Thái tử Duy Vĩ.

Thiếu phụ mà các Ngài đã nhận ra là Lê Hoàng phi, vợ Thái tử Duy Vĩ – lợi dụng lúc bầu trời u ám, dắt theo ba con lên Sơn Tây, định gửi gấp cho một người thân. Nhưng không may, mẹ con Hoàng phi bị Quận Dĩnh đuổi bắt được ở dọc đường.

Bắt, tức là chết.

Cái ý nghĩ Thái tử sẽ bị tuyệt tự, đối với Hoàng phi đã là một mối đau khổ vô cùng. Nhưng còn có điều đau khổ hơn nữa, điều đó làm cho Hoàng phi đứt từng khúc ruột là chẳng chóng thì chầy người ta sẽ mang ba đứa trẻ ra hành hình. Hoàng phi sẽ phải chứng kiến cho bọn ngục tốt rằn ba đứa trẻ ra mà đổ thuốc độc vào miệng chúng, cũng như người ta đã từng ép đổ cho những tội nhân không đủ can đảm nâng lấy chén thuốc độc để tự kết liễu đời mình.

Ba đứa trẻ sẽ khóc và giẫy giụa, nhưng cái thân hình yếu ớt của chúng không khi nào chống nổi được những cánh tay vạm vỡ của bọn ngục tốt đã thông thạo về nghề này.

Thuốc độc sẽ ngấm vào phủ tạng của ba đứa trẻ.

Da chúng tái dần đi.

Các khiếu của chúng ứa máu tươi ra.

Chúng quằn quại nhưng những con rắn bị thương.

Mắt chúng trợn ngược lên.

Chúng tắt nghỉ.

Nghĩ đến đây Hoàng phi không còn đủ can đảm để tự kiềm chế nữa. Bà hét lên một tiếng, rồi ngất đi. Đứa bé nhất trong ba đứa trẻ giật mình, cũng òa lên khóc. Hai đứa lớn thấy mẹ nó nằm trơ ra như khúc gỗ thì sợ hãi, kêu cứu rầm lên. Bọn ngục tốt vội chạy vào, kẻ giựt tóc mai, người đổ nước gừng. Hồi lâu, Hoàng phi tỉnh lại, nhưng từ đó, mỗi lần nhà ngục có tiếng động lại làm cho Hoàng phi sợ đến thất thần, tưởng lầm là người ta đã đến đưa con bà vào cõi chết.

Sự sợ hãi, khi đã không đủ sức mạnh để giết những người mà nó hành hạ, thường lại bắt thói quen với những người ấy mà tặng cho họ một đức tính mới là khinh sống hoặc cũng gọi là liều.

Lê Hoàng phi, vì liều nên ao ước được chết một cách chóng vánh để khỏi phải chịu cái sống đầy ải ở ngục thất là một lối chết thong thả và âm thầm.

Ba con trai của Hoàng phi – Lê Duy Khiêm, Lê Duy Tự(1) và Lê Duy Chỉ – kết tinh bằng những giọt máu tôn quý nhất trong nước, cũng phải chia với mẹ chúng một số phận hẩm hiu. Nhất là Duy Khiêm, đứa trẻ đã có đôi chút trí khôn thì ngoài cái đau khổ về bản thân mình, lại càng đau khổ hơn nữa, khi thấy mẹ nó rầu rĩ suốt ngày, vì thương chồng chết oan uổng, và thương con sống đầy đọa.

Tuy nhiên, thời gian vẫn giúp cho ba đứa trẻ khôn lớn. Nhưng trong lúc ở bên ngoài, không biết bao nhiêu đứa trẻ khác gọi là hèn kém, được học hành và chạy nhảy tự do trong bầu không khí rộng rãi là của chung muôn vật thì ba đứa cháu nội của một ông Vua đương trị vì – Vua Cảnh Hưng – phải ngồi co ro bên cạnh mẹ nó, trong một gian buồng chật hẹp và thở hút những mùi hôi hám và ẩm ướt từ những cánh cửa và cột gỗ mục nát bốc ra.

Chúng không được trông thấy gì khác là những xiềng xích hoen rỉ và bộ mặt hốc hác của các tội nhân.

Chúng không được nghe gì khác là những tiếng kêu não ruột của những con dế cô quạnh ẩn trong chân tường.

Hàng ngày, người ta nhồi nhét cho chúng vài nắm cơm mà vôi với đá sỏi vẫn chiếm số nhiều hơn là gạo nguyên chất của nhà trời.

Thế giới của chúng là nhà ngục.

Nhãn giới của chúng không bao giờ được ra khỏi cái phạm vi chật hẹp ấy.

Khi có ánh mặt trời xuyên qua khe cửa mà chiếu vào tận chúng thì chúng biết là ngày.

Khi buồng ngục bỗng tối sầm lại thì chúng bảo là đêm.

Chúng không biết có tháng năm.

Chỉ khi nào – khi ấy cách xa nhau lắm – phía ngoài có tiếng pháo nổ rồn rã thì mẹ chúng lại nhắc cho chúng biết rằng đời chúng đã tăng lên một tuổi rồi.

Từ khi chúng bị giam, thấm thoắt đã mười lần pháo nổ, nghĩa là đã mười năm. Duy Khiêm đã gần đến tuổi trưởng thành; chàng mười bảy, Duy Tự, mười năm; Duy Chỉ, mười ba.

Lê Hoàng phi chú ý nhìn ba con, thấy chúng càng lớn, diện mạo càng tuấn tú, khác hẳn mọi người, bất giác thở dài. Bà nghĩ đến những đứa trẻ rạng rũa như thế, nếu được ra khỏi nhà ngục thì dù không được theo dòng máu của cha chúng mà lên ngôi hoàng đế chăng nữa thì chúng cũng có thể tự làm được đến công hầu.

Nhưng ngày ra khỏi ngục là ngày nào?

Hoàng phi chờ nó đã mười năm.

Bà tin rằng sẽ phải chờ nó mười, hai mươi năm nữa và có lẽ suốt đời.

Tóm lại, ngày ấy sẽ không bao giờ đến.

Bà ôm mặt khóc, theo lệ thường, ba con trai xúm lại khuyên giải mẹ chúng và tặng cho bà một thang thuốc hồi sinh là hy vọng vào tương lai.

Nhưng điều chúng mong mỏi, lần này đến thật.

Vì phía ngoài, chợt có tiếng ồn ào, tiếp đập phá cửa ngục dữ dội. Tiếng đập phá vừa im thì có hàng trăm, nghìn người áo xanh, áo đỏ rất sặc sỡ đổ xô vào sân ngục, tản ra, đi lục lọi khắp mọi nơi.

Một người trong bọn họ tình cờ phá được cửa phòng của Lê Hoàng phi, hắn trông vào, thấy anh em Duy Khiêm thì lớn tiếng reo:

– Anh em ơi! Hoàng tôn đây rồi!

Cả bọn liền xô đến gian phòng này. Rồi người dắt hoàng phi, kẻ cõng Duy Khiêm, Duy Tự và Duy Chỉ. Họ tỏ ra vui mừng và hò reo như sấm động mà kéo thẳng vào Hoàng thành. Tới điện Vạn Thọ, anh em Duy Khiêm đã thấy ông nội mình là vua Lê Cảnh Hưng – một ông già mà mười năm cách biệt đã làm cho đầu hói và trán nhiều nếp nhăn thêm – đứng đón ở trước thềm.

Nhà Vua mừng rỡ vuốt ve cháu.

Tiếp, đến cả hoàng tộc quây quần lại hỏi han anh em Duy Khiêm.

Bức phông đời của ba cậu bé này, từ chỗ tối tăm của nhà nhục, chỉ trong chớp mắt đã đổi sang một nơi mà đồ trang sức đều là vàng, son, gấm, vóc.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *