Trang chủ / Review / Thiên Môn Chi Môn

Thiên Môn Chi Môn

Thể loại Văn học nước ngoài
Tác giả Phương Bạch Vũ
NXB NXB Văn Học
Công ty phát hành Nhã Nam
Số trang 398
Ngày xuất bản 09-2017
Giá bán Xem giá bán

Giới thiệu sách

Thiên Môn là một môn phái thần bí do hoàng đế thời viễn cổ Đại Vũ sáng lập nên. Võ công tuyệt kỹ của Thiên Môn không cần nổi danh thiên hạ mà vẫn đời đời tiếp nối, ảnh hưởng đến cả đại thế trong thiên hạ. Tương truyền, các bậc đại anh hùng khoáng cổ tuyệt kim trong lịch sử như Lý Tư, Hàn Tín, Gia Cát Lượng… thảy đều là người của Thiên Môn. Truyền nhân của Thiên Môn mà sinh vào thời loạn, ắt sẽ tung hoành thiên hạ, lập nên kỳ tích hoán triều đổi đại; gặp thuở thái bình thì lại ẩn cư chốn sơn lâm, chờ thời vùng lên, dùng trí kế mưu lược của mình để làm nên lịch sử.

Gã thư sinh Lạc Văn Giai bị kẻ thù hãm hại phải lưu đày đến sa mạc xa xôi, nhờ cơ duyên xảo hợp mà gặp được môn chủ Thiên Môn Vân Tiếu Phong, đồng thời bái lão làm nghĩa phụ. Từ một gã thư sinh trói gà không chặt, Lạc Văn Giai lắc mình hoá thân thành công tử Vân Tương, một kẻ không còn thiện, ác, coi khinh mọi đạo đức rởm đời của thế nhân, trở lại giang hồ hiểm trá, từng bước báo thù bằng một trí mưu siêu tuyệt…

Bảng Review

Nội dung
Văn phong
Độ dễ đọc
Ứng dụng
Chất lượng giấy
User Rating: 4.15 ( 1 votes)

Trích dẫn

Thành Đô nằm ở miền Trung của bình nguyên Xuyên Tây, vốn là thủ phủ Ba Thục, cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của cả vùng Tây Nam, đồng thời là đầu mối giao thông trọng yếu nối liền Ba Thục, Cam Túc đến Trung Nguyên. Tuy cách xa Trung Nguyên, nhưng nhờ sản vật phong phú của vùng Ba Thục mà nơi này trở nên trù phú đông đúc không kém gì các thành trì khác như Kim Lăng ở Giang Nam và Lạc Dương ở Trung Nguyên.

Mỗi thành thị đều có một tầng lớp phú hào, số lượng tuy ít, nhưng lại nắm toàn bộ mạch máu kinh tế và chính trị của thành thị đó. Bọn họ hoặc là thương gia, hoặc là quan lại, hoặc là bang hội hoặc lại là một nhà danh gia vọng tộc, tuy thân phận khác nhau, nhưng có một điểm chung đó là họ đều là tinh anh trong thành thị đó. Người bình thường đa phần chỉ nghe thấy tên tuổi của bọn họ chứ rất ít khi nhìn thấy người thật. Bọn họ cao cao tại thượng, ngoài người nhà và đối tác làm ăn ra thì chỉ qua lại với những người cùng tầng lớp. Bọn họ định kỳ hội họp, hoặc kéo bè kết phái hoặc mưu tính hại nhau, vừa cùng hợp tác lại vừa đề phòng tính toán, đồng thời cũng cùng chia sẻ thông tin để tìm kiếm cơ hội làm ăn, như vậy tự nhiên sẽ hình thành một vòng giao du thần bí của riêng bọn họ, cũng chính là xã hội thượng lưu mà người ta vẫn nói.

Địa điểm tụ hội của giới thượng lưu Thành Đô là Đào Hoa sơn trang nằm ở ngoại ô Thành Đô, nơi đây nhìn bề ngoài chỉ là một sơn trang nghỉ ngơi bình thường, bất luận là trang hoàng hay cung cách bài trí đồ đạc đều không có gì tráng lệ, chỉ có những phú hào siêu cấp đã hoàn toàn khắc phục được sự thiếu thốn tiền bạc, mới không còn dùng vàng bạc để điểm trang cho trước cửa nhà mình. Cũng chỉ có những thương gia nhạy bén am hiểu tâm lý của các phú hào mới tô điểm cho những chốn vui chơi hoan lạc trở nên ấm áp như ở nhà vậy.

Đào Hoa sơn trang xét về bản chất, thì chính là một sòng bạc kiêm kỹ viện cao cấp, nhưng ở đây tuyệt đối không nghe thấy tiếng ồn ào thét ngũ gào lục, càng không nhìn thấy cảnh dung tục của các cô nương chào mời đưa đón. Ở đây dù chỉ là a đầu rót trà mang nước cũng đoan trang cẩn trọng như tiểu thư khuê các. Điều này chính là do ngưỡng cửa cao cao tại thượng của sơn trang, ngoài việc trước tiên phải giao nộp một khoản tiền phí năm mà người bình thường nghe thấy sẽ sợ líu lưỡi ra, nếu không có người nổi tiếng ở bản địa dẫn tiến, thì dù có nhiều tiền đến mấy cũng đừng hòng bước qua cửa lớn nơi đây, điều này khiến cho số lượng hào khách có đủ tư cách đến đây mãi vẫn chưa vượt qua nổi con số trăm người. Một khi đã bước vào sơn trang, bất kể bên ngoài có thô tục bậy bạ thế nào, đã đến đây thì phải biết tuân thủ lễ nghĩa, giữ phong thái của bậc quý phái, cử chỉ nho nhã cao sang, nếu không sẽ bị đuổi ra khỏi cửa, mãi mãi không thể trở lại Đào Hoa sơn trang nửa bước. Dù là những kẻ cuồng ngạo đến mấy cũng không dám giở trò gây sự ở đây, bởi đằng sau Đào Hoa sơn trang chính là Đường Môn.

Khi màn đêm từ từ buông xuống, Đào Hoa sơn trang lại bắt đầu một ngày kinh doanh như mọi ngày. Ngựa quý, xe sang, kiệu ấm lục tục được đón tiếp tiến vào sơn trang, xếp thành hai hàng tề chỉnh ngoài hành lang, từ cửa lớn nhìn vào không hề nhìn thấy mụ tú bà hay cô nương nào đón khách cả, chỉ có mấy thiếu niên mặc áo trắng như tuyết dắt ngựa dẫn xe cho khách. Mặt mũi người nào người nấy đều sáng sủa anh tuấn, cử chỉ cung kính lễ nghi, bộ y phục màu nguyệt bạch thướt tha khiến bọn họ nhìn có vẻ yếu đuối, nhưng nếu ai vì thế mà coi thường bọn họ thì nhất định sẽ ân hận cả đời.

Một vị công tử cưỡi bạch mã dắt theo vài người tùy tùng dừng lại trước cửa sơn trang. Mấy thiếu niên đón khách vội chạy đến, cười mỉm chào đón khách quen: “Diệp nhị công tử đã lâu không đến, không biết gần đây bận việc gì?”

Gã trẻ tuổi ngồi trên lưng ngựa mặt mũi trắng trẻo nhẵn nhụi không râu, để mấy người tùy tùng đỡ xuống ngựa, lẩm bẩm đáp: “Vẫn là mấy việc vớ vẩn.” Vừa nói vừa móc một đĩnh bạc dúi vào tay thiếu niên dắt ngựa, kéo y lại gần hỏi nhỏ: “Nghe nói hôm nay có đấu giá? Không biết hàng hóa thế nào?”

Thiếu niên nở một nụ cười ám muội: “Giá khởi điểm ba nghìn lượng, công tử là khách quen, biết rõ sơn trang tuyệt đối không thách giá cao bao giờ.”

Diệp nhị công tử vừa lòng gật đầu: “Xem ra hôm nay bản công tử không uổng công đến đây rồi.” Nói đoạn liền nghênh ngang đi vào, dọc lối đi chỉ thấy đám thiếu niên áo trắng đều nhường đường thi lễ. Bọn y nhận ra vị Diệp nhị công tử này chính là con rể tương lai của chủ nhân, nhị công tử của cự phú đất Ba Thục Diệp Kế Hiên, y tên là Diệp Hiểu, cũng là tay chơi bời nổi danh đất này.

Được hai thiếu niên dẫn đường, Diệp nhị công tử băng qua dãy hành lang, cuối cùng đến trước một gian đại sảnh cổ kính thanh nhã, phía trên cửa đề hai chữ “Thanh Viên”. Đồ đạc trong sảnh dường như không bắt mắt lắm, nhưng khiến người ta cảm thấy hết sức hài hòa dễ chịu, chỉ bậc hành gia chân chính mới nhận ra, bất cứ món đồ nào bày biện ở đây đều đáng giá bằng cả gia tài của một nhà bình thường. Ở đây tuy có thể uống rượu ngon được mang từ Tây Vực sang, nếm hải sản Phù Tang tiến cống, thưởng thức hương liệu sản xuất ở Lưu Cầu, nhưng những thứ đó đối với khách đến Đào Hoa sơn trang thì chẳng có gì đặc biệt cả. Thứ có thể khiến phú gia công tử như Diệp Hiểu phải vội vàng chạy đến, tuyệt đối không phải là những vật phẩm tầm thường kia.

“Diệp nhị công tử!” Diệp Hiểu vừa vào đến Thanh viên, những người khách đến sớm hơn liền lần lượt chắp tay bái chào. Trong giới thượng lưu ở bản địa, Diệp gia là nhà đứng đầu, huống hồ y lại còn là con rể tương lai của Tông chủ Đường Môn nữa, nào ai dám lơ là bất kính.

Diệp Hiểu vừa hờ hững đáp lễ chúng nhân, ánh mắt vừa không ngừng đưa đảo tìm khắp gian phòng, rồi y nhanh chóng tìm thấy bằng hữu thân thiết của mình. Gương mặt anh tuấn lập tức nở ra một nụ cười từ đáy lòng, tiến về phía đối phương, gọi lớn như chỗ không người: “Đường Tiếu!”

“Nhị công tử đã lâu không đến rồi!” Một công tử áo gấm thân hình nhỏ bé vội cười cười bước lên đón. Hai bên chắp tay chào qua loa, rồi Diệp nhị công tử kéo Đường Tiếu lại hỏi nhỏ: “Huynh gấp gáp phái người mời ta đến, rốt cuộc hôm nay đấu giá món hàng gì? Đáng để ta bỏ ra bao nhiêu bạc vậy?”

Đường Tiếu cười bí mật: “Ngươi cứ trả giá thoải mái đi, bỏ ra bao nhiêu cũng không hối hận đâu.”

Diệp Hiểu gật gật đầu hiểu ý: “Có câu nói đó của huynh ta yên tâm rồi, ta sẽ dốc toàn lực bồi tiếp đến cùng.”

Hai người vừa thưởng thức rượu nho Tây Vực vừa nói chuyện ngựa tốt, mỹ nhân. Trong khi đang nói chuyện thì nhìn thấy một thiếu niên áo trắng trong Đào Hoa sơn trang bước lên khán đài phía trước gian đại sảnh, trong sảnh lập tức trở nên tĩnh lặng, chỉ thấy thiếu niên đó đưa mắt nhìn bốn phía xung quanh rồi chỉ vào một bộ đồ sứ nói lớn: “Đồ gốm ngự dụng thời Tống, giá thấp nhất một nghìn lượng, mỗi lần trả giá cao hơn hai trăm lượng.”

Lời vừa dứt trong sảnh đã có người đưa tay trả giá, thiếu niên vừa báo giá đưa mắt khắp gian phòng tìm người trả giá cao hơn. Bộ đồ gốm kia nhanh chóng được người ta mua với giá cao gấp hai lần giá ban đầu. Tiếp theo đó là đấu giá hai món đồ cổ, cuối cùng thiếu niên kia chỉ vào một chiếc rương lớn đặt trên khán đài: “Đây là món đồ cuối cùng được đấu giá trong ngày hôm nay, theo lệ cũ, tiểu sinh không nói nó là cái gì, mà chỉ dựa vào sự hứng thú của quý khách đặt giá, giá thấp nhất là ba nghìn lượng, bước giá tăng thêm năm trăm lượng.”

Mọi người đều biết Đào Hoa sơn trang không bao giờ nói thách giá cao, cho nên tuy không biết trong rương là thứ gì, nhưng vẫn có rất nhiều người lần lượt giơ tay, nhanh chóng đẩy giá tiền tăng lên gấp bội. Diệp Hiểu thấy người trả giá dần ít đi, cuối cùng giơ tay quát: “Một vạn lượng!”

Mọi người thấy Diệp nhị công tử ra tay thì đều rút lui. Diệp Hiểu đang dương dương tự đắc chờ đợi tiếng cồng định giá vang lên, thì thấy trong góc đại sảnh có người từ từ đưa tay lên. Thiếu niên vội chỉ về phía đó báo: “Vị công tử ở phía kia trả một vạn năm trăm lượng.”

Diệp Hiểu không cần suy nghĩ tính toán giơ tay quát giá: “Một vạn năm nghìn lượng!”

Lời vừa dứt đã nghe thấy tiếng thiếu niên cao giọng báo: “Vị công tử ở phía kia trả giá một vạn năm nghìn năm trăm lượng.”

Diệp Hiểu thoáng bất ngờ, thông thường kẻ tranh đua về tiền bạc với công tử con nhà phú hào như gã, tìm cả đất Ba Thục cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay, gã nhìn thư sinh văn nhược xa lạ ngồi ở góc sảnh, hạ giọng hỏi Đường Tiếu ngồi bên: “Tiểu tử đó là ai? Dường như ta chưa gặp bao giờ.”

“Hình như là khách mới do ông chủ Cố dẫn đến.” Đường Tiếu liếc nhìn thư sinh kia một cái, vẫy tay gọi một thiếu niên đến hỏi nhỏ mấy câu, sau đó giải thích với Diệp Hiểu: “Đến từ một gia đình môn phiệt lâu đời tại Giang Nam, tự xưng là công tử Tương.”

“Công tử Tương?” Diệp Hiểu ngẩn ra, để tôn xưng “công tử” trước tên mình, đây là tập tục chỉ có ở thời thượng cổ, ngày nay đã rất hiếm người làm như vậy, trừ phi là hậu duệ đích truyền của quý tộc ngày xưa. Y không nén được tò mò lại nhìn đối phương thêm một cái, rồi mới từ từ giơ tay. Không biết đối phương thực hư thế nào, y cũng không dám tùy tiện tăng giá.

“Diệp nhị công tử trả giá một vạn sáu.” Tiếng thiếu niên vừa dứt thì đã thấy thư sinh kia giơ tay lên. Cậu thiếu niên lại vội báo: “Vị công tử kia trả giá một vạn sáu nghìn năm trăm!”

Diệp Hiểu không chịu thua lại giơ tay lên, nhưng lại thấy thư sinh kia dường như không muốn cứ giơ tay lên hạ tay xuống liên tục, liền dứt khoát giơ thẳng tay luôn. Thiếu niên không ngừng báo giá mới, chiếc rương thần bí kia nhanh chóng được thư sinh và Diệp nhị công tử đẩy lên mức giá ba vạn lượng.

Lần đầu tiên Diệp Hiểu thấy thiếu tự tin. Tuy rằng ba vạn lượng bạc với gã không phải vấn đề gì lớn, nhưng bỏ ra ba vạn lượng bạc mua về một thứ đồ vật chỉ đáng giá mấy nghìn lượng, e rằng sẽ khiến người ta cười chê. Hơn nữa, từ ám hiệu ngầm của Đường Tiếu ít nhiều y cũng phần nào đoán được trong chiếc rương kia là thứ gì, ba vạn lượng khẳng định là đã vượt qua giá trị thật. Y bất giác do dự, vội đưa mắt sang trưng cầu ý kiến của Đường Tiếu, thì thấy đối phương nói nhỏ: “Đối với nhị công tử thì vật đấu giá ngày hôm nay tuyệt đối vượt quá ba vạn lượng.”

Ám hiệu của Đường Tiếu đã mang lại lòng tin cho Diệp Hiểu, để tốc chiến tốc thắng, y lại quát giá một lần nữa: “Bốn vạn lượng!”

Thư sinh kia vẫn cứ hờ hững giơ tay không bỏ xuống, trong tiếng xì xầm của chúng nhân, thiếu niên lại vội báo giá mới: “Vị công tử kia trả giá bốn vạn năm trăm lượng!”

“Năm vạn!” Diệp Hiểu lại quát giá, giọng nói đã hơi khàn khàn. Tuy là con nhà cự phú đất Ba Thục nhưng tiền tài cho y tự do sử dụng cũng có hạn, năm vạn lượng là đã gần đến cực hạn mà y có thể chấp nhận được, nhiều hơn nữa thì phải được cha y đồng ý trước. Y không biết tại sao mình lại bỏ ra nhiều tiền như thế để mua một thứ đồ mà mình chưa nhìn thấy, có thể là sự lãnh ngạo của đối thủ đã đâm trúng trái tim chưa từng một lần bị dồn ép của y cũng nên.

Thư sinh kia vẫn chưa bỏ tay xuống, trước ánh mắt chăm chú của chúng nhân, Diệp Hiểu đành nhắm mắt thêm lần nữa, lại quát giá: “Sáu vạn!”

Thư sinh kia dường như không hề để tâm xem Diệp Hiểu tăng giá lên bao nhiêu, vẫn cứ giơ tay. Diệp Hiểu thấy thái độ của đối phương kiên quyết như thế, cuối cùng hậm hực hừ một tiếng rồi chán nản thu tay về.

“Chiếc rương này đã thuộc về vị công tử kia!” Thiếu niên giọng run run lớn tiếng báo. “Mức giá cao nhất là sáu vạn năm trăm lượng bạc! Thật là khó tin! Chỉ cần công tử thanh toán xong, món đồ trong rương lập tức sẽ thuộc về công tử!”

Thư sinh ghé vào tai nói nhỏ mấy câu với người sắc mặt âm trầm ngồi bên cạnh, gã thanh niên đó lập tức móc trong ngực áo ra một tập ngân phiếu, đếm lấy vài tờ, rồi ngạo mạn đưa đến trước mặt thiếu niên phụ trách đấu giá.

“Là ngân phiếu của Thông Bảo tiền trang, vừa đủ sáu vạn năm trăm lượng!” Thiếu niên run run tay đếm số ngân phiếu, tuy hằng ngày đều tiếp xúc với tiền bạc, nhưng cũng ít khi nhìn thấy nhiều ngân phiếu như thế này, giọng nói y cũng trở nên run rẩy. Y vội mở khóa rương, hướng về phía góc phòng cao giọng hỏi: “Bây giờ vật đã thuộc về công tử! Xin hỏi công tử, ngài sẽ không ngại cho mọi người xem vật phẩm của mình chứ?”

Thấy thư sinh đưa tay ra hiệu “Không vấn đề gì”, thiếu niên liền vỗ vỗ tay, bốn phía lập tức vang lên tiếng đàn tiếng sáo; cùng với tiếng nhạc, một thiếu nữ tóc vàng bán khỏa thân trong chiếc rương đứng dậy, chầm chậm lắc lư vùng bụng mềm mại như không có xương cốt theo nhịp nhạc. Giống như một con rắn đang nhảy múa trong tiếng nhạc. Làn da thiếu nữ trắng nõn nà, nửa thân trên của nàng ta mặc một chiếc áo nhỏ che ngực, trên mặt phủ một tấm mạng mỏng chỉ để hở đôi mắt xanh thăm thẳm như đại đương.

“Thì ra là một ả Ba Tư.” Diệp Hiểu mỉm cười, tuy bản tính háo sắc, nhưng y vẫn biết rất rõ, dù là thiếu nữ Tây Vực đẹp đến mấy chăng nữa thì quyết cũng không đáng giá sáu vạn lượng bạc. Gã lấy làm mừng vì mình không tiếp tục đấu giá, nếu không thì đã bỏ ra mấy vạn lượng bạc mua về một nữ nô Tây Vực, nhất định sẽ bị cười cho thối mũi.

“Nàng ta không phải là nữ tử Tây Vực bình thường đâu,” Đường Tiếu đột ngột nở một nụ cười thần bí, hạ giọng nói nhỏ, “mà là công chúa nước Cao Xương.”

“Sao lại như thế?” Diệp Hiểu khinh khỉnh bĩu môi. Tuy thân phận công chúa có thể khiến giá nàng ta cao hơn mười lần, nhưng vẫn không thể đáng giá sáu vạn lượng.

“Nghe nói không lâu trước đây ở Cao Xương xảy ra phản biến, Quốc chủ bị ám sát, trong nước đại loạn, công chúa vì thế phải lưu vong đến Ba Thục.” Đường Tiếu hạ giọng giải thích. “Hôm trước công chúa tìm đến Đào Hoa sơn trang, yêu cầu tự bán thân. Nàng ta muốn tìm một chỗ dựa có thực lực hùng hậu giúp mình phục quốc. Xem ra tên tiểu tử kia đã nghe phong thanh điều này, vì thế mới không tiếc bỏ ra hơn sáu vạn lượng bạc mua lấy vị công chúa đang gặp nạn, đồng thời coi như mua một cơ hội vào làm chủ nước Cao Xương.”

Diệp Hiểu thầm rúng động trong lòng, nhưng ngoài mặt lại ra vẻ không quan tâm, thản nhiên cười. “Ngôi vị quốc vương một nước nhỏ ở Tây Vực thì đâu có gì hấp dẫn với ta chứ, càng huống hồ ta không thể làm phò mã của nàng ta được, huynh lại không biết chắc.”

Diệp Hiểu và tiểu thư Đường Môn có hôn ước, cho dù công chúa nước Cao Xương ở ngay trước mặt y cũng không dám hủy bỏ hôn ước. Đường Tiếu tuy không phải đệ tử trực hệ của Đường Môn, nhưng cũng biết rõ chuyện này. Tuy y và Diệp Hiểu là hạng bằng hữu ăn uống chơi bời đánh bạc, chẳng ngại điều gì, nhưng Đường Tiếu cũng không dám xúi giục con rể tương lai của Đường Môn nạp thiếp, vội giải thích: “Muốn đến Tây Vực thì buộc phải qua Cao Xương, bất luận là tơ lụa Giang Nam hay trà Phúc Kiến đều phải qua nơi đó mới đến được các nước Tây Vực xa xôi, ngược lại gấm vóc, nhung thảm lông dê hay vàng bạc châu báu của Tây Vực cũng phải đi qua Cao Xương mới đến được Trung Nguyên. Cao Xương ấy trấn giữ ngay yết hầu trên con đường qua lại giữa Tây Vực và Trung Nguyên, thật đúng là mảnh đất tốt để ngồi mát ăn bát vàng. Công tử để lỡ mất cơ hội này thật là đáng tiếc.”

“Vị công chúa kia đáng tiền như thế, Đường Môn sao không giữ lại?” Diệp Hiểu không hiểu, hỏi.

Đường Tiếu thở dài, nét mặt lộ vẻ tiếc nuối: “Diệp huynh cũng biết quyền hành trong nhà chúng ta đều nằm trong tay đám lão già ấy mà, xưa nay bọn lão luôn bảo thủ dè dặt, thậm chí rất ít khi đặt chân nửa bước ra khỏi Ba Thục, trong đầu chỉ chăm chăm nghĩ đến mảnh đất Thục bé bằng nắm tay này. Lần trước hợp tác với Nam Cung thế gia ở Dương Châu xây dựng trường đua ngựa, ta cũng phải dốc hết sức bình sinh mới thuyết phục được đấy, đó cũng là nể địa vị của Nam Cung thế gia mà kết minh. Nếu như muốn họ bỏ tiền ra ném vào một nước Cao Xương nhỏ bé xa xôi, thì chẳng bằng bảo họ mang tiền ra ném thẳng xuống sông nghe tiếng còn hơn.”

“Nói cũng phải!” Diệp Hiểu đồng cảm gật đầu. “Diệp gia chúng ta tuy làm ăn xa đến tận Tam Giang, nhưng lão đầu tử nhà ta tuổi đã cao, không còn có được sự quyết đoán và sáng suốt thời trẻ nữa, nhà chúng ta đến năm năm nay không mở thêm một hướng làm ăn mới nào rồi. Nếu như muốn ông ấy bỏ tiền ra đầu tư vào một nước nhỏ chưa bao giờ đặt chân đến ở Tây Vực, như thế khác nào muốn lấy cái mạng già của ông ấy đâu chứ?”

 

Để lại comment

avatar
7000