Trang chủ / Review / Tâm thức Israel

Tâm thức Israel

Nội dung

Tâm thức Israel là câu chuyện về một dân tộc mạnh mẽ, kiên cường nhưng cũng lắm thương đau và đầy gian khổ. Tuổi thơ của những đứa trẻ Israel đến khi lớn lên hay già cỗi, luôn bị đe dọa bởi những cuộc chiến. Mọi đứa trẻ sinh ra trong vùng chảo lửa chiến tranh, mặc nhiên hình thành tính cách thẳng thắn, bộc trực, đâu đó lại có chút phòng vệ và cứng đầu,và đầy mâu thuẫn.

Câu chuyện trong Tâm thức Israel không đơn thuần là cuộc sống riêng của một gia đình Do Thái, mà chính là hiện thực khắc nghiệt với mọi người dân Do Thái. Bữa ăn hàng ngày, mạng sống và tự do. Tất cả những gì họ cần chỉ là những thứ thiết yếu, phải chăng luôn mong manh và có thể bị tước đoạt trong chớp mắt.

Vai trò của Israel trong sự tồn tại của thế giới đương đại được dẫn dụ từ cái nhìn lịch sử, tất cả mọi biến động đều được tác gỉả ghi lại lời kể chi tiết đến từng góc cạnh, góp phần lý giải tâm thức của những con người Do Thái vốn mang dáng vẻ bí ẩn và thu hút đến kỳ lạ với phần còn lại của thế giới.

Có lẽ không ai phù hợp để nhận sứ mệnh khắc họa nên bức tranh Israel hơn một người sinh ra trên mảnh đất này, nhìn nhận văn hóa tại quê hương và hấp thụ nền giáo dục phương Tây. Alon Gratch sẽ mang đến sự phản ánh chân thực nhất, như một cuốn từ điển về tâm thức một dân tộc, lý giải vị trí của Israel trên bản đồ thế giới.

Nét riêng biệt tạo nên bởi cách tác giả kết hợp việc kể lại câu chuyện và lý giải thực tế, mang tới cho độc giả một cảm nhận gần gũi như đang được xem một thước phim tài liệu vậy. Tôn giáo và chính trị, cuộc sống và con người, nạn nhân và kẻ thủ ác, trí tuệ và linh hồn … tất cả tạo nên một bản sắc Israel bí ẩn, cấu thành tương lai khu vực đầy biến động-Trung Đông và thậm chí, có thể thay đổi cả thế giới.

Thể loạiSách lịch sử thế giới
Tác giảAlon Gratch
NXBLao động
Số trang340
Năm2016

Review

Piccolo Panda

Tôi từng có một người bạn gốc Palestine, bạn ấy kể cho tôi nghe về căn nhà của ông bà đã mất dưới tay Israel. Từ đó nhà bạn ấy phải chuyển đến Jordan rồi Liban, rồi sau đó sang Mỹ. Nên tôi sẵn có cảm tình với cuốn sách.

Thật may là tôi đã không vì một sao đánh giá bỏ qua nó. Cách viết rất hay, sâu sắc, khơi gợi, pha chút lịch sử, pha chút tâm lý, có cả điện ảnh, văn thơ, kịch nghệ. Đúng kiểu tôi muốn đọc.

Bao Huy

Tôi có cảm giác như tác giả thù ghét israel và người Do Thái, tất cả các luận điểm đều là trỉ trích tinh thần dân tộc, tính vị kỷ, sự thành lập nhà nước israel như 1 sự sai trái.

Lâm Bình

Kiến thức chúng ta về một sự vật, sự việc, một quốc gia bị ảnh hưởng nguồn thông tin mà ta thâu nhận về nó. sự đa dạng luôn cho phép ta có một cái nhìn toàn vẹn hơn. Nếu đọc cuốn sách này mà bạn cảm thấy gai người như tôi thì hãy cảm ơn nó mà đọc tiếp đi ạ, rất có thể bạn được nhìn thấy mặt kia của mặt trăng.

Cũng như bao người, tôi bị hấp hồn bởi trí tuệ và thảm kịch Do thái, những bộ phim về Holocaust với tính khủng khiếp của thảm họa nhân tính nhưng cũng tràn đầy tính nhân văn của những con người bị sống trong cảnh phi nhân tính. Ôi, nếu kể ra đây thì không hết: Jacob kẻ nói dối; Romeo, Julliet và bóng tối, Câu bé mặc áo sọc pijama, anne frank, kẻ trộm sách, danh sách schinler, NGhệ sĩ guitar,…

Và ở đây tôi được chứng kiến lại một lần nữa lòng chính trực của một người Do thái, dám nói lên suy nghĩ của mình, ngược lại suy nghĩ của số đông. Và chính cuốn sách này cũng ngược lại dòng sách về Israel – Do thái mà tôi từng đọc. Nên nhớ tác giả là người Do thái nhưng di cư sang Mỹ, vẫn đau đáu về bản sắc Do thái có một lần nữa bị mai một, gột bỏ trước xung đột Israel – Palestine, phần nào bất công phi nhân tính như thảm họa Holocaust mà ông cha họ đã phải chịu đựng ngày nào.

Khác với những cuốn sách về Do thái – Israel, không có những lời ca tụng trí tuệ, không có những lời ngợi ca quốc gia khởi nghiệp, mà là một cuộc săm soi nhất quán vào trong tinh thần Do thái, với cái nhìn thẳng thắn về thực tế khó đối mặt với chính bản thân người trong cuộc. Những chi tiết hay ho kể ra đây thì nhiều, bạn hãy tự đọc, biết đâu sẽ giúp ích cho bạn không chỉ là cái nhiền đa chiều, mà nhiều chi tiết văn hóa hơn nữa. Còn đọng lại trong đầu tôi lúc này là hình ảnh những người Israel ở trong chính ngôi nhà của những người Ả rập tại Palestine, với những hoa văn của người Ả rập, nhưng phủ nhận chính sự hiện diện của người Ả rập trước đó, là hình ảnh nhà văn Do thái đã ngã quỵ trước tòa khi đứng ra làm chứng về tội ác Holocaust (rất dễ tìm trên utube), là hình ảnh nhà hoạt động xã hội nữ mà tôi đã quên tên, hình ảnh người lính từ quân đội trở về bị chấn thương tâm lý nghe tựa như người lính Mỹ trở về từ chiến tranh Việt nam….

Đọc xong cuốn sách này bạn hỏi tôi có bớt yêu người Do thái đi không? Là không, vì tôi tin vẫn có những người Do thái đầy đủ phẩm chất, lương tri và sự dũng cảm như tác giả của cuốn sách này.

Trích đoạn

CẢ THẾ GIỚI QUAY LƯNG VÀ CÂM NÍN TRƯỚC NỖI ĐAU CỦA TA

Không khó có thể nhận thấy những người được lựa chọn phải trải qua một lịch sử thù địch triền miên dai dẳng – sự tàn ác, lòng hận thù vô cớ và thâm căn cố đế của thế giới Thiên Chúa giáo phương Tây, và một sự tổng hợp nhiều thành phần của những thành kiến, thái độ khinh bỉ, rẻ rúng trên những vùng đất Hồi giáo đã đổ dồn về những người Do Thái. Lại thêm sự phủ nhận mang tính lịch sử của thế giới Ả Rập đối với tính hợp pháp của nhà nước Israel, tất cả nỗi chịu đựng này sản sinh trong tâm thức của người Israel một cấu trúc tinh thần đi từ chủ nghĩa hoài nghi tích cực về ý đồ của người khác đến sự đa nghi và hoang mang đáng xấu hổ. Trong tâm thức của người Israel, những cảm thức xa xưa về những vụ bạo động bất ổn đang va chạm với thực tế gần đây hơn của đất nước, với vị thế là quốc gia tiên tiến và hùng cường nhất khu vực. Đúng là có một số lượng lớn những người ở hải ngoại là những học giả, nhà tâm lý học và thậm chí cả những chính trị gia người Israel, chính xác vì họ là những thành viên của số đông những người Do Thái xuất chúng trong chính đất nước của họ, nên họ đủ hiểu biết để nhận ra rằng những câu chuyện về việc bị trừng phạt của cả người Do Thái lẫn người Israel đều phức tạp hơn là những gì nó biểu hiện ra.

Bernard Susser và Charles Liebman, hai nhà nghiên cứu chính trị ở Đại học Bar Ilan – một trường đại học danh giá kết hợp giữa tính tôn giáo Do Thái với những ngành học thuật hiện đại – đã miêu tả yếu tố tâm lý Do Thái này như một “tư tưởng về tai họa”. Tái diễn giải và đặt trong bối cảnh của chúng ta, phân tích của họ đã vạch một đường thẳng phân cách giữa Những Người Được Lựa Chọn và Những Người Bị Hành Hạ hay giữa chứng ái kỷ và hoang tưởng cục bộ. Như họ đã nhận ra, mà không cần một hệ tư tưởng đạo đức – tôn giáo nào giải thích cho việc những người Do Thái bị tra tấn, lịch sử Do Thái chẳng là gì ngoại trừ một câu chuyện vô nghĩa về vai trò quan trọng và nỗi nhục nhã của nó. Theo đó những rabbi chính thống giáo, những người lãnh đạo cộng đồng Do Thái tồn tại trong gần hai thiên niên kỷ Diaspora, đã biện minh cho những đau khổ của người Do Thái bằng luận điệu về Những Người Được Lựa Chọn, mà kẻ thù của họ chỉ đơn thuần là tay chân của vị Thiên Chúa của người Israel chỉ vì ngài muốn trừng phạt tội lỗi của con dân ngài. Cuối cùng, vị Chúa cứu thế sẽ đưa con dân Do Thái trở về vùng đất Israel, vào đúng thời điểm mà những người ngoại đạo sẽ công nhận nhiệm vụ độc tôn của người dân Israel và chấp nhận Thiên Chúa của người Israel là Thiên Chúa của họ. Bởi lẽ đó tính độc đáo của người dân Do Thái nằm ở chính nỗi thống khổ bị đày đọa cũng như sự tự tôn của họ, luẩn quẩn trong mối quan hệ quả trứng và con gà: vì họ bị đày đọa, nên họ là Những Người Được Lựa Chọn, và vì họ xử sự như là những người được lựa chọn nên họ bị đày đọa(102)!

Bi đát hơn, tiểu thuyết gia David Grossman trong cuốn To the end of the Land đã vẽ lên một câu chuyện cảm tính hơn nói về sự dâng nộp, mà ở đó, nhân vật chính Ora đã kể lại một câu chuyện về người con trai trẻ trung nhạy cảm của bà ta trong một buổi Lễ Vượt Qua của gia đình như sau:

Bất ngờ, [nó] gào lên là không muốn làm dân Do Thái nữa, vì họ muốn luôn giết chúng ta và căm thù chúng ta, và nó biết rõ điều đó vì tất cả các ngày lễ đều nhắc đến chuyện ấy. Rồi những người lớn nhìn nhau, một người anh rể lầm bầm rằng nói về chuyện này chẳng vui vẻ gì, và vợ hắn nói “Đừng có hoảng!” rồi hắn đọc một câu trích dẫn “thời nào cũng vậy, chúng nổi lên chống chúng ta để hủy diệt chúng ta” cô ta đáp lại rằng điều đó không phải là một thực tế có bằng chứng khoa học, chúng ta nên xem xét lại vai trò của mình trong toàn bộ việc “nổi lên chống chúng ta”, rồi cuộc tranh luận cố hữu lại diễn ra, và Ora, như thường lệ, lui về nhà bếp để giúp bày bát đĩa(103).

Con trai của Ora, được nuôi dưỡng để trở thành một thanh niên gan góc, biết kiềm chế và là một chiến binh IDF(104) trận mạc, biểu hiện cho sự chuyển dịch mang tính cách mạng từ Diaspora tới Do Thái của người Israel. Sau rốt, quan điểm của chủ nghĩa Phục quốc Do Thái không chỉ là kết thúc nỗi nhục nhã Do Thái mà còn là chính tư tưởng Do Thái. Ở một mức độ khá cao, ở phía khỏe mạnh hơn của liên thể ái kỷ(105), phiên bản hoài nghi của người Israel dành cho những kẻ ngoại đạo đã thu được thành công khá lớn. Nhà báo Thomas Friedman cho rằng thái độ truyền thống của người Do Thái đối với những kẻ ngoại đạo và việc giữa người Ả Rập không có một kiểu tình cảm như thế là một trong những lý do khiến người Do Thái có được một nhà nước còn người Palestine thì không. Trong khi ở thế giới Ả Rập, kẻ thù của ngày hôm nay có thể là đồng minh vào ngày mai, thì như Friedman quan sát, những người Do Thái Đông Âu đã xây dựng một nhà nước Israel được biết đến như một “nền văn hóa của những sắc cạnh và những góc vuông vắn”, mà ở đó kẻ thù của ngày hôm nay vẫn sẽ là kẻ thù của ngày mai(106).

Cụ thể hơn, theo báo cáo của nhà sử học Tom Segev, khi chính phủ và quân đội Anh đang chuẩn bị rút khỏi Palestine, Jewish Agency lại cho rằng họ sẽ bỏ đi trong một cơn hoảng loạn đột ngột và để lại một đống hỗn độn, bừa bãi. Một trong những nguồn tin mật của cơ quan này dự đoán người Anh sẽ bỏ đi với chiến lược vườn không nhà trống. Tuy nhiên người Anh lại không hề có ý định như thế. Tinh thần chủ đạo của họ là đảm bảo duy trì chức năng của cơ sở hạ tầng chính phủ mà họ đã vất vả xây dựng trong suốt 25 năm. Nhưng không giống như những nước Ả Rập, và đây là hệ quả của việc đánh giá tình hình đầy tính nghi ngại, người Do Thái đã đảm bảo có một chính phủ dự bị, bởi vậy trước khi bỏ đi, người Anh chẳng có ai khác để chuyển giao bộ máy hành chính(107). Có nhiều ví dụ khác, đặc biệt là trong quân đội, có thể được kể ra để minh họa cho lời tái diễn giải vẫn còn nguyên giá trị của một cách ngôn trong Kinh Thánh cổ: hãy nhớ đến những gì người Amalek làm với ngươi(108). Nổi tiếng nhất, vào năm 1967, Israel thực hiện kế hoạch mà họ cho rằng sẽ trở thành cú đánh chí tử với Ai Cập, phá hủy không lực trong vài giờ và đánh bại quân đội của bốn nước Ả Rập. Sáu ngày sau trước khi chiến sự kết thúc, Israel đã mở rộng lãnh thổ lên gấp ba lần. Chiến dịch quân sự này chẳng thể tính toán được hết tầm mức của nó, mặc dầu một nước đối đầu với nhiều nước có quân đội không tinh nhuệ, nhưng đông đảo. Ngược lại, chiến tranh năm 1973 lại là một ngoại lệ minh chứng cho quy tắc này, khi Israel bị đánh úp bất ngờ, hoảng loạn một cách vô ích, thì đó chính là hậu quả của chính sự phi thường của nó, chính là một chiến thắng trước đó.

Nhưng sau đó, một lần nữa, như nhiều học giả người Israel đã lưu ý, sự dịch chuyển tư tưởng về sự đày đọa ở Palestine và sau này ở Israel của chủ nghĩa Phục quốc Do Thái chưa bao giờ là một thành công thuần túy. Vì một thứ, mối liên kết ái kỷ-hoảng loạn có vẻ như đã tồn tại trong cuộc cách mạng. Như Segev đã chỉ ra khi thảo luận về thị trường lao động người Do Thái và Ả Rập ở Palestine, bắt đầu từ thập niên 1920, những người Zion thường gọi việc người Do Thái thuê nhân viên Ả Rập là avodazara. Từ này dịch nôm na là “lao động nước ngoài”, thực sự lại là một thuật ngữ tôn giáo lịch sử chỉ sự sùng bái thần tượng. Việc sử dụng thuật ngữ này vừa thể hiện thái độ khinh bỉ lẫn nỗi sợ hãi đối với thế giới ngoại đạo. Nó cũng có nghĩa là chắc chắn đồng lương sẽ chênh lệch rõ rệt – cứ như thể những người Ả Rập là những kẻ nhập cư bất hợp pháp chứ không phải là những người bản địa. Trong khi cố gắng để nắm bắt được không khí của Jerusalem ở thập kỷ 1920, trong rất nhiều nguồn mà Segev đã đưa ra dẫn chứng, có những lá thư của một sinh viên đại học gửi cho cha mẹ ở nước ngoài. Những bức thư này có nhắc đến một vụ động đất hiếm gặp rõ ràng là đã gây nguy hiểm cho một trong những ngôi đền ở Núi Đền, mà không phải là bức tường Than khóc kế bên, người thanh niên ấy đã lưu ý rằng đó là do “bàn tay của Chúa”(109). Mấy năm sau, ở rất xa Jerusalem, nổi lên một cơn bão tranh luận về sắc tộc ở Safed khi trẻ con Ả Rập bắt đầu đến chơi ở một sân trường mới dành cho trẻ con Do Thái. Các bậc phụ huynh Do Thái phản đối, và lãnh đạo cộng đồng Do Thái ở Safed và thị trưởng Safed ủng hộ họ. Cùng với nhiều vấn đề khác, ông ta khẳng định rằng con em Do Thái cần phải được giáo dục trong tinh thần của kinh Torah, và rằng tinh túy Do Thái cần phải được giữ gìn không bị nhiễm lẫn với những “kẻ đê tiện”. Ông ta viết, trẻ con Ả Rập đã nhiễm tính xấu ngay từ buổi ban đầu của thời thơ ấu: “Thậm chí ngay từ lúc mới sinh ra đến lúc 10 tuổi, mồm miệng bọn chúng chỉ thốt ra những lời bẩn thỉu tục tĩu, không chỉ vậy, chúng còn làm những trò hư hỏng, đồi bại.”(110) Những thái độ đó không chỉ độc nhằm vào người Ả Rập hay đạo Hồi. Ví dụ như sau khi người ta phát hiện ra Hans Herzl, con trai của người sáng lập, chủ nghĩa Phục quốc Do Thái, đã cải sang đạo Thiên Chúa, biên tập viên của tờ nhật báo Yishuv đã bình luận rằng ít nhất thì hắn không phải là một kẻ khốn kiếp như Jesus.

Tuy nhiên, cuộc xung đột thực sự ở Palestine lại chẳng phải vì tôn giáo mà liên quan đến vấn đề dân số và nhà nước vì những người Zion buộc phải đối mặt với một thực tế là một bộ phận lớn những người Ả Rập thù địch ngày càng gia tăng và càng lấn lướt. Học giả người Israel Nurith Gertz khảo sát những đoạn văn phi hư cấu trong các ấn phẩm in ấn trong suốt thập kỷ 1930 đã lưu ý rằng rất nhiều những bài thảo luận về bản chất có vẻ như không thể giải nghĩa được về những cuộc tấn công của người Ả Rập đối với những cư dân Do Thái đã quy về cho những cuộc tấn công bài Do Thái. Nurith Gertz đã dẫn ra một bài báo tiêu biểu viết rằng: Chẳng có gì thay đổi từ cái ngày những ngôi đền đầu tiên và ngôi đền thứ hai bị đánh đổ, vẫn là thái độ thù địch đối với những người Do Thái chăm chỉ(111). TomSegev đưa ra một ví dụ rõ ràng về khoảng cách giữa thực tế và lời lý giải về vụ thảm sát đáng hổ thẹn năm 1929 ở Hebron. David Ben-Gurion đã so sánh vụ thảm sát này với một pogrom(112), và sau này ám chỉ về một Hebron không có người Do Thái bằng cách sử dụng từ của Đảng viên quốc xã Judenrein. Các lãnh tụ và các nhà văn khác cũng gọi nó là một pogrom, Rehavam Ze’evi viết rằng một bộ phận đông đảo người dân Ả Rập đã nhúng tay vào những vụ giết chóc ấy và “những trận pogrom, những lần tàn sát, thảm sát đã trở thành một phần lịch sử của đất nước chúng tôi trên đất Diaspora của bọn họ và bây giờ cảnh tượng kinh hoàng ấy lại tái diễn ở Xứ sở Israel.”(113) Tuy nhiên, thực tế lại không giống như những cuộc pogrom ở Đông Âu, các nhà chức trách không khởi xướng cũng chẳng tha thứ cho những vụ bạo động ấy. Thêm vào đó, hơn 2/3 người Do Thái ở Hebron đã được các gia đình Ả Rập cứu thoát bằng cách đưa họ về nhà mình. Cũng như thế, mặc dù có 67 người Do Thái bị giết và hàng tá người bị thương, nhưng trong con mắt sử học, nó vẫn không thể so sánh được với những trận pogrom ở Đông Âu có tới hàng trăm đến hàng nghìn người bị giết hại. Cuối cùng, Segev đã chỉ ra, có nhiều cớ sự dẫn đến thảm sát Hebron, từ nỗi sợ hãi về bạo lực tôn giáo và về việc bị phong trào Zion khai trừ cho đến lòng căm thù người ngoại quốc và cuộc chiến giai cấp. Trong khi đó, rất nhiều vụ pogrom điển hình của châu Âu và Nga hoàng lại được khai hỏa bởi một vụ xô xát mang tính địa phương mà người Do Thái bị đổ thừa một cách bất công vô lý.

Nhà xã hội học Oz Almog nhận ra rằng ngôn ngữ được sử dụng trong báo chí Do Thái khi miêu tả những thù địch của người Ả Rập bắt đầu từ thập niên 1920, 1930 cũng đã tạo ra một hình ảnh về những người Ả Rập như một phiên bản Amalek, kẻ thù của người Hebrew trong Kinh Thánh luôn tìm cách hủy diệt họ, và một hoán dụ cho bất cứ kẻ bài Do Thái hoặc kẻ thù nào của người Do Thái hay Israel. Almog đã khiến chúng ta lưu ý tới một truyền thuyết về lấy ít địch nhiều… Chủ đề về việc ít ỏi về số lượng nhưng dồi dào về lòng quả cảm, niềm tin, tài khéo léo hoặc những giá trị đạo đức có ở mọi nơi trong lịch sử, những chuyện thánh kinh, và kinh cầu nguyện của người Do Thái. Dìm chết quân đội của pharaoh ở trên biển, chiến thắng trước Amalek ở Refidim, chinh phục Joshua, cuộc nổi dậy của Maccabee chống lại người Hi Lạp, và cuộc nổi dậy của Bar Kokhba chống lại La Mã chỉ là một vài ví dụ. Những câu chuyện kể về sự tích ra đời của những ngày lễ Do Thái, ví dụ như Hanukkak và Lag b’Omer, luôn minh họa rất rõ ràng cho chủ đề ấy. Trong chủ nghĩa Phục quốc Do Thái hiện đại mang trong mình tính thế tục, thì tính ưu việt của số ít được cho là đã được thể hiện ở khía cạnh chất lượng đánh bại số lượng, lấy trí tuệ, tinh thần tiên phong, chủ nghĩa anh hùng và đạo đức bù lại kiểu quý hồ tinh bất quý hồ đa.(114)

Trong khi rõ ràng có phần nào sự thực như thế khi so sánh những quốc gia Ả Rập – nhìn chung những người Zion đã từng, và hiện vẫn thế, hơn hẳn về học vấn, năng suất lao động và hoàn thiện hơn – thì sự ưu việt tự nhận thức được này này chẳng khiến cho họ có được bất kỳ niềm thông cảm nào từ những hàng xóm láng giềng. Như Gertz đã trình bày, trong suốt cuộc chiến tranh năm 1948, cả báo chí lẫn những nhà văn viết tiểu thuyết hư cấu người Do Thái đều khắc họa những người Zion là xông xáo, nhiệt huyết, anh hùng, kiên cường và bình dị. Trong khi người Ả Rập Palestine bị miêu tả là những kẻ yếu ớt, khiếp đảm, thụ động và thu mình. Khái quát hóa theo những biểu hiện ái kỷ như thế này, nhà tâm lý học người Israel Ofer Grosbard ví Israel với một bệnh nhân đang chữa trị theo liệu pháp tâm lý, mà trong buổi chữa trị đầu tiên cứ nằng nặc rằng anh ta chẳng bị sao hết. Vấn đề là, anh ta nói với bác sĩ trị liệu, anh ta quá tài năng, quá khác biệt và quá thành công đến nỗi những người khác đơn giản chỉ là ghen ghét và hận thù với anh ta mà thôi.(115)

Kiên định với sự phòng vệ như thế, ngày nay, nhiều người chỉ trích những chính sách của chính phủ Israel liên quan đến vấn đề người Palestine bị buộc tội rằng chính họ (người chỉ trích – ND) mới có vấn đề, chứ không phải là những chính sách của chính phủ. Đôi khi, đây là một phản ứng bồng bột kiểu giận cá chém thớt(116), đổ lỗi cho những người chỉ trích, nhưng thường là nó bắt nguồn từ một sự kết tội sâu xa hơn, và vẫn chỉ là bổn cũ soạn lại. Ví dụ như, trong suốt giai đoạn người Anh nắm quyền ủy trị ở Palestine, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Anh đã phản đối việc cho phép những nạn nhân sống sót trong vụ Đại thảm sát được định cư ở Palestine. Người Yishuv đã lớn tiếng kết tội ông ta là một người bài Do Thái, thậm chí ngay cả khi lý do cơ bản mà ông ta phản đối chính là vì trách nhiệm đạo đức của châu Âu trong việc đưa những người Do Thái hồi hương và ông đã cực lực phản đối chủ nghĩa phân biệt chủng tộc dưới bất kỳ hình thức nào. Ông ta có thể từng là người bài Zion, nhưng không phải là bài Do Thái. Có thể liệt kê ra đây quá nhiều ví dụ cho thấy một số người Mỹ Do Thái, thậm chí ngay cả những người Israel cũng còn quá đáng hơn, đã đánh đồng việc chỉ trích Israel với bài Do Thái. Khi người chỉ trích là người Do Thái, anh ta thường bị coi là một người Do Thái tự ghét chính mình. Việc mỗi lớp lang xung đột Israel – Palestine lại đánh thức một kiểu bài Do gì đó trong thế giới cũ không có nghĩa là không có sự khác biệt giữa một lời chỉ trích mạnh mẽ những chính sách của người Israel với chủ nghĩa bài Do Thái. Có thể thấy rất rõ điều này trong suốt cuộc chiến tranh Israel – dải Gaza vào năm 2014, khi chính các chính phủ chỉ trích tư cách đạo đức của Israel trong cuộc chiến này đã buộc tội gay gắt việc gia tăng đáng sợ những vụ bài Do Thái trong xã hội của họ. Tuy nhiên, càng khiến cho mọi chuyện trở nên phức tạp hơn, trong suốt cuộc xung đột này, vì rất nhiều lý do, bao gồm cả việc cực đoan hóa các cộng đồng Hồi giáo ở châu Âu và bản chất của cuộc chiến tranh, một sự nhập nhằng đánh lận con đen giữa những sắc thái bài Israel và bài Do Thái đã xuất hiện và hoành hành trên khắp thế giới.

Bản chất nguy hiểm của mối liên kết giữa động lực đền bù mang tính ái kỷ trong vấn đề Người Được Lựa Chọn với yếu tố gây hoang tưởng về Những Người Bị Áp Bức đã được nhà triết học Moshe Halbertal nhấn mạnh theo những thuật ngữ hơi khác một chút. Thảo luận về Sách Esther(117), cuốn Kinh Thánh mà người Do Thái truyền thống thường đọc trong ngày lễ Purim. Halbertal đã chỉ ra rằng nó đã kết thúc bằng việc người Do Thái cũng trả thù tất cả những kẻ thù của mình. Theo Halbertal và Ezrahi, những câu chuyện hoang đường về việc thần linh có mắt như thế là bình thường trong tư duy của người Do Thái, được dựng lên để trấn áp nỗi sợ hãi và nhục nhã, là đặc trưng trong cuộc sống Diaspora. Như Halbertal đã nhận ra, hiện nay việc Israel có một lực lượng quân sự hùng hậu, khiến những mộng tưởng hoang đường như vậy có thể dẫn đến một trận đánh kiểu như trận chiến dưới bàn tay chỉ huy của Baruch Goldstein trong lễ Purim năm 1994, làm chết 29 người và làm bị thương hơn 125 những người Hồi giáo đang cầu nguyện tại Hang Hebron ở Patriarchs(118). Trong một khuynh hướng phát triển gần đây, khi gặp gỡ tổng thống Obama vào mùa xuân năm 2011 để thảo luận về nguy cơ Israel tấn công phá hoại trang thiết bị của nhà máy hạt nhân của Iran, thủ tướng Israel Bibi Netanyahu đã tặng Obama cuốn sách của Esther. Không chỉ câu chuyện về Esther kết thúc với một sự trả thù kinh khủng, mà nó còn bắt đầu với âm mưu người Ba Tư hủy diệt người Do Thái.

NẾU TA QUÊN NGƯƠI THÌ TA SẼ SỐNG LƯU VONG

Có lẽ điểm nguy hiểm nhất nằm ở dải quang phổ hoài nghi – hoang tưởng ngụ trong tinh thần người Israel đã đi vào tiêu điểm, và ở ca bệnh Israel rõ ràng là c nói như vậy, đó là những người hoang tưởng cũng có kẻ thù thực sự. Sự thật là những người hoang tưởng chắc chắn có kẻ thù vì chính họ tạo ra chúng. Người mắc chứng hoang tưởng không thể tha thứ và không thể ý thức được sự thù địch của chính mình và bởi vậy mới gắp lửa bỏ tay người, đổ thừa rằng người kia đang ra tay với anh ta. Tự nhiên, lời buộc tội này bị những người khác xem là hành vi công kích, do vậy họ phản ứng bằng cách tấn công lại, thành ra kẻ hoang tưởng kia có bằng chứng rằng họ đúng là đã ra tay với anh ta. Bởi vậy khi Israel có hàng tấn lý do từ bên ngoài, nhiều lý do đã tồn tại lâu đời, một vài lý do mới nảy sinh, để cảm thấy bị đe dọa, một vài lý do là từ sự bất an mang tính sống còn là kết quả của một chu trình “phóng chiếu – hấp thu thụ động”. Như Nurith Gertz đã đưa ra tài liệu, sự phóng chiếu hoang tưởng này, cùng với người bà con mang tên ái kỷ, là một đặc điểm thường thấy trong tâm thức của người Do Thái về người Ả Rập bản địa trong suốt thời kỳ định cư của những người Zion trên đất Palestine. Những người Zion tự coi bản thân là hình mẫu của phương Tây văn minh, nhân văn, bị những kẻ sống du mục trên sa mạc bản chất ưa bạo lực tấn công và giết hại không rõ lý do. Họ đã không thể nhận ra bất cứ dấu hiệu nào cho thấy chính họ mới là kẻ thù địch hoặc đigây hấn, cho thấy mảnh đất họ đến ngụ cư đã có người định cư. Nhà tâm lý học người Israel Benjamin Beit-Hallahmi đã giải thích việc người Israel ngày hôm nay không thừa nhận những gì mà ông ta gọi là tội tổ tông – bên cạnh việc giúp nhiều người Do Thái, chủ nghĩa phục quốc Zion cũng là một phong trào thực dân – vì một viễn cảnh kinh hoàng rằng nếu họ thừa nhận bất cứ tội lỗi nào, họ sẽ bị trừng phạt còn dã man hơn rất nhiều so với tội ác mà họ đã gây ra.(119) Một ý kiến khác cho rằng người Israel phải đổ tội gây hấn cho những người Palestine bởi họ không thể chịu đựng nổi cảm giác tội lỗi về chuyện ấy.

Mặc dù Israel đang dần ý thức về mối nguy của chủ nghĩa bài Do Thái đã tồn tại từ lâu đời và sự thù địch vô lối của những quốc gia Ả Rập trong ba đến bốn thập kỷ đầu độc lập, nhưng nó vẫn thừa nhận một thực tế rằng hiện nay nó đã có sức mạnh hùng cường, một vài quốc gia Ả Rập quan trọng đã chấp nhận nó, và những người Palestine thực ra tương đối yếu ớt, vô hại. Cứ viện cớ là tự vệ, người Israel đã hành động thái quá đối với những mối nguy tự họ nghĩ ra và đã sử dụng lực lượng áp đảo, chỉ để tái tạo những kẻ thù trong quá khứ – làm như thể kẻ thù hiện tại thôi là vẫn chưa đủ vậy – và củng cố nỗi lo sợ rằng sẽ bị hủy diệt, nỗi lo sợ tận trong sâu thẳm của người Israel. Đây không phải đơn thuần chỉ là kết quả của chủ nghĩa bài Do Thái mà kể từ khi Israel xâm chiếm Bờ Tây và dải Gaza vào năm 1967, đa phần thế giới đã trở nên khắt khe hơn và chỉ trích sự gây hấn của Israel. Cho đến tận lúc đó, vì nó là một nước rất nhỏ, sinh ra từ những hạt bụi tha phương là những người Do Thái châu Âu và bị bao vây bởi những nước Ả Rập thù địch, cho nên ở phương Tây, Israel được coi là một nạn nhân thay vì kẻ đi gây nạn.

Nhưng dù thế nào thì trong tâm thức của người Israel, việc họ là một kẻ gây nạn hay là một nạn nhân cũng chẳng quan trọng, nỗi băn khoăn ấy thường bị dìm xuống và mất tích dưới những làn sóng lo lắng bị bỏ rơi và bị hủy diệt cứ tuôn trào từng đợt như những cơn sóng thần. Nỗi bất an đe dọa sự sống còn của Israel có lẽ hiện hữu nhất trong đêm trước cuộc chiến tranh năm 1967. Trong nhiều tuần trước khi tiếng súng đầu tiên của cuộc chiến nổ ra, ước chừng 10.000 người thương vong – tương đương với nhiều triệu người ở Mỹ – các quan chức Ủy ban Tôn giáo Tel Aviv khảo sát các khu vực, công viên và sân bóng rổ để trống và thánh hóa nó như thể là những khu nghĩa địa. Một vài ngày trước cuộc chiến tranh, thủ tướng Eshkol lắp ba lắp bắp trong một bài diễn văn trên đài phát thanh phát sóng trực tiếp, dấy lên nỗi lo lắng xao xác trong lòng công chúng, mà sau đó buộc ông ta phải gia cố lại chính phủ của mình và thành lập chính phủ quốc gia thống nhất đầu tiên của Israel. Những cảm xúc trong giai đoạn đó đã được Ari Shavit thâu tóm một cách khá cảm động trong những dòng mở đầu của cuốn sách xuất bản năm 2013 của ông, My Promised Land: The Triumph and Tragedy of Israel (Tạm dịch: Miền đất hứa của tôi: Israel – Vinh quang và Cay đắng). Người Ả Rập sẽ thắng? Khi còn là đứa trẻ chín tuổi, ông đã hỏi cha như vậy. Quê hương yêu dấu của ông sẽ tràn ngập những đám ô hợp dân Ả Rập hay có thể là những lực lượng Hồi giáo, trở thành một Atlantic khác chìm xuống tận đáy sâu của đại dương?

Trên thực tế, quân đội Israel còn tân tiến, tinh nhuệ vượt bậc so với lực lượng của nhiều nước Ả Rập kết hợp lại và đã đánh bại họ chỉ trong một vài ngày. Nỗi thấp thỏm nguôi ngoai đã trở thành nỗi phấn chấn sau cuộc chiến. Nhưng nó không bao giờ biến mất hoàn toàn và đã trở lại với sự phục thù mãnh liệt sau cuộc tấn công chớp nhoáng và những thất bại ban đầu của cuộc chiến tranh năm 1973. Trong những chiến dịch quân sự tiếp theo, thậm chí là khi Israel đã huy động những lực lượng quân sự áp đảo và tinh nhuệ, nỗi lo sợ hoang tưởng vẫn còn dai dẳng. Ví dụ, trong suốt cuộc xâm lược của Israel vào Lebanon năm 1982, khi Bộ trưởng Quốc phòng Ariel Sharon sau đó tuyên bố rằng Israel có thể hành động như lực lượng hùng mạnh nhất khu vực Trung Đông mà thủ tướng của ông ta lúc bấy giờ là Menachem Begin đã so sánh mức độ nguy hiểm của lực lượng PLO đe dọa trên đất Lebanon ngang với quân Nazi trong Thế chiến 2. Chẳng phải vô cớ mà Sharon tập trung vào sức mạnh quân sự của Israel, còn Begin, tập trung vào khả năng dễ tổn thương của người Israel. Sharon, một sabra, xuất thân từ phong trào Phục quốc Do Thái lao động vốn khao khát phá vỡ tâm lý Diaspora yếm thế; Begin sinh ra ở Ba Lan và mất cả gia đình trong Đại thảm sát Holocaust. Begin không bao giờ có khả năng nhét vào đầu mình hệ triết học mới mẻ nào. Đối với ông ta, nhà nước Do Thái còn hơn cả một sự kế tục truyền thống Do Thái, chống trả lại sự thù địch của thế giới phi Do Thái. Ở mặt ấy, lần đắc cử của Begin – một nhân vật đối lập bên phía thiểu số cực chênh lệch trong khoảng 29 năm trước đó – vào chức thủ tướng năm 1977 có thể được xem như, theo ngôn ngữ phân tâm học, “sự trở lại của cái bị dồn nén”. Những gì đã bị phủ nhận hoặc bị dồn nén trước đây, giờ lại nổi lên trên bề mặt. Đó là cách giải thích cho việc người Israel hành động thái quá – và bởi vậy là thảm họa với mối quan hệ công chúng – đối với đội tàu nhỏ của Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2010 và những nỗ lực tiếp theo của các nhà hoạt động hòa bình trong việc phá vỡ lệnh phong tỏa đường biển của Israel đối với dải Gaza. Trong tâm thức của người Israel, những điều này không chỉ đơn thuần là những cuộc biểu tình vớ vẩn hoặc bất hợp pháp chống lại chính sách của Israel đối vớidải Gaza bị bần cùng hóa, nếu không nói là cực đoan hóa, mà đúng hơn là “một hạm đội thù hằn và bạo lực”, cũng như những đợt tấn công vào chủ quyền và quyền hợp pháp của Israel.(120) Ở phía ít hoang tưởng hơn của quang phổ, phần lớn nỗi lo âu của người Israel là về sự sinh tồn, hiện tại tập trung vào Iran – như đã chỉ ra, thậm chí những người hoang tưởng cũng có những kẻ thù thực sự. Hamas và lực lượng phân tán của nó trên dải Gaza cũng là những kẻ thù thực sự, bị dán nhãn thương hiệu bài Do Thái. Tuy nhiên, như năm 2014, họ bị suy yếu về quân sự và chính trị nên chẳng đe dọa chút nào sự tồn tại của Israel.

Vào những năm 1980, một bài hát upbeat lạ lùng “The whole world is against us” (Tạm dịch: Cả thế giới quay lưng lại với ta), đã tấn công nhiều kênh phát thanh và đưa nó lên top đầu của các bảng xếp hạng. Bình luận về quan điểm của người Israel lúc đó, có nguồn tin cho rằng nghệ sĩ người Israel Yair Garbuz ghép bài hát với lời buộc tội phổ biến của người Israel là “thế giới đã câm lặng” trong suốt Đại thảm sát Holocaust: “Thế giới quay lưng lại với chúng ta và câm lặng (trước nỗi đau của ta – ND)”(121). Nhận xét của Garbuz vẫn thật là một lời mỉa mai cho tới tận ngày hôm nay, đặt sự cô lập quốc tế hiện tại của Israel trong bối cảnh lịch sử của sự đàn áp người Do Thái. Sự nghịch lý trong lời của Garbuz cũng chứa đựng ý nghĩa tâm lý sâu sắc, vì nó đã khắc họa được hình tượng người Israel ngạc nhiên hay cảm thấy phẫn uất rằng “thế giới” không đang bảo vệ họ khỏi chính nó. Trong khi những người Zion thời kỳ đầu tập trung vào “chúng ta có thể làm gì để xây dựng một đất nước,” những thế hệ tiếp theo ngày càng tập trung vào “những gì mà kẻ khác có thể hủy diệt chúng ta”. Ở mặt này, hoang tưởng không phải là về việc tin mà đúng hơn là quá tin vào người khác, hoặc đúng hơn là, không đủ tự tin vào chính mình. Đó là về việc gán quá nhiều sức mạnh, quyền lực vào người khác và không đủ vào chính mình, và do đó phải đánh phủ đầu. Chẳng có gì là ngẫu nhiên khi trong tiếng Hebrew từ có nghĩa là an toàn, bitahon, có cùng gốc với từ livto-ah, tin tưởng, vì phải thông qua sự tin tưởng, vào chính mình và vào người khác, chúng ta mới có thể đạt được một cảm giác an toàn thực sự. Nếu không để ý đến ngôn ngữ của họ, mà chỉ quan tâm đến lịch sử bị đàn áp của dân tộc Do Thái, qua khoảng hai hoặc ba thập kỷ gần đây, người Israel đã chào đón rất nhiều những sáng kiến hòa bình chủ yếu đi kèm với một nỗi hoài nghi, thậm chí là với cả những sáng kiến được bắt nguồn từ nhân vật ủng hộ sừng sỏ của họ là Hoa Kỳ. Họ thường ám chỉ cuộc đàm phán với những từ ngữ như “một sự hòa giải Munich” và gọi những đường biên đi kèm với một thỏa thuận hòa bình tiềm năng là “hàng rào Auschwitz”. Lối tu từ này có thể trở thành một lời tiên tri đầy tự mãn, mà theo đó tự trách tội mình vì đã để lặp lại sự kiện ghetto, như một kẻ hạ đẳng giữa các quốc gia và xác nhận câu chuyện đã tồn tại trước đó về “thân phận Do Thái”, mà đứa trẻ mẫu giáo người Israel nào cũng đều biết là ha-goral ha-yehudi trong tiếng Hebrew.

Một nguyên nhân của “thân phận” này đó là vì người Do Thái không hoặc không thể tin tưởng vào những kẻ ngoại đạo sống xung quanh mình nên họ có xu hướng xây dựng những mối quan hệ trực tiếp với các vị vua, hoàng tử, giáo hoàng, và giám mục – những quyền lực trung ương cao nhất trong thời kỳ Diaspora. Bởi vậy, họ phát triển những mối quan hệ phụ thuộc, hi vọng vào sự vô vọng và những bằng chứng lịch sử chẳng nhiều nhặn gì cho thấy những nhân vật quyền lực này sẽ trở thành thần hộ mệnh cho họ. Vậy nhưng, trong thực tế, điều này chỉ đổ thêm dầu vào lửa, dân bản địa và những nhà chức trách của các quốc gia thường phản bội những người Do Thái. Như nhà văn người Mỹ Leon Wieseltier thừa nhận rằng trong suốt Mùa xuân Ả Rập năm 2011, Israel dường như cũng phải viện đến thể loại “liên minh trục tung” này, dựa trên những kẻ độc tài và những kẻ vương quyền như Mubarak và Abdullah để đảm bảo sự ổn định của khu vực, hơn là bắt tay vào phát triển một “liên minh trục hoành” với cư dân các nước Ả Rập. Như một hệ quả của Mùa xuân Ả Rập, nếu những nước Ả Rập trở nên dân chủ hơn hoặc thay vì thế bị điều hành bởi những chế độ chuyên quyền hay dân túy hơn như có vẻ đang diễn ra trong thời điểm khi tôi đang viết những dòng này, thì chiến lược này, cũng – một lần nữa, một chiến lược dựa trên những giả thuyết đầy hoài nghi và thiếu tin tưởng đã được điều chỉnh và tự gây thương tổn – có thể chứng tỏ là đã thất bại thê thảm. Việc Ai Cập và những nước Ả Rập nhượng bộ khác chuyển hướng thành đồng minh thân cận nhất với Israel trong cuộc chiến năm 2014 Israel chống lại Hamas chẳng góp được gì trong hành trình trường kỳ nuôi dưỡng một “liên minh trục hoành” giữa người Israel và người Ả Rập. Cùng một logic về sự hoang tưởng và phụ thuộc ấy thể hiện rấtrõ ràng trong quan hệ của Israel với Hoa Kỳ, vừa trong việc phát triển một quân đội tối trọng và nền kinh tế phụ thuộc vào một siêu cường, vừa trong việc bám víu lấy một tổng thống Mỹ này và vượt mặt một tổng thống khác, nói thẳng ra là George W. Bush và Barack Obama. Một chiến lược khả dĩ hơn chính là không nên bỏ trứng vào cùng một giỏ, cố gắng tranh thủ càng nhiều mối quan hệ hữu hảo với nhiều quốc gia và tái thiết lập sự ủng hộ rộng rãi hơn giữa những người Mỹ nói chung, bao gồm cả những người Do Thái thế tục, hiện đại và những thành phần dân cư nói chung không theo Tin lành càng tốt.

Trong cuốn hồi ký của mình, A tale of love and darkness (Tạm dịch: Chuyện tình và bóng tối), Amos Oz đã kể về một trải nghiệm ấu thơ quen thuộc với nhiều người Israel thuộc thế hệ ông. Trước khi điện thoại trở nên phổ biến trong gia đình người Israel, bạn phải đến tiệm thuốc trong khu dân sinh và thực hiện cuộc gọi hẹn trước với người khác đang chờ đợi vào thời điểm đã hẹn tại tiệm thuốc ở chỗ của họ. Oz nhớ lại một cuộc gọi kiểu như vậy mà cha mẹ ông đã gọi từ Jerusalem cho dì và chú của ông ở Tel Aviv như sau:

– Xin chào, Tzvi đấy hả?

– Em đang nghe đây.

– Arieh ở Jerusalem đây.

– Anh Arieh à, em Tzvi đây, anh thế nào?

– Mọi thứ ở đây đều ổn cả. Chúng tôi đang gọi điện ở hiệu thuốc.

– Chúng em cũng thế. Có tin gì mới không?

– Chúng tôi chẳng có gì mới cả. Chỗ chú thế nào, Tzvi? Nói xem mọi chuyện thế nào rồi.

– Mọi thứ đều OK. Chẳng có gì đặc biệt cả. Bọn em đều khỏe cả.

– Không có tin gì là tốt rồi. Ở đây cũng chẳng có chuyện gì. Anh chị đều ổn cả. Các em thế nào?

– Bọn em cũng thế.

Và rồi mẹ của Oz, sau đó chính Amos cũng đến áp ống nghe vào tai và lặp lại toàn bộ chuỗi hội thoại này, rồi họ lên lịch cho cuộc gọi tiếp theo.

Ngẫm lại kỷ niệm này, Oz viết:

Nhưng đây không phải là chuyện kể ra để mà cười cợt: cuộc sống của chúng tôi bị treo trên một mối nguy hiểm. Bây giờ tôi nhận ra rằng cha mẹ chú dì tôi không hề chắc chắn rằng họ sẽ thực sự được nói chuyện với nhau lần nữa, đây có thể là lần cuối cùng, ai mà biết được sẽ có chuyện gì xảy ra, có thể là những cuộc bạo loạn, một cuộc tàn sát kiểu pogrom(122), một bể máu, người Ả Rập có thể nổi dậy và tàn sát nhiều người chúng tôi, có thể là một cuộc chiến tranh, một thảm họa kinh hoàng, sau tất cả những gì đã xảy ra: xe tăng của Hitler gần như đã sừng sững ngay trước cửa ra vào của chúng tôi từ tất cả mọi phía, Bắc Phi và Caucasus, ai mà biết được còn gì nữa đang chờ chúng tôi? Cuộc nói chuyện chả đâu vào đâu này không thực sự vô nghĩa, nó chỉ hơi kỳ quặc mà thôi.(123)

Sau đó, Oz còn nói thêm, những cuộc hội thoại này cũng cho thấy những người thuộc thế hệ cha mẹ ông không thể thể hiện những cảm xúc cá nhân như thế nào. Họ chẳng có vấn đề gì khi thể hiện những tình cảm cộng đồng, nói một cách hùng hổ hàng tiếng đồng hồ không dứt về Nietzsche, Stalin, Freud, Jabotinsky, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa thực dân, bài Do Thái, công bằng, v.v và v.v, nhưng những cảm xúc cá nhân thì lại là một vấn đề khác. Người Israel ngày nay vẫn thích nói về những vấn đề quốc gia dân tộc, một cách sắc sảo và đầy nhiệt huyết, nhưng họ cũng chẳng ngại ngần gì khi toang toác những ý nghĩ thẳm sâu nhất của họ với bất cứ ai nghe chúng. Không chỉ những cuộc chuyện trò về việc quốc gia đại sự ẩn khuất đâu đó cùng một cảm giác bất an, mà chính trong giao tiếp cá nhân hàng ngày cũng thấy lấp ló một sự hoài nghi. Cố bám lấy lòng tự tôn yếm thế, những ranh giới dễ dàng xâm nhập, và những biểu hiện phóng chiếu mang tính ái kỷ có tầm ảnh hưởng đến những quan điểm tiêu cực của những người đồng bào Israel, tâm thức người Israel mang cốt lõi của lòng nghi ngại hoang tưởng về xã hội. Amos Oz đã khéo léo lần ngược trở lại thời kỳ Diaspora, khi người Do Thái phải sống với nỗi kinh hoàng rằng, cầu trời cho nó không xảy ra, họ đã gây ra một ấn tượng xấu với những người ngoại đạo, những người này sẽ tức giận và “đối xử với chúng ta bằng những hành động mà chỉ nghĩ đến thôi đã quá ghê sợ rồi.” Như dì của Oz, Sonia, một người Do Thái sinh ra ở Đông Âu, đã nhận ra, vì điều này găm sâu vào đầu của mỗi đứa trẻ con Do Thái 1000 lần, nó đã bóp méo phẩm giá và tính liêm chính của người Do Thái, khiến người Do Thái trở nên “gian trá và đầy mưu mẹo như một con mèo”. “Tôi không thích những con mèo chút nào,” Sonia nói. “Tôi cũng chẳng thích chó lắm, nhưng nếu phải chọn, tôi thà chọn chó hơn. Một con chó giống như một người ngoại đạo, bạn có thể ngay lập tức biết được nó đang nghĩ gì và cảm thấy như thế nào. Người Do Thái Diaspora biến thành những con mèo, theo nghĩa xấu, anh biết ý tôi là gì rồi chứ.” Nhà xã hội học Oz Almog đã lần ngược về lịch sử lâu đời hơn, ngay trong những thời đại Kinh Thánh. “Ngươi sẽ tự chuốc lấy chiến tranh vì những dối trá lọc lừa,” cuốn Cách ngôn đã khuyên răn như vậy.

Không giống những người Do Thái Diaspora, người Israel hiếm khi quan tâm đến việc tạo ấn tượng tốt với những người ngoại đạo. Về mặt này, cuộc cách mạng của những người Zion thành công còn vượt cả những giấc mơ hoang đường nhất của họ. Nhưng trong nội tâm của người Do Thái, nỗi sợ hãi và lòng hoài nghi vẫn còn tồn tại, tiếp tục gặm nhấm lòng chính trực và phẩm giá trung thực của người Israel. Tuy nhiên, bề ngoài, người Do Thái Israel giống một con chó hơn một con mèo, một loại chó sủa và cắn càn vì sợ hãi cũng như để gây hấn. Amos Oz cũng phân tích rõ hơn về điều này. Lần này, Oz phân tích dựa trên tiếng nói của một trong những người cha sáng lập nên kibbutz(124), chạy trốn khỏi sự ngột ngạt của Jerusalem và của gia đình lúc ông 15 tuổi. Nói về lãnh tụ đối lập sau này Menachem Begin, ông ta chia sẻ với Oz:

Cơ bản ông ta là một người đàn ông tốt, Begin ấy… Một kiểu yeshiva bocher(125) lầm đường lạc lối, tin rằng nếu chúng ta, những người Do Thái, bắt đầu kêu lên ở âm vực cao nhất mà đó vốn không phải là cách những người Do Thái chúng ta thường làm, chúng ta sẽ không phải là những con cừu cho đồ tể, chúng ta không phải là những kẻ yếu đuối nhợt nhạt nhưng trái lại, hiện giờ chúng ta là kẻ nguy hiểm, hiện tại chúng ta là những con sói hung hãn, rồi tất cả những con thú săn mồi thực sự sẽ sợ hãi chúng ta và đưa cho chúng ta mọi thứ chúng ta muốn, họ sẽ để cho chúng ta có được toàn bộ mảnh đất này… Họ, Begin và bộ sậu của ông ta, nói từ sáng đến tối về quyền lực, nhưng họ không có ý niệm đầu tiên cần biết quyền lực là gì, nó được cấu thành từ đâu, điểm yếu của quyền lực là gì(126).

Nhiều nhà tâm lý học người Israel đã lưu ý đến những hậu quả cả tích cực cũng như tiêu cực của mối liên hệ giữa nỗi lo lắng và sự hung hăng của người Israel. Một nghiên cứu vào năm 1994 của Erel Shalit đã kết luận rằng nỗi sợ hãi bị nhục mạ sau Holocaust đã được chuyển ngược thành năng lượng công kích khi người Israel chiến đấu trong cuộc chiến tranh giành độc lập trước sự xâm lược của những đội quân Ả Rập(127). Ofer Grosbard miêu tả người Israel đã chiến đấu với cảm giác bị đè nén và phủ nhận rằng sự tồn tại của họ chỉ là “một lời dối trá”, rằng họ sống trên thời gian vay mượn như thế nào. Ông ta giải thích, không thể chịu đựng được những lo lắng và bất an như thế này, họ đã trút sang người khác dưới hình thức là sự hung hăng, công kích. Có lẽ ý kiến của Avner Falk thuyết phục hơn và thâu tóm tất cả vấn đề, nó được viết trong suốt cuộc cintifada thứ hai của người Palestine:

Những kẻ khủng bố Ả Rập người Palestine đã thêm vào nỗi lo lắng bên trong của chúng ta bằng nỗi sợ hãi những thế lực bên ngoài. Mối hiểm họa thường trực về một vụ đánh bom liều chết khiến cho chúng ta sống trong một trạng thái lúc nào cũng thấp thỏm và lo sợ bị mất mạng. Chúng ta thể hiện nỗi lo lắng ấy bằng những hành vi hung hăng, thậm chí là bạo lực trên những con đường, trong cửa hàng, trong ngân hàng, văn phòng, trên ngõ phố, khắp mọi nơi. Thật vậy, Israel là nước có tỷ lệ tai nạn giao thông trên đầu người khá cao.”

Nỗi sợ đó, được hiển hiện thành nguy cơ từ bên ngoài và nảy sinh từ bên trong, không chỉ tiêu diệt lòng chính trực và dẫn đến sự hung hăng mà nó còn tác động đến những quyết định cá nhân liên quan đến đường đời và con cái họ. Những cặp vợ chồng người Israel ở nước ngoài thường xuyên bàn luận về việc sinh con ở nước ngoài, để nó có quốc tịch thứ hai, “phòng khi”. Một người họ hàng của tôi khoảng 30 tuổi với một người bà sinh ở Ba Lan đang lập kế hoạch để những đứa con của cô được nhập quốc tịch Ba Lan. “Ba Lan?” Tôi hơi ngạc nhiên hỏi lại. “Đó là một nước thuộc Liên minh châu Âu,” cô ấy cười nói. Nhưng như Oz đã viết, đây không phải là một chuyện cười. Một nghiên cứu của trường Đại học Bar Ilan năm 2011 đã chỉ ra rằng khoảng 100 nghìn người Israel đã có hộ chiếu Đức, hàng năm thêm 7000 người nữa cùng nhập với hội này, một hiện tượng có một không hai giữa những quốc gia ở thế giới thứ nhất.(128) Với những tính toán để sinh tồn như vậy, nhiều người, nếu không nói là cả nước Israel, sẽ sống sót, không cần biết tương lai nguy biến ra sao.

Hơn nữa, trong nỗi sợ hãi dựa trên thực tế, hoặc thậm chí là nỗi sợ hãi hoang tưởng, phần giá trị sinh tồn này bù đắp cho lòng tự mãn của người khác là một nguyên tắc có thực và đã được kiểm nghiệm. Trong những mối quan hệ cá nhân, nghề nghiệp, và quan hệ quốc tế, sự cảnh giác cao độ buộc chúng ta phải thể hiện sức mạnh, và với mức độ chính xác hợp lý, nó có thể ngăn chặn cho chúng ta khỏi bị bắt nạt. Ví dụ như trong trường hợp của Iran, có thể là chiến lược cớm tốt/cớm xấu vẫn còn hiệu quả. Bất kể là được hợp tác chi tiết từng li từng tí hay trên bình diện tổng quát, hay đơn giản là chỉ nảy sinh như tác dụng phụ của những khác biệt văn hóa – tâm lý giữa Hoa Kỳ và Israel, tác động kết hợp của những củ cà rốt hứa hẹn của Mỹ và những cây gậy đe dọa của Israel trên lý thuyết có thể thuyết phục được Iran đạt đến một thỏa thuận về năng lượng hạt nhân với nhóm cường quốc P5 + 1 – năm thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cùng với Đức – đang đàm phán với nó. Khi tôi đang viết những dòng này, chiến lược ấy dường như đã có hiệu quả, ít nhất là tạm thời, khi Iran đồng ý ngừng chương trình hạt nhân trong suốt thời gian diễn ra những cuộc đàm phán mở rộng. Cũng có thể nói đôi điều về vai trò hữu ích của chứng hoang tưởng trong một không gian sáng tạo, đầy tính chủ quan mà chúng ta gọi là nghệ thuật này. Để dẫn ra một ví dụ rõ ràng, có thể xem xét trường hợp nhà văn nổi tiếng thế giới cỡ Franz Kafka, thật khó có thể phủ nhận rằng nhiều kiệt tác của ông – từ tiểu thuyết Lâu đài và Vụ án cho đến những tác phẩm ngắn hơn như Hóa thân và Lời phán quyết – đều mang màu sắc cảm thức hoang tưởng Do Thái. Tác giả người Israel đương thời, Etgar Keret, người đã dẫn Kafka như một nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn nhất đối với tác phẩm của ông, có lẽ là một phiên bản Israel cho kiểu Do Thái này. Giống như thế giới của Kafka, thế giới mà ông ta tạo ta vừa mang tính cá thể vừa mang tính nhân loại phổ quát, cùng chung những cảm thức ảo tưởng, kì quái, và đôi khihoang tưởng. Mặc dầu vậy, tác phẩm của ông không tăm tối như của Kafka, và nếu có, nó nhấn mạnh mặt sáng của chứng hoang tưởng như một đặc điểm của trí tưởng tượng con người.

Tuy nhiên, yếu tố hoang tưởng trong tâm lý người Israel thực sự đem đến một mối nguy hiện hữu cho Israel. Trong cuốn hồi ký của mình về chiến tranh năm 1948, tác giả người Israel Yoram Kaniuk nhớ lại thế hệ những thiếu niên Do Thái tuổi ông ở Palestine đã được nuôi nấng, giáo dục để nổi dậy chống lại “thân phận Do Thái” Diaspora như thế nào. Tâm niệm với điều ấy, trong suốt lễ Hanukkah trước chiến tranh, ông cùng các bạn học trong trường đã leo lên Masada(129). Khi họ leo lên đến đỉnh, chỉ vừa kịp trước lúc bình minh, họ “nói gì đó” về việc người Đức đã hủy diệt người Do Thái như thế nào, và họ đã khắc lên trên một hòn đá: “Nếu ta quên ngươi, thì, ta sẽ sống lưu vong.”(130) Trong một câu nói ngược đầy ẩn ý và châm biếm so với một lời về khao khát Zion trong thánh ca kinh điển, họ đã trang bị cho chính mình những động lực bổ sung để chiến đấu cho một cuộc chiến sắp tới. Nhưng với sự châm biếm gấp đôi và ẩn chứa nỗi bi thảm, họ, giống như bản thân tâm thức Israel, đã tái cam đoan nhớ lại thời kỳ Diaspora, mâu thuẫn với bản chất nhiệm vụ của chủ nghĩa Phục quốc Do Thái, tất cả những gì nó muốn là thật nhanh chóng vùi lấp thời kỳ này vào trong quên lãng.

Chẳng phải ngẫu nhiên khi đến lúc này khi chuẩn bị kết thúc chương, chủ đề Holocaust đang dần dần xuất hiện trong cuốn sách này. Đây cũng không phải là một sơ suất khi chương này không bàn đến sự kiện với mức độ bạo hành khủng khiếp nhất đó. Tác động của Holocaust – đỉnh điểm và ác mộng cuối cùng của chủ nghĩa bài Do Thái, bởi vậy là nguyên nhân chính dẫn đến những nỗi lo lắng bị lăng nhục và bỏ rơi của người Do Thái và người Israel – trong tâm thức người Israel có một tầm vóc quan trọng và sự phức tạp đến mức cần phải có hẳn một chương cho riêng nó.

List

Đánh giá

Nội dung - 7.5
Văn phong - 7.2
Độ dễ đọc - 7.3
Ứng dụng - 7.2
Chất lượng giấy - 7.2

7.3

Khá hay

User Rating: 4.58 ( 2 votes)

Để lại comment

avatar
7000