Trang chủ / Review / Phía Nam Biên Giới, Phía Tây Mặt Trời

Phía Nam Biên Giới, Phía Tây Mặt Trời

Thể loại Văn học nước ngoài
Tác giả Haruki Murakami
NXB NXB Hội Nhà Văn
Công ty phát hành Nhã Nam
Số trang 290
Ngày xuất bản 09-2017
Giá bán Xem giá bán

Nội dung

Cuốn tiểu thuyết chứa đựng nhiều nhất con người thật của Haruki Murakami và là câu chuyện đơn giản nhất mà Murakami từng kể. Tuy vậy, đơn giản không có nghĩa là dễ hiểu, và một lối kể chuyện giản dị không loại bỏ những nỗ lực kín đáo trong việc thoát ra khỏi những lối đi văn chương đã cũ mòn.

“Sự kết nối” dễ thấy giữa Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời và những tác phẩm khác của Murakami có lẽ là năng lực đặc biệt của nhà văn Nhật Bản đối với cách tạo ra và xử lý cái bí ẩn. Không có mật độ dày đặc như trong Biên niên ký chim vặn dây cót hay Kafka bên bờ biển, cái bí ẩn ở đây giống như những đoạn nhạc jazz biến tấu ngẫu hứng trên nền của những bản nhạc cũ, và chính là cái để lại dư vị lâu nhất cho người đọc.

“Có những gì?” có lẽ là câu hỏi mà cuốn sách nhỏ của Haruki Murakami đặt ra. Có những gì ở phía Nam biên giới, khi đó không chỉ là nước Mêxicô. “Có những gì” ở phía Tây mặt trời, khi đó không chỉ là một chứng bệnh của những người nông dân Xibêri sống trong cảnh ngày đêm không phân cách.

Và có những gì trong những diễn tiến cuộc đời mỗi con người? Không chỉ cuộc đời ít chi tiết của Shimamoto-san mới gây băn khoăn, mà ngay cả ba giai đoạn được miêu tả hết sức rõ ràng của cuộc đời Hajime cũng không hoàn toàn làm thỏa mãn những người quen với những văn chương được tác giả chú tâm giải thích kỹ càng.

Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời không yêu cầu người đọc diễn giải. Rất nhiều chi tiết trong đó thuộc về “tiểu sử ngoài đời” của Murakami, nhưng câu chuyện đơn giản được kể trên nền nhạc của Nat King Cole và Duke Ellington, với hương vị lạ lùng của những ly cocktail Daiquiri và Robin’s Nest có một khả năng đặc biệt: nó không cho phép mọi cách giải thích dễ dãi.

Những câu hỏi liên tiếp hiện ra trong tâm trí Hajime, về ý nghĩa cuộc đời cũng như của từng trải nghiệm dù nhỏ đến đâu, sẽ dần truyền sang người đọc, và đến khi kết thúc, rất có thể sự hoang mang về ranh giới giữa thực và hư, chân thành và giả tạo, quy tắc và ngoại lệ sẽ là điều duy nhất mà người đọc “gặt hái” được.

Điều này cũng không thật sự lạ, vì, đã trở thành quy luật, những câu trả lời thì qua đi, còn câu hỏi thì ở lại.

Đánh giá

Nội dung
Văn phong
Độ dễ đọc
Ứng dụng
Chất lượng giấy

Huyền ảo như mọi khi

User Rating: 4.15 ( 1 votes)

Trích đoạn

Năm hai mươi tám tuổi, tôi gặp một chuyện khác, lần này thật sự đáng kinh ngạc, với một cô gái khập khiễng chân. Tôi không bao giờ hiểu nổi ý nghĩa của sự cố quá mức kỳ lạ đó.

Một hôm, trong đám đông cuồn cuộn ở khu Shibuya dịp sắp đến kỳ nghỉ lễ cuối năm, tôi nhìn thấy một phụ nữ khập khiễng chân theo đúng lối của Shimamoto-san. Cô mặc một chiếc măngtô dài màu đỏ và kẹp dưới cánh tay một cái túi xách màu đen bóng. Chiếc đồng hồ đeo tay bằng bạc ở cổ tay phải, cũng như mọi thứ trên người cô, đều có vẻ vô cùng đắt tiền. Tôi đang bước đi ở hè đường bên kia, nhưng vừa thoáng nhìn thấy cô tôi liền chuyển bên. Phố đông người đến mức người ta phải tự hỏi từ đâu ra mà lắm người đến thế, nhưng tôi không mất quá nhiều thời gian để đuổi kịp cô: cái chân không cho phép cô đi nhanh. Cách cô khập khiễng chân trái, hơi quay thành một vòng tròn, giống với lối đi của Shimamoto-san đến mức tôi không thể ngăn mình không đi theo. Vừa đi sau cô, tôi vừa ngắm nhìn không mệt mỏi cái vòng tròn duyên dáng mà hai cái chân mặc vải lụa vẽ lên. Sự duyên dáng đó chỉ có thể là kết quả của một kỹ thuật phức tạp có được sau một thời gian luyện tập dài.

Tôi đi một lúc như vậy sau cô, giờ đây chúng tôi chỉ còn cách nhau một quãng ngắn. Thật khó theo đúng nhịp bước của cô, trái ngược hẳn với nhịp đi của những người qua đường vội vã quanh chúng tôi. Thỉnh thoảng tôi lại phải dừng lại, vờ nhìn vào một cửa kính, hoặc tìm gì đó trong túi để làm chậm bước đi. Hai bàn tay cô đeo găng da màu đen, một tay cầm một cái gói giấy đỏ ghi tên một cửa hàng lớn. Cô đeo một cặp kính đen rất to, dù trời đang mùa đông, không khí màu ghi xám. Từ sau lưng, tôi chỉ có thể nhìn được một mái tóc tuyệt đẹp được chăm sóc cẩn thận, quăn ra bên ngoài thành từng lọn thanh lịch rủ xuống đến hai vai, và chiếc măng tô màu đỏ may từ một thứ vải ấm và mềm. Dĩ nhiên mối bận tâm chủ yếu của tôi là xem đó có phải Shimamoto-san hay không. Việc đó không có gì khó: chỉ cần đi vượt lên trước và quay lại nhìn mặt cô. Chỉ có điều, nếu đó là cô, tôi sẽ nói gì? Phải có thái độ như thế nào? Và rồi, cô có nhận ra tôi không? Tôi cần thời gian để suy nghĩ đến tất cả những thứ đó. Và phải nén được hơi thở của mình, giảm bớt được những cơn cảm xúc.

Thế nên tôi tiếp tục đi theo cô, tìm cách không vượt qua. Cô không nhìn về sau lần nào, cũng không hề dừng lại. Có vẻ như cô không nhìn thấy gì xung quanh. Cô bước đi, hướng về một cái đích nào đó, đầu ngẩng cao, lưng thẳng, giống hệt Shimamoto-san ngày xưa. Nếu chỉ nhìn nửa người phía trên, không thể biết được là cô khập khiễng chân. Chỉ có điều là cô đi theo một nhịp điệu không nhanh bằng những người khác. Càng nhìn dáng vẻ của cô, tôi càng chắc chắn đó chính là Shimamoto-san. Có thể nói rằng hai dáng vẻ đó giống nhau như hai giọt nước.

Vượt qua đám đông đang chặn kín các ngả của nhà ga Shibuya, người phụ nữ bắt đầu đi lên con dốc dẫn về Aoyama. Cô còn đi chậm hơn nữa khi bắt đầu phải lên dốc, đi qua một chặng đường dài đến mức lẽ ra tốt hơn hết là nên đi bằng taxi. Ngay một người không có tật gì ở chân cũng đã thấy mệt khi phải đi xa như thế. Thế nhưng người phụ nữ vẫn tiếp tục hơi khập khiễng tiến lên như thể không có chuyện gì. Và tôi, tôi tiếp tục đi theo, luôn giữ cùng một khoảng cách. Cô không quay đầu lại, không dừng bước. Thậm chí cô còn không hề nhìn sang các cửa kính, chỉ đôi khi đổi tay chiếc túi xách và cái gói của cửa hàng lớn, mà không thay đổi tư thế hoặc nhịp bước.

Sau một lúc, cô đi vào một phố ngang nhỏ, thoát khỏi đám đông trên đại lộ chính. Có vẻ như cô đã rất thông thạo địa hình khu này. Ngay khi đi lệch một chút khỏi các dãy phố buôn bán nhộn nhịp, người ta bước vào một khu dân cư yên tĩnh. Tôi đi theo cô, chú ý giữ một khoảng cách khả dĩ giữa chúng tôi, vì cuộc theo đuôi này giờ đã trở nên khó khăn hơn khi người qua đường ít dần đi.

Tôi cứ đi như thế khoảng bốn mươi lăm phút. Theo sau cô, tôi đi vào giữa những đường phố vắng người, qua nhiều ngã tư, lại rơi vào giữa đám đông, khi đến đại lộ Aoyama. Ở đó, cô bước thẳng, như thể đã quyết định từ trước, vào một quán cà phê nhỏ theo phong cách phương Tây. Tôi thận trọng đi tiếp trên đại lộ khoảng mười phút rồi mới bước vào quán.

Tôi nhận ra cô ngay lập tức: cô ngồi ở một cái bàn lưng quay ra cửa, vẫn không cởi chiếc măng tô đỏ dù trong quán rất nóng. Cái áo măngtô trong thật không hợp, quá xịn so với nơi này. Tôi ngồi xuống một cái bàn ở góc, gọi một tách cà phê, rồi vớ ngay lấy một tờ báo, vờ đọc chăm chú trong khi vẫn theo dõi cô bằng khóe mắt. Một tách cà phê đặt trước mặt cô, nhưng tôi không hề thấy cô chạm vào. Đến một lúc, cô rút từ trong túi xách ra một bao thuốc lá và châm một điếu bằng một cái bật lửa mạ vàng. Đó là cử chỉ duy nhất của cô, trong suốt khoảng thời gian cô ngồi đó ngắm nhìn đường phố. Cô có vẻ đang nghỉ ngơi, và cùng lúc lại suy nghĩ đến một điều gì đó rất quan trọng. Tôi uống tách cà phê của mình, đọc lại lần thứ không biết bao nhiêu vẫn bài báo đó.

Sau đó, cô đứng dậy, như thể vừa quyết định xong, và tiến về bàn tôi. Hành động của cô đột ngột đến mức tưởng chừng trong một lúc tim tôi đã ngừng đập. Nhưng cô không đi về phía tôi: cô đi qua bên cạnh và bước thẳng đến máy điện thoại nằm gần cửa. Cô nhét một đồng xu vào máy và bấm số.

Cái điện thoại nằm không xa bàn tôi lắm, nhưng tiếng nói chuyện xung quanh và tiếng nhạc Giáng sinh đang phát ở loa khiến tôi không nghe được cô nói những gì. Cô nói rất lâu. Tách cà phê trên bàn cô đã nguội đi mà cô thậm chí không hề chạm môi đến. Khi cô đi về phía tôi, tôi đã thỏa thích quan sát cô; tuy thế tôi vẫn không thể cả quyết đó có phải là Shimamoto-san hay không. Cách trang điểm đậm và đôi kính râm che khuất phần lớn khuôn mặt cô. Đôi lông mày của cô được vẽ lại bằng bút kẻ, một lớp son đỏ chói phủ lên đôi môi mỏng và cắn chỉ của cô. Lần cuối cùng tôi gặp Shimamoto-san, cả hai chúng tôi đều mười hai tuổi. Kể từ đó, hơn mười lăm năm đã trôi qua. Khuôn mặt người phụ nữ này có mơ hồ nhắc lại với tôi khuôn mặt Shimamoto-san hồi nhỏ, nhưng cũng rất có thể đó là một người hoàn toàn khác. Tất cả những gì tôi biết, là người phụ nữ này khoảng ba mươi tuổi, có những đường nét đều đặn, mặc quần áo đắt tiền và đi chân khập khiễng.

Ngồi trên ghế, bất động, mồ hôi tôi rơi thành từng giọt lớn. Áo lót của tôi ướt đẫm. Tôi bỏ áo măngtô, gọi thêm một tách cà phê nữa. “Mình đang làm gì thế này?” tôi tự hỏi. Hôm đó tôi đến khu Shibuya để mua một đôi găng tay vì vừa làm mất đôi trước. Nhưng, ngay khi nhìn thấy người phụ nữ đó, tôi đã đi theo, như thể bị bỏ bùa. Nếu biết cách cư xử bình thường hơn, lẽ ra tôi phải đến trước cô mà nói thẳng:

– Xin lỗi. có phải cô là Shimamoto-san không?

Đó sẽ hẳn là cách nhanh nhất để có thể biết chắc được. Chỉ có điều, tôi đã không làm như vậy. Tôi đã im lặng bám theo cô, và giờ đây, tôi ở vào cái thế không thể bước lùi được nữa.

Khi đã nói xong điện thoại, cô quay lại chỗ ngồi nhìn ra cửa sổ, không nhúc nhích, lưng quay về phía tôi. Cô phục vụ lại gần để hỏi có thể mang tách cà phê đã nguội đi không, hoặc, ít nhất, đó là điều tôi nghĩ vì tôi ở quá xa để có thể nghe được họ nói gì. Người phụ nữ kia quay ra, gật đầu thay vì trả lời và có vẻ như gọi thêm một tách cà phê. Và cũng không đụng đến nhiều hơn tách trước. Thỉnh thoảng tôi rời mắt khỏi tờ báo để quan sát người phụ nữ từ sau lưng. Tôi thấy cô nhiều lần nhấc cổ tay lên xem giờ ở chiếc đồng hồ đeo tay bằng bạc. Có vẻ như là cô đang chờ đợi ai đó. “Đây có thể là cơ may cuối cùng của mình”, tôi nghĩ. Một khi giờ hẹn của cô đến, tôi sẽ mất hoàn toàn cơ hội để nói chuyện với cô. Nhưng tôi vẫn không sao đứng lên khỏi ghế của mình được. “Mình vẫn còn thời gian, tôi tự thuyết phục. Không có gì vội cả, mình vẫn còn thời gian.”

Để lại comment

avatar
7000