Trang chủ / Review / Kinh Cầu Nguyện Kaddis Dành Cho Đứa Trẻ Không Ra Đời

Kinh Cầu Nguyện Kaddis Dành Cho Đứa Trẻ Không Ra Đời

Thể loại Văn học nước ngoài
Tác giả Kertész Imre
NXB NXB Lao Động
Công ty phát hành Phương Nam
Số trang 141
Ngày xuất bản 11-2017
Giá bánXem giá bán

Giới thiệu sách

Tác phẩm hấp dẫn này mở ra khi một nhà văn – người sống sót sau nạn diệt chủng người Do Thái thời Đức quốc xã – giải thích cho bạn rằng: ông không thể sinh ra một đứa trẻ trong một thế giới mà nạn diệt chủng đó đã xả ra và có thể xảy ra lần nữa. Dõi theo câu chuyện phức tạp, chúng ta nhận thấy vô số thất vọng của người kể chuyện: sự nghiệp văn chương không thành công, hôn nhân thất bại, gia đình mới và con cái của người vợ cũ – những đứa trẻ có thể là con mình. Kinh Cầu Nguyện Kaddis Dành Cho Đứa Trẻ Không Ra Đời là một tác phẩm sâu sắc, thơ mộng và không dễ cảm nhận.

Bảng Review

Nội dung
Văn phong
Độ dễ đọc
Ứng dụng
Chất lượng giấy

Good

Xem giá bán

User Rating: 4.4 ( 1 votes)

Trích dẫn

” Không ! ” – tôi nói ngay lập tức, không chần chừ và có thể nói là theo bản năng, vì đã hoàn toàn đương nhiên rằng những bản năng của chúng ta hoạt động chống lại những bản năng của chúng ta, có thể nói những phản bản năng của chúng ta hoạt động thay cho những bản năng của chúng ta, thậm chí dường như – tôi đang tỏ ra hóm hỉnh, nghĩa là nếu sự thật trần trụi, thê thảm có thể coi là hóm hỉnh – , tôi kể cho nhà thông thái đang đi về phía tôi, sau khi cả ông ta, cả tôi đều chững lại vì mệt mỏi và bệnh tật, có thể là bệnh lao, trong khu rừng dẻ, hay dẻ gai – hay gọi thế nào nhỉ – , đang thở rì rào gần như có thể nghe thấy ; tôi thú nhận, tôi dốt nát về cây cối, duy chỉ có thông là tôi nhận ra ngay nhờ những lá kim của nó, à còn cây ngô đồng nữa, vì tôi thích cây ấy, và cái gì tôi thích thì ngay cả đến ngày nay, mặc cho các phản bản năng, tôi vẫn nhận ra, dù không như sự nhận biết gây sửng sốt, quặn thắt ruột gan, sẵn sàng nhảy dựng lên, làm rạng rỡ, có thể nói là gây hứng thú như cách thức mà tôi nhận ra cái mình thù ghét. Tôi không biết tại sao ở tôi với mọi thứ, mọi lúc, tất cả đều khác so với người khác, hay nếu tôi có biết đi chăng nữa, thì cũng sẽ đơn giản hơn nếu tôi nghĩ rằng mình không biết. Vì điều đó sẽ tránh cho tôi nhiều lời giải thích, chúng ta thường xuyên phân bua và giải thích, cuộc sống, cái hiện tượng và cảm xúc phúc hợp không thể giải thích này, cũng đòi hỏi chúng ta lời giải thích, môi trường của chúng ta đòi hỏi lời giải thích từ chính chúng ta, cho tới khi cuối cùng ta hủy hoại tất cả xung quanh ta, và cả chính chúng ta, hay nói một cách khác, chúng ta giải thích quẩn – tôi giải thích cho nhà thông thái bằng nhu cầu phải nói ra, tuy đáng ghét, nhưng không thể rũ bỏ nổi luôn luôn bám lấy tôi khi tôi chẳng có điều gì để nói, và điều đó, tôi sợ nó cùng một gốc với món tiền boa hậu hĩnh tôi thường ban phát trong các quán cà phê, trên xe taxi, cũng như khi mua chuộc những nhân viên chính thức và bán chính thức v.v…, hơn nữa lại là với sự lịch thiệp thái quá, thái quá đến hy sinh bản thân của tôi, cứ như tôi liên tục biện minh cho sự tồn tại của mình, cho sự tồn tại này. Lạy Chúa. Đơn giản là tôi chỉ vào rừng đi dạo – mặc dù chỉ là trong khu rừng sỏi gầy guộc này đi nữa, trong không khí thoáng đãng – mặc dù không khí có chút ít ô nhiễm đi nữa -, để đầu óc được thoải mái, ta cứ nói như thế, vì nói thế nghe xuôi tai, nếu như ta không xem xét ý nghĩa của các từ, vì nếu ta xem xét, thì đúng ra, những từ này chẳng có ý nghĩa gì, cũng như đầu óc tôi cũng chẳng cần được thông thoáng , ngược lại tôi còn rất nhạy cảm với luồng gió; tôi tiêu phí – đã tiêu phí – thời gian ở đây, tạm thời ( và bây giờ tôi không rẽ qua những lối rẽ mà từ đây mở ra ). trpmg ;pfmg dãy đồi miền Trung nước Hung này, trong một ngôi nhà, ta cứ gọi là nhà nghỉ, dù nó có thể là chỗ làm việc ( tôi thì lúc nào cũng làm việc, và không chỉ mưu sinh buộc tôi làm thế, vì nếu tôi không làm việc, thì tôi sẽ tồn tại, và nếu tôi tồn tại, thì tôi không biết điều đó buộc tôi phải làm gì, và tốt hơn là tôi không biết điều này, mặc dù các tế bào của tôi, gan ruột tôi chắc hẳn dự đoán biết được, vì thế mà tôi làm việc không ngừng : chừng nào tôi làm việc, tôi còn sống, nếu không làm việc, ai mà biết tôi còn hay không, như vậy tôi coi đây là việc nghiêm chỉnh, và tôi cũng phải coi là nghiêm chỉnh, vì ở đây có những mối liên quan nghiêm chỉnh giữa sự tồn tại và công việc của tôi, điều này hoàn toàn rõ ràng ), vậy là trong một ngôi nhà nơi tôi giành được tiêu chuẩn đến nghỉ, với một nhóm trí thức tiếng tăm cùng hội cùng thuyền, những người mà chính vì thế bằng cách nào tôi cũng không tránh khỏi phải gặp gỡ, dù tôi có nằm bẹp im phắc trong phòng cũng vô hiệu – bất quá bằng cách gõ nhẹ lên chiếc máy đánh chữ để tiết lộ nơi ẩn náu của mình -, tôi có nhón chân nhẹ trên hành lang cũng vô ích, dù thế nào cũng phải ăn, những lúc như thế, bằng sự hiện diện nhẫn tâm, những người bạn cùng bàn vây quanh tôi, cũng phải đi dạo chơi nữa, và thế là, đi về phía tôi – ở giữa rừng, trong dáng vẻ to vật vưỡng, chẳng hề thích hợp với khung cảnh ấy, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai màu nâu và kẻ sọc vàng, dẹt, mặc áo khoác có ống tay may liền, với cặp mắt ti hí màu xnah nhạt và với bộ mặt giống như cục bột nhào to, mềm đã nở -, là doctor Obláth, nhà thông thái, Đó là nghề nhgiệp dân sự, tử tế của ông, hơn nữa có thể thấy trong ô thích hợp của thể chứng minh thư, nên biết rằng doctor Obláth là một triết gia, cũng như Immanuel Kant *, như Barch Spinoza** hay như ngài Herakleitos*xứ Ephesos**, cũng như tôi là nhà văn và dịch giả và tôi không tự làm mình trở nên lố bịch bằng cách gọi tên các nhân vật vĩ đại, những nhà văn đích thực và – đôi khi – họ còn là những dịch giả đích thực có thể xếp sau huy hiệu nghề nghiệp của tôi, chỉ vì không có chuyện đó tôi đã đủ lố bịch với nghề nghiệp của mình, và vì việc dịch thuật dẫu sao cũng là sự khách quan, trong mắt một số người – đặc biệt trong mắt nhà chức trách và, dĩ nhiên do những nguyên nhân khác, nhưng cả trong mắt tôi nữa – có thể cung cấp cho việc làm của tôi chút về ngoài của những nghề nghiệp có kiểm chứng được.

” Không ! ” – một cái gì đó gào lên, rít lên trong tôi, ngay lập tức, khi vợ tôi ( tuy nhiên đã từ lâu không còn là vợ tôi ) lần đầu tiên nói về nó – về con -, và sự rên rỉ của tôi lặng dần, thực chất, đúng là, nhiều năm qua đi, nó trở thành nỗi sầu đau thế giới, chẳng khác gì cơn giận giữ bùng nổ của Wotan* trong cảnh chia tay nổi tiếng, như từ các hình ảnh mờ ảo của những âm bè nghẹn ngào, chậm chạp và độc địa, như 1 căn bệnh đang ủ, một câu hỏi đã thành hình ngày một rõ nét trong tôi, và câu hỏi đó là con, chính xác hơn là tôi, nhưng nó trở thành câu hỏi bởi con, hay chính xác hơn ( và về đại thể doctor Obláth cũng nhất trí với điều này ) : sự tồn tại của cha nhìn theo khả năng sự có mặt của con, nghĩa là cha với tư cách kẻ sát nhân, nếu ta muốn tăng độ chính xác lên đến tới hạn, đến phi lý, với chút tự hành xác thì điều này thì cũng có thể cho phép, vì, ơn Chúa, bây giờ đã muộn, bao giờ cũng muộn, con không có mặt, cha có thể biết mình an toàn hoàn toàn, sau khi với chữ ” không “, này tôi đã làm đổ vỡ tất cả, tan nát thành tro bụi hết, trước hết là cuộc hôn nhân đổ vỡ tất cả, tan nát thành tro bụi hết, trước hết là cuộc hôn nhân bất hạnh, ngắn ngủi của tôi, tôi kể – tôi đã kể – cho doctor Obláth, vị tiến sĩ của các khoa học triết học, với sự dửng dưng mà cuộc đời không khi nào có thể dạy được, nhưng giờ đây tôi vẫn thực hành một cách thành thục, nếu thật cần thiết. Và lần này thì cần thiết, bởi nhà thông thái tiến lại gần tôi trong tâm trạng đăm chiêu, tôi nhận thấy ngay điều này trong tâm trạng, đăm chiêu, tôi nhận thấy ngay điều này trên mái đầu hơi ngả sang một bên của ông, trên đó dính sát chiếc mũ che nắng ngộ nghĩnh, như một kẻ cướp đường thích đùa đang tiến lại, kẻ đã nốc hết vài cốc rượu và lúc này đang cân nhắc xem nên đập chết tôi hay hài lòng với một ít tiền chuộc, nhưng dĩ niên, và suýt nữa tôi đã nói : đáng tiếc Obláth không hề cân nhắc chuyện đó, một nhà thông thái không khi nào lại suy nghĩ về chuyện cướp đường, cân nhắc, nếu như có, thì xuất hiện trước ông dưới dạng một vấn đề triết học nghiêm trọng, còn công việc bẩn thỉu thì các nhà chuyên môn sẽ thực hiện, sau hết chúng ta đã nhìn thấy những việc đại loại thế, mặc dù chỉ sự ý và gần như ngờ vực rằng tôi chợt nhớ tới điều này trong mối liên quan với chính doctor Obláth, vì tôi không biết quá khứ của ông, và hy vọng ông cũng sẽ không kể. Không, nhưng ông đã làm tôi bất ngờ với câu hỏi không kém phần tọc mạch, như thể một kẻ cướp đường muốn biết trong túi tôi có bao nhiên tiền, vì nên biết rằng, ông ta bắt đầu căn vặn hoàn cảnh gia đình tôi, đúng là để mở màn ông đã cho tôi biết về hoàn cảnh những người thân của ông ta, như một khoản tạm ứng trước, như ra một điều kiện, rằng khi tôi đã có thể biết mọi chuyện về ông, dù tôi chẳng quan tâm tẹo nào, thì ông cũng có quyền biết về tôi… nhưng tôi bỏ dở sự phân tích này, vì tôi cảm thấy mình bị từ ngữ cuốn đi, hơn nữa cuốn theo hướng xấu, theo hướng hoang tưởng về đạo đức, mà đáng tiếc, dạo này tôi hay bắt gặp bản thân mình như thế, và nguyên nhân của việc đó quá rõ ràng trước mắt tôi ( sự cô đơn, sự cách biệt, sự đày ải tự nguyện ), đến mức không làm tôi lo ngại, xét cho cùng chính tôi tạo ra chúng, như một vài nhát cuốc đầu tiên cho một hố sâu hơn nhiều mà tôi phải đào từng nhát một cho xong đến cùng, để có chỗ đón nhận tôi sau này ( dù có thể tôi không đào trên mặt đất, mà trong không khí, vì ở đó có nhiều chỗ ) – vì doctor Obláth chỉ đặt ra cho tôi tất cả một câu hỏi vô hại, rằng tôi có con không ; dẫu sao cũng với sự thẳng thắn thô bạo đặc trưng cho các nhà thông thái, và dẫu sao cũng vào thời điểm không thể tồi tệ hơn được nữa ; nhưng làm sao ông có thể biết rằng câu hỏi của ông, không thể phủ nhận được, ít nhiều đã làm tôi lúng túng. Để thế rồi tôi đã trả lời câu hỏi này vì bị thúc đẩy mãnh liệt phải nói ra, xuất phát từ sự lịch sự quá mức, đến hạ mình, không thể rũ bỏ nổi của tôi, việc mà trong khi nói chuyện tôi luôn thấy ghê tởm, tuy vậy tôi vẫn kể rằng..

 

Để lại comment

avatar
7000