Trang chủ / Review / Hãy tò mò như một đứa trẻ

Hãy tò mò như một đứa trẻ

Thể loại Kỹ năng
Tác giả Brian Grazer – Charles Fishman
NXB NXB Thế Giới
Công ty phát hành Alphabooks
Số trang 371
Ngày xuất bản 01-2017
Giá bán Xem giá bán

“Tôi chẳng có tài trí gì đặc biệt.

Tôi chỉ cực kỳ tò mò mà thôi.”

− ALBERT EINSTEIN

Quả là ý tưởng không tồi khi bắt đầu cuốn sách về trí tò mò bằng cách đặt một câu hỏi hiển nhiên rằng:

Có ai giống tôi lại đi viết một cuốn sách về trí tò mò không?

Tôi là nhà sản xuất truyền hình kiêm nhà làm phim. Tôi sống giữa trung tâm giải trí đông đúc nhất thế giới: Hollywood.

Chẳng biết bạn hình dung ra sao về cuộc sống của một nhà làm phim Hollywood, nhưng rất có thể cuộc sống của tôi đúng như những gì bạn tưởng tượng. Chúng tôi làm cùng lúc hơn một chục bộ phim và các chương trình truyền hình, vì thế công việc của tôi là gặp gỡ các diễn viên, nhà biên kịch, đạo diễn và nhạc sĩ. Những cuộc điện thoại – với các đại diện, nhà sản xuất, giám đốc xưởng phim, các ngôi sao – diễn ra trước cả khi tôi đến văn phòng và thường kéo dài cho đến khi tôi lên xe về nhà. Tôi đến các phim trường bằng máy bay, tôi nghiên cứu các đoạn quảng cáo phim mới và tham dự các buổi ra mắt phim.

Tôi luôn bận bịu mỗi ngày, công việc luôn quá tải và đôi lúc gây nản lòng. Tuy nhiên, chúng thường khá vui vẻ. Và không bao giờ gây nhàm chán.

Nhưng tôi không phải là một nhà báo hay giáo sư. Tôi cũng không phải là một nhà khoa học. Tôi không về nhà mỗi tối và nghiên cứu tâm lý như một sở thích bí mật.

Tôi là một nhà sản xuất Hollywood.

Vậy tôi đang làm gì khi viết một cuốn sách về trí tò mò thế này?

Nếu thiếu đi trí tò mò, sẽ chẳng điều gì có thể xảy ra.

Còn hơn cả trí thông minh, sự kiên trì hay các mối quan hệ, trí tò mò đã giúp tôi sống một cuộc đời như tôi muốn.

Trí tò mò là thứ đưa nguồn năng lượng và sự sáng suốt vào mọi việc tôi làm. Tôi thích công việc làm phim, tôi thích kể những câu chuyện. Nhưng tôi đã thích tò mò rất lâu trước khi thích làm phim.

Đối với tôi, trí tò mò mang lại khả năng cho mọi thứ. Thật vậy, trí tò mò là chìa khóa cho thành công cũng như hạnh phúc của tôi.

Thế nhưng, dù trí tò mò đã mang những giá trị ấy vào cuộc sống và công việc của tôi, nhưng khi nhìn quanh, tôi không thấy mọi người nói về nó, viết về nó, khuyến khích nó và sử dụng nó trong nhiều lĩnh vực nhất có thể.

Trí tò mò đã trở thành phẩm chất có giá trị nhất, nguồn lực quan trọng nhất và động lực trung tâm trong cuộc sống của tôi. Theo tôi, trí tò mò nên trở thành một phần trong văn hóa, hệ thống giáo dục, công sở, giống như các khái niệm “sáng tạo” và “đổi mới”.

Vì lẽ đó, tôi quyết định viết một cuốn sách về trí tò mò. Nó đã (và hiện vẫn) khiến cuộc sống của tôi trở nên tốt đẹp hơn. Nó cũng có thể khiến cuộc sống của các bạn trở nên tốt đẹp hơn như thế.

* * *

Mọi người gọi tôi là nhà sản xuất phim – tôi thậm chí cũng tự gọi mình như thế – nhưng thực tế tôi lại là một người kể chuyện. Vài năm trước, tôi bắt đầu coi trí tò mò là một giá trị mà tôi muốn chia sẻ, một phẩm chất mà tôi muốn khơi gợi ở người khác. Điều tôi thực sự muốn làm là ngồi xuống và kể vài câu chuyện về những gì trí tò mò đã làm được cho bản thân.

Tôi muốn kể những câu chuyện về việc trí tò mò đã giúp tôi làm phim như thế nào. Tôi cũng muốn kể những câu chuyện về việc trí tò mò đã giúp tôi trở thành một vị sếp tốt hơn, một người bạn tốt hơn, một doanh nhân tốt hơn và một vị khách tốt hơn ra sao.

Tôi muốn kể những câu chuyện về niềm vui khôn xiết mà việc khám phá ra trí tò mò không giới hạn đó mang lại. Đó là kiểu niềm vui chúng ta có giống như con trẻ khi học được những điều mới mẻ chỉ bởi vì tò mò. Ta có thể tiếp tục làm việc ấy khi trưởng thành và niềm vui vẫn vẹn nguyên như thế.

Cách tốt nhất để truyền tải những câu chuyện này – để minh họa cho sức mạnh và sự đa dạng của trí tò mò – đó là viết chúng ra.

Tóm lại, đó là tất cả những gì bạn đang nắm giữ trong tay. Tôi đã cộng tác với nhà báo, đồng tác giả của cuốn sách này, Charles Fishman. Trong khoảng hơn tám tháng, với hai đến ba lần trao đổi hằng tuần – chúng tôi đã có khoảng hơn 100 cuộc trò chuyện và lần nào cũng về trí tò mò.

Tôi biết rất rõ về việc trí tò mò giữ vai trò quan trọng như thế nào trong cuộc sống của mình. Như bạn sẽ thấy trong các chương kế tiếp, từ lâu tôi đã phát hiện ra làm sao để sử dụng trí tò mò một cách có hệ thống nhằm kể những câu chuyện, làm ra những bộ phim hấp dẫn và tìm hiểu về các vùng đất trên thế giới, những nơi cách xa Hollywood. Một trong những việc mà tôi đã làm trong suốt 35 năm qua đó là ngồi xuống và trò chuyện với những người không làm trong ngành giải trí – “những cuộc trò chuyện tò mò” với những người làm việc trong mọi lĩnh vực từ vật lý hạt đến nghi thức ngoại giao.

Nhưng tôi chưa bao giờ tò mò về bản thân trí tò mò. Vì vậy, tôi đã dành hai năm qua để suy nghĩ, đặt câu hỏi và cố gắng hiểu cơ chế hoạt động của nó.

Trong quá trình khám phá và khai mở, phác họa và phân tích kỹ lưỡng về nó, chúng tôi đã phát hiện ra vài điều vô cùng hấp dẫn và đáng kinh ngạc. Có cả một “phổ” trí tò mò giống như phổ màu sắc ánh sáng. Trí tò mò xuất hiện dưới nhiều sắc độ và cường độ khác nhau, cho những mục đích khác nhau.

Phương pháp vẫn tương tự – đặt câu hỏi – dù là chủ đề gì đi nữa, nhưng nhiệm vụ, động lực và nhịp độ khác nhau. Trí tò mò của một cảnh sát đang cố gắng giải quyết một vụ giết người rất khác so với trí tò mò của một kiến trúc sư đang cố gắng để đưa ra một bản thiết kế sàn phù hợp cho một căn hộ gia đình.

Phải thừa nhận rằng kết quả là một cuốn sách có chút bất thường. Chúng tôi kể nó trong vai người thứ nhất, dưới góc nhìn của Brian Grazer, bởi những câu chuyện trọng tâm xuất phát từ cuộc sống và công việc của tôi.

Vì thế, một phần cuốn sách là bức phác họa chân dung của tôi. Nhưng thực tế phần nhiều nó là bức tranh sống động về bản thân trí tò mò.

Trí tò mò đã dẫn lối tôi trên mọi hành trình của cuộc đời. Đặt câu hỏi về chính trí tò mò trong suốt hai năm qua là một việc làm thực sự hấp dẫn.

Và có một điều mà tôi biết về trí tò mò, đó là: Nó rất dân chủ.

Bất cứ ai, ở bất cứ đâu, ở bất kỳ độ tuổi hay nền giáo dục nào đều có thể sử dụng nó. Một điểm cần nhớ về sức mạnh thầm lặng của trí tò mò đó là có những quốc gia trên hành tinh này, nơi bạn có thể phải cẩn thận với bất cứ ai mà bạn hướng trí tò mò của mình đến. Tò mò ở Nga đã được chứng minh là có thể gây thiệt mạng, tò mò ở Trung Quốc có thể khiến bạn vào tù.

Nhưng dù bị cấm đoán, trí tò mò vẫn luôn tồn tại.

Nó luôn hiện hữu, và luôn chờ được bung nở.

Mục đích của cuốn sách này, Hãy tò mò như một đứa trẻ, rất đơn giản: Tôi muốn cho bạn thấy trí tò mò quý giá đến nhường nào, và nhắc bạn rằng nó mang lại sự vui vẻ ra sao. Tôi muốn cho bạn biết tôi đã sử dụng nó thế nào và bạn có thể tận dụng nó ra sao.

Cuộc sống không phải là đi tìm câu trả lời mà là đặt ra các câu hỏi.

– Brian Grazer

Bảng Review

Nội dung
Văn phong
Độ dễ đọc
Ứng dụng
Chất lượng giấy

Good

User Rating: 3.8 ( 1 votes)

Trích dẫn

Chương I

CHẲNG CÓ THUỐC NÀO CHỮA ĐƯỢC SỰ TÒ MÒ

“Trí tò mò là liều thuốc chữa sự buồn tẻ.

Chẳng có thuốc nào chữa được sự tò mò.”

− DOROTHY PARKER

Một chiều hè thứ Năm, sau khi tốt nghiệp Đại học Nam California (USC), tôi ngồi trong căn hộ ở Santa Monica hướng ra ô cửa sổ đang mở và suy nghĩ về việc làm sao kiếm được việc làm cho đến khi bắt đầu học trường luật ở USC vào mùa thu.

Đột nhiên, tôi nghe lỏm thấy có hai gã đang nói chuyện phía ngoài cửa sổ. Một gã lên tiếng: “Ôi Chúa ơi, tôi có được công việc dễ chịu nhất ở Warner Bros. Tôi được trả lương cho tám tiếng làm việc mỗi ngày nhưng thường chỉ tốn có một giờ làm việc.”

Gã này ngay lập tức đã thu hút được sự chú ý của tôi. Tôi hé cửa sổ thêm chút nữa để không bỏ lỡ phần còn lại của câu chuyện và nhẹ nhàng kéo rèm.

Gã nọ tiếp tục nói rằng hắn là thư ký pháp lý. “Tôi vừa bỏ việc hôm nay. Sếp tôi tên là Peter Knecht.”

Tôi sửng sốt. Nghe có vẻ hoàn hảo đối với tôi.

Tôi đi thẳng ra phía chiếc điện thoại, nhấn số 4113, và hỏi xin số tổng đài ở Warner Bros. Giờ tôi vẫn nhớ số, 954-60004.

Tôi bấm số và đề nghị được gặp Peter Knecht. Một thư ký ở văn phòng ông ấy nghe máy, và tôi nói với cô ta: “Tôi sẽ nhập học trường luật USC vào mùa thu và tôi muốn gặp ông Knecht để xin ứng tuyển vào vị trí thư ký pháp lý còn đang bỏ ngỏ.”

Knecht nghe máy. “Cậu có thể đến đây vào ba giờ chiều mai không?”, ông ấy hỏi.

Tôi đến gặp ông ấy vào 3 giờ chiều thứ Sáu. Ông ấy tuyển dụng tôi vào lúc 3 giờ 15 phút. Và tôi bắt đầu công việc ở Warner Bros. Ngay sáng thứ Hai sau đó.

Tôi đã không hề nhận ra tại thời điểm đó, nhưng có hai điều không thể tin được đã xảy ra vào ngày hè năm 1974 đó.

Đầu tiên, cuộc sống của tôi đã thay đổi mãi mãi. Khi tôi được tuyển dụng vào vị trí thư ký pháp lý vào sáng thứ Hai đó, họ đã sắp xếp cho tôi một văn phòng bé như một chiếc tủ quần áo và không hề có cửa sổ. Khi ấy, tôi đã tìm được công việc của đời mình. Từ căn phòng bé xíu đó, tôi đã bước chân vào ngành làm phim. Tôi đã không bao giờ làm ở nơi nào khác nữa.

Tôi cũng nhận ra rằng trí tò mò đã cứu rỗi cuộc đời tôi vào buổi chiều thứ Năm đó. Tôi đã tò mò đủ lâu như tôi có thể nhớ. Hồi nhỏ, tôi thường đặt ra cho mẹ và bà tôi hàng loạt các câu hỏi, họ có thể trả lời một vài câu trong số đó, vài câu thì không.

Đến khi trưởng thành, trí tò mò đã trở thành một phần trong cách tôi tiếp cận thế giới mỗi ngày. Trí tò mò của tôi không thay đổi nhiều kể từ khi tôi nghe lỏm được cuộc nói chuyện của hai gã ngoài cửa sổ căn hộ. Nó thực sự không thay đổi nhiều kể từ khi tôi là một cậu bé 12 tuổi hiếu động.

Trí tò mò thường giúp tôi mở mang tầm mắt nhưng đôi lúc cũng gây hại. Nhiều trong những điều tuyệt vời đã xảy ra trong cuộc sống của tôi là kết quả của trí tò mò. Và trí tò mò cũng thường khiến tôi gặp rắc rối.

Nhưng ngay cả khi trí tò mò khiến tôi gặp rắc rối thì đó cũng là những rắc rối thú vị.

Trí tò mò không bao giờ làm tôi thất vọng. Tôi chưa bao giờ cảm thấy hối tiếc khi đặt ra câu hỏi tiếp theo đó. Trái lại, trí tò mò đã mở ra nhiều cơ hội trước mắt tôi. Tôi đã gặp những con người thú vị, làm ra những bộ phim hay, kết thân được với những người bạn tuyệt vời và có được những cuộc phiêu lưu đầy bất ngờ, thậm chí là “rơi vào lưới tình” – bởi tôi không hề cảm thấy xấu hổ khi đặt câu hỏi.

Công việc đầu tiên ở hãng Warner Bros. vào năm 1974 chẳng khác nào cái văn phòng bé tí mà hãng đã phân cho tôi – tù túng và gây nản lòng. Công việc rất đơn giản: Tôi được yêu cầu giao các hợp đồng cuối và các tài liệu pháp lý cho những người đang làm với Warner Bros. Có thế thôi. Tôi nhận được các phong bì đầy tài liệu và địa chỉ cần chuyển tới, rồi cứ thế lên đường.

Mang tiếng là thư ký pháp lý nhưng thực sự tôi chỉ là nhân viên giao nhận được tôn lên mà thôi. Lúc đó tôi có một chiếc BMW cũ đời 2002 – một trong những chiếc BMW mui kín hai cửa hình hộp trông cứ như thể đang đổ về phía trước. Chiếc xe có màu rượu vang đỏ nhạt và tôi dành cả ngày lái xe quanh Hollywood và Beverly Hills, giao bưu phẩm và các giấy tờ quan trọng.

Tôi nhanh chóng phát hiện ra một điều thực sự thú vị về công việc của mình: Những người mà tôi giao giấy tờ. Họ là các chính trị gia, những người có thế lực và các ngôi sao của Hollywood thập niên 1970 – các nhà biên kịch, đạo diễn, nhà sản xuất và các ngôi sao. Chỉ có một vấn đề duy nhất: Những người như thế luôn có các trợ lý hoặc thư ký, bảo vệ hoặc quản gia.

Nếu làm công việc này, tôi không muốn bỏ lỡ phần tích cực duy nhất. Tôi không muốn gặp các quản gia, tôi muốn gặp những nhân vật quan trọng kia. Tôi rất tò mò về họ.

Vì thế tôi đã tìm ra một bước đi đầu tiên khá đơn giản. Khi đến giao bưu phẩm, tôi sẽ nói với những người trung gian – các thư ký và bảo vệ – rằng tôi phải giao trực tiếp các tài liệu cho “chính chủ”.

Tôi tới ICM – một công ty lớn – để giao hợp đồng cho một đại diện lớn của thập niên 1970, Sue Mengers5, người đại diện cho Barbra Streisand và Ryan O’Neal, Candice Bergen và Cher, Burt Reynolds và Ali MacGraw. Làm sao tôi có thể gặp được Mengers? Tôi đã nói với lễ tân của ICM rằng: “Cách duy nhất để cô Mengers có thể nhận được bưu phẩm đó là tôi phải giao trực tiếp cho cô ấy.” Nhân viên lễ tân nọ đã cho tôi vào mà không đặt ra bất cứ câu hỏi nào.

Nếu người nhận không có ở đó, tôi sẽ ra về và quay trở lại sau. Cái gã “dâng” công việc cho tôi đã đúng. Tôi có cả ngày nhưng không có nhiều việc cần lo.

Đây là cách tôi đã gặp Lew Wasserman, vị giám đốc khó tính của Hãng MCA và vợ ông ta, Jules Stein.

Đó là cách tôi đã gặp William Peter Blatty, tác giả cuốn The Exorcist, và cả Billy Friedkin, người đã giành được giải Oscar nhờ chuyển thể tác phẩm đó thành phim.

Tôi đã giao các hợp đồng cho Warren Beatty ở khách sạn Beverly Wilshire.

Tôi chỉ mới 23 tuổi nhưng tôi đã rất tò mò. Và tôi nhanh chóng biết được rằng tôi không những có thể gặp được những người này, mà còn có thể ngồi và nói chuyện với họ.

Tôi sẽ giao các tài liệu với sự nhã nhặn và lịch thiệp, và vì đó là thập niên 1970 nên họ luôn nói rằng: “Mời vào, uống gì nhé, cà phê đi!”

Tôi sẽ tận dụng những khoảnh khắc như thế để hiểu qua về họ, đôi khi là để có được chút lời khuyên về công việc. Tôi không bao giờ đưa ra đề nghị xin việc. Thực sự là tôi chẳng đưa ra đề nghị xin gì hết.

Rất nhanh chóng, tôi nhận ra rằng công việc làm phim và chương trình truyền hình thú vị hơn nhiều so với trường luật. Vì vậy tôi quyết định từ bỏ – tôi không bao giờ đến trường luật; tôi có thể sẽ trở thành một luật sư tồi – và tôi tiếp tục làm ở vị trí thư ký pháp lý đó trong một năm, đến tận mùa hè năm sau.

Bạn biết tò mò là thế nào: trong suốt khoảng thời gian đó, không ai bắt được tháu cáy6của tôi. Không ai nói rằng: “Này nhóc, hãy để hợp đồng trên bàn và ra ngoài đi. Cậu không cần phải gặp Warren Beatty đâu.”

Tôi gặp được tất cả những người mà tôi giao tài liệu.

Cũng giống như việc trí tò mò đã mang lại cho tôi công việc đó, nó cũng biến công việc đó thành một điều thực sự tuyệt vời.

Những người được tôi giao tài liệu đã thay đổi cuộc đời tôi. Họ cho tôi thấy toàn bộ phong cách kể chuyện mà tôi chưa được làm quen, và tôi bắt đầu nghĩ rằng có thể tôi sinh ra đã là một người biết kể chuyện. Họ đã dọn đường để tôi tạo ra những bộ phim như Splash vàApollo 13, American Gangster, Friday Night Lights và A Beautiful Mind.

Có điều gì đó rất quan trọng cũng đã xảy ra trong suốt một năm tôi làm thư ký pháp lý. Đó là năm tôi bắt đầu đánh giá tích cực sức mạnh thực sự của trí tò mò.

Nếu bạn lớn lên vào những thập niên 1950 và 1960 thì trí tò mò không được coi là một phẩm chất. Trong những phòng học ngoan ngoãn và trật tự của thời kỳ Eisenhower7, trí tò mò còn hơn cả một hành động khiêu khích. Tất nhiên tôi biết mình tò mò, nhưng điều đó có vẻ giống việc đeo kính. Đó là đặc điểm gây chú ý nhưng lại không giúp tôi được chọn vào các đội thể thao, và cũng không giúp tôi cưa gái.

Năm đầu tiên ở Warner Bros., tôi nhận ra rằng trí tò mò còn hơn cả nhân phẩm của bản thân tôi. Đó là một thứ vũ khí bí mật, hữu hiệu trong việc được chọn vào đội thể thao – hóa ra cũng hữu hiệu trong việc trở thành đội trưởng của đội – và cũng là thứ vũ khí hoàn hảo trong việc cưa gái.

* * *

Trí tò mò có vẻ quá đơn giản. Thậm chí vô hại.

Giống chó săn Labrador vô cùng tò mò. Cá heo cũng là loài rất tò mò. Một em bé hai tuổi lục lọi khắp các ngăn tủ bếp cũng rất tò mò – và vô cùng thích thú với giá trị giải trí ồn ào của trí tò mò ấy. Mỗi người gõ một thắc mắc vào công cụ tìm kiếm của Google và nhấp chuột vào nút “Enter” đều tò mò về điều gì đó – và việc này xảy ra 4 triệu lần mỗi phút, mỗi phút trong ngày.8

Nhưng trí tò mò còn có một sức mạnh tiềm ẩn mà hầu như chúng ta đều coi nhẹ.

Trí tò mò là chất dẫn khơi nguồn cho sự tán tỉnh – trong một quán bar, ở một bữa tiệc, trong giảng đường môn Kinh tế 101. Và trí tò mò nuôi dưỡng sự lãng mạn ấy, cùng tất cả các mối quan hệ tốt đẹp nhất của con người – hôn nhân, tình bạn, sự gắn kết giữa cha mẹ và con cái. Trí tò mò đủ để đặt ra một câu hỏi – “Hôm nay anh thế nào?” hoặc “Anh/em có khỏe không?” – để nghe câu trả lời và để đặt ra câu hỏi tiếp theo.

Trí tò mò có thể vừa mang tính cấp bách vừa không mấy quan trọng. Ai đã bắn J.R?Breaking Bad sẽ kết thúc ra sao? Những con số độc đắc trên tấm vé trong giải xổ số Powerball lớn nhất trong lịch sử là những con số nào? Những câu hỏi này chứa đựng sự cưỡng bách đầy nôn nóng – đến tận khi chúng ta nhận được câu trả lời. Một khi trí tò mò được thỏa mãn, câu hỏi tức khắc được giải đáp. Dallas là một ví dụ hoàn hảo: Ai đã bắn J.R? Nếu sống trong thập niên 1980, bạn biết câu hỏi nhưng có thể không nhớ câu trả lời.9

Tất nhiên, có rất nhiều tình huống khi mà sự cấp bách hóa ra lại chính đáng, và khi mà việc thỏa mãn trí tò mò ban đầu chỉ gợi thêm sự tò mò. Nỗ lực giải mã bộ gen người đã biến thành một cuộc đua kịch tính giữa hai nhóm các nhà khoa học. Và một khi bộ gen đã được giải mã, các kết quả mở ra hàng ngàn con đường tươi mới cho trí tò mò Y học và Khoa học.

Chất lượng của nhiều trải nghiệm thường xoay quanh trí tò mò. Nếu bạn định mua một chiếc ti vi mới, thì loại ti vi mà bạn sắp mang về nhà và mức độ bạn thích nó phụ thuộc rất nhiều vào sự tò mò của nhân viên bán hàng: tò mò đủ về những chiếc ti vi để hiểu rõ chúng; tò mò đủ về những nhu cầu và thói quen xem truyền hình của bạn để tìm ra loại ti vi mà bạn cần.

Thực sự, đó chính là ví dụ hoàn hảo về trí tò mò được ngụy trang.

Trong một cuộc gặp gỡ như thế, chúng ta sẽ phân loại nhân viên bán hàng “giỏi” hoặc “tệ”. Một nhân viên tệ có thể tìm đủ mọi cách để cố bán thứ mà khách hàng không muốn hoặc không hiểu rõ, hay đơn giản chỉ là giới thiệu những chiếc ti vi giảm giá, lặp lại nguyên xi danh sách những chi tiết đã được ghi trên tờ giới thiệu đặt dưới mỗi chiếc ti vi. Nhưng thành phần chính trong mỗi tình huống đều là trí tò mò – về khách hàng và về các sản phẩm.

Trí tò mò ẩn như thế có mặt ở khắp nơi mà bạn thấy – sự hiện diện hoặc sự thiếu vắng nó cho thấy phần kỳ diệu ở một loạt những nơi đáng kinh ngạc. Chìa khóa để khai mở những bí ẩn về gen của con người: Trí tò mò. Chìa khóa để minh chứng cho dịch vụ khách hàng tuyệt vời: Trí tò mò.

Nếu bạn đang tham dự một bữa tối xã giao chán ngắt thì trí tò mò có thể cứu rỗi bạn.

Nếu bạn đang phiền muộn về sự nghiệp của mình, trí tò mò có thể giải cứu bạn.

Nếu bạn đang cảm thấy thiếu sáng tạo hay không có động lực, trí tò mò có thể là phương thuốc hữu hiệu.

Nó có thể giúp bạn tận dụng sự tức giận hoặc căng thẳng một cách tích cực.

Nó có thể trao cho bạn động lực.

Trí tò mò có thể làm tăng hương vị cho cuộc sống của bạn và đưa bạn tiến xa hơn vượt ra khỏi niềm vui thích – nó có thể làm tăng toàn bộ ý thức của bạn về sự an toàn, sự tự tin và sự tốt đẹp.

Nhưng tất nhiên, nó không làm bất cứ điều nào trong số những điều trên một cách đơn độc.

Để đạt được hiệu quả, trí tò mò phải được trang bị đi kèm với ít nhất với hai đặc tính quan trọng khác. Đầu tiên là khả năng chú ý đến câu trả lời cho câu hỏi của bạn – bạn phải thực sự thẩm thấu được bất cứ thứ gì mà bạn đang tò mò muốn biết.

Đặc điểm thứ hai là sự sẵn sàng hành động. Không còn nghi ngờ gì nữa, trí tò mò là niềm cảm hứng cho suy nghĩ rằng chúng ta có thể bay lên cung trăng nhưng nó không thể đưa hàng trăm ngàn người, đầu tư hàng tỉ đô-la và quyết tâm vượt qua thất bại cũng như những thảm họa dọc hành trình để biến điều đó thành hiện thực. Trí tò mò có thể truyền cảm hứng cho một tầm nhìn độc đáo – về hành trình lên cung trăng hay quá trình thực hiện một bộ phim, v.v… Nó có thể làm đầy thêm cảm hứng đó khi tinh thần sa sút – Hãy nhìn kìa, đó là nơi chúng ta sắp đến! Nhưng vào thời điểm nào đó, trên hành trình đến mặt trăng hoặc hoàn thiện bộ phim, công việc có thể trở nên vất vả, trở ngại sẽ nối tiếp nhau và áp lực chồng chất, và đó là khi bạn cần sự quyết tâm.

Tôi mong thực hiện được ba điều sau trong cuốn sách này: Tôi muốn bạn thấy được giá trị và sức mạnh của trí tò mò; tôi muốn cho bạn thấy mọi cách mà tôi đã sử dụng nó, với mong muốn việc đó sẽ truyền cảm hứng cho bạn thử nghiệm nó trong cuộc sống hằng ngày; và tôi muốn bắt đầu một cuộc trò chuyện ở một thế giới rộng lớn hơn về lý do tại sao ngày nay một phẩm chất quan trọng như thế lại bị coi nhẹ, ít được chỉ dạy và ươm mầm.

Bản thân trí tò mò có vẻ không mấy phức tạp. Các nhà tâm lý học định nghĩa trí tò mò là “mong muốn được biết”. Chính xác là vậy. Tất nhiên, “mong muốn được biết” có nghĩa là tìm kiếm thông tin. Trí tò mò khởi đầu như là một sự thôi thúc, hối thúc nhưng nó xuất hiện trong thế giới dưới dạng một thứ gì đó tích cực và triệt để hơn – một câu hỏi.

Đối với chúng ta, trí tò mò có vẻ tự nhiên như cái đói hay cơn khát. Một đứa trẻ đặt ra hàng loạt các câu hỏi có vẻ vô thưởng vô phạt như: Tại sao bầu trời lại xanh? Bầu trời xanh cao đến đâu? Bầu trời xanh đi đâu mất vào buổi tối? Thay vì các câu trả lời (hầu hết người lớn đều không thể giải thích vì sao bầu trời màu xanh, kể cả tôi), đứa trẻ có thể nhận được một câu trả lời qua loa đại khái như: “Tại sao ư, con không phải là một cô bé tò mò sao…?”10

Đối với vài người, các câu hỏi như thế có vẻ khó, thậm chí còn khó hơn nếu bạn không rõ câu trả lời. Thay vì trả lời đứa trẻ, người lớn đơn giản chỉ sử dụng quyền năng của chính mình để gạt chúng sang một bên. Trí tò mò có thể khiến chúng ta, những người lớn, cảm thấy thiếu kiên nhẫn hoặc khó chịu – đó là trải nghiệm của các bậc cha mẹ – những người không biết tại sao bầu trời lại xanh, là trải nghiệm của giáo viên – người còn đang cố hoàn thành phần bài giảng của ngày hôm đó để không bị cháy giáo án.

Cô bé không những không có câu trả lời mà còn có ấn tượng sâu đậm rằng việc đặt câu hỏi – những câu hỏi vô thưởng vô phạt hoặc kích thích sự tò mò – thường được coi là việc làm vô lý.

Điều đó không có gì ngạc nhiên.

Ngày nay, không ai từng nói điều gì tồi tệ một cách trực tiếp về trí tò mò. Nhưng nếu để ý, bạn sẽ thấy trí tò mò không thực sự được tôn vinh và nuôi dưỡng, cũng không được bảo vệ và khuyến khích. Trí tò mò không những được cho là bất tiện. Trí tò mò còn có thể gây nguy hiểm. Trí tò mò không chỉ vô lý mà còn thể hiện sự chống đối. Nó mang tính cách mạng.

Đứa trẻ tự nhiên hỏi tại sao bầu trời màu xanh khi lớn lên sẽ đặt ra những câu hỏi hóc búa hơn: Tại sao tôi là nô lệ còn người là hoàng đế? Tại sao mặt trời lại quay quanh Trái đất? Tại sao người da màu là nô lệ còn người da trắng là giai cấp thống trị họ?

Trí tò mò nguy hại như thế nào?

Tất cả những gì bạn phải làm là tra Kinh Thánh để biết. Câu chuyện đầu tiên trong Kinh Thánh sau câu chuyện về tạo hóa, liên quan đến con người, là về trí tò mò. Câu chuyện về Adam, Eve, con rắn và cái cây không kết thúc có hậu vì sự tò mò.

Chúa đã nói với Adam rằng: “Ngươi được ăn thoải mái trái từ bất cứ cây nào trong khu vườn; nhưng không được ăn trái ở cây kiến thức về cái tốt và cái xấu, vì khi ăn trái ở cây đó, chắc chắn ngươi sẽ chết.”11

Con rắn là thủ phạm đã gợi ra việc thách thức giới hạn của Chúa. Nó hỏi Eve: “Có một cái cây mà Chúa đã ban bố các giới hạn chứ?” “Đúng thế,” Eve trả lời, “cái cây ở chính giữa vườn kia – chúng ta không thể ăn trái từ cây đó, chúng ta thậm chí không thể chạm vào nó, nếu không chúng ta sẽ chết.”

Eve biết rõ các quy định, nàng thêm thắt đôi chút nữa: Thậm chí, đừng có chạm vào cái cây.

Con rắn đáp lại bằng câu nói chắc chắn được coi là ra vẻ hiên ngang nhất trong lịch sử – không hề sợ cây kiến thức về cái tốt và cái xấu, thậm chí cả Chúa. Nó nói với Eve rằng: “Ngươi chắc chắn sẽ không chết. Vì Chúa biết rằng khi ngươi ăn trái từ cây đó, mắt ngươi sẽ được mở ra, và ngươi sẽ giống như Chúa, biết rõ cái tốt và cái xấu.”12

Con rắn đã đánh trúng vào trí tò mò của Eve. “Ngươi thậm chí không biết ngươi không biết điều gì,” con rắn nói. Chỉ cần cắn một miếng trái cấm thôi, ngươi sẽ nhìn thế giới theo một cách hoàn toàn khác.

Eve đến gần cái cây và phát hiện ra rằng: “Trái cây có thể làm thức ăn và nhìn rất bắt mắt, đồng thời nàng cũng muốn được khai sáng.”13

Nàng bứt một quả, đưa lên miệng, cắn một miếng, sau đó đưa cho Adam cắn một miếng. “Và mắt họ đều được mở ra.”14

Kiến thức chưa bao giờ quá dễ dàng có được và suy cho cùng quá khó để có thể đạt được. Việc Chúa rất tức giận còn nhẹ. Hình phạt cho việc biết cái tốt cái xấu vô cùng bất hạnh đối với Adam và Eve, và mãi mãi đối với tất cả chúng ta: Nỗi đau sinh nở dành cho Eve và sự cực nhọc trong việc tạo ra nguồn thức ăn cho chính họ dành cho Adam. Và tất nhiên, họ bị trục xuất khỏi khu vườn.

Câu chuyện ngụ ngôn trên không thể trực diện hơn: Trí tò mò gây ra đau đớn. Thực vậy, bài học từ câu chuyện được hướng trực tiếp vào độc giả: Dù nỗi bất hạnh hiện tại của bạn là gì đi chăng nữa, thì nó cũng được gây ra bởi Adam, Eve, con rắn và trí tò mò nổi loạn của họ.

Như vậy là bạn đã biết. Câu chuyện đầu tiên trong thuở sơ khai của nền văn minh Phương Tây này là về trí tò mò và thông điệp của nó: Đừng đặt ra các câu hỏi. Đừng tự tìm kiếm kiến thức – hãy để đó cho những người chịu trách nhiệm. Kiến thức chỉ dẫn đến sự bất hạnh mà thôi.

Barbara Benedict là giáo sư tại Đại học Trinity ở Hartford, Connecticut và là một học giả của thế kỷ XVIII, người đã dành nhiều năm nghiên cứu về thái độ đối với trí tò mò trong suốt giai đoạn đó, như là một cuộc điều tra khoa học nhằm vượt qua tôn giáo để thấu hiểu về thế giới.

Bà nói rằng câu chuyện về Adam và Eve là một lời cảnh báo. “‘Ngươi là một bần nông bởi Chúa nói ngươi phải là một bần nông. Ta là hoàng đế bởi Chúa nói ta nên là một hoàng đế. Đừng thắc mắc gì về điều đó.’ Những câu chuyện giống như chuyện về Adam và Eve,” Benedict nói, “phản ánh nhu cầu về văn hóa và văn minh nhằm duy trì tình trạng hiện tại. ‘Mọi thứ vẫn nguyên xi như nó vẫn thế bởi như thế mới đúng.’ Quan điểm đó rất phổ biến giữa những nhà lập pháp và những người kiểm soát thông tin.” Và điều đó đúng từ khu vườn Địa Đàng đến chính quyền Obama.

Trí tò mò vẫn chưa nhận được sự tôn kính nào. Chúng ta sống trong một kỷ nguyên mà tại đó, nếu bạn sẵn lòng tìm hiểu, mọi kiến thức đều dễ dàng có thể được tiếp cận qua điện thoại thông minh, nhưng thiên hướng chống lại trí tò mò vẫn thấm đẫm nền văn hóa của chúng ta.

Lớp học nên là nơi ươm mầm các câu hỏi, nơi nuôi dưỡng chúng, để trẻ vừa học cách đặt câu hỏi và vừa truy tìm những câu trả lời. Một số lớp học đúng là như thế. Nhưng trong thực tế, ở trường học, trí tò mò thường được đối xử như ở vườn Địa Đàng. Đặc biệt với sự gia tăng liên tục các bài kiểm tra tiêu chuẩn, các câu hỏi có thể làm cháy giáo án mỗi ngày; thi thoảng, bản thân các giáo viên thậm chí còn không biết câu trả lời. Đúng là chúng ta không hề mong muốn nhưng trí tò mò thực sự trong một lớp 7 điển hình không được khuyến khích – bởi điều đó gây bất tiện, phiền nhiễu cho không khí trật tự của lớp.

Tình huống có phần khá khẩm hơn ở các văn phòng và nơi làm việc, nơi chỉ dành cho những người trưởng thành. Chắc chắn những nhà sáng tạo phần mềm, các nhà nghiên cứu dược phẩm và các giáo sư đại học được khuyến khích tò mò bởi nó giữ một vai trò to lớn trong công việc của họ. Nhưng chuyện gì xảy ra nếu một y tá hay nhân viên ngân hàng tò mò và bắt đầu đặt câu hỏi về việc mọi thứ xảy ra như thế nào? Ngoài những nơi thực sự đặc biệt như là Google, IBM và Corning, trí tò mò không được chào đón, nếu không muốn nói là bị coi nhẹ. Biết cách cư xử dù bạn mới 14 tuổi hay đã 45 – đều không bao gồm cả trí tò mò.

Ngay cả từ “tò mò” vốn dĩ cũng chẳng đáng tò mò một cách kỳ lạ. Tất nhiên, tất cả chúng ta đều vờ rằng một người tò mò là một điều thú vị. Nhưng khi mô tả một chủ thể bằng tính từ “tò mò”, chúng ta đều có ý rằng đó là thứ kỳ lạ, là thứ gì đó có phần kỳ quái, không bình thường. Và khi ai đó đáp lại một câu hỏi bằng cái nghiêng đầu và nói: “Đó là một câu hỏi đầy tò mò,” họ đương nhiên ám chỉ rằng đó không phải là câu hỏi đáng được đặt ra.

Quan trọng hơn, trí tò mò không chỉ là một công cụ tuyệt vời giúp cải thiện cuộc sống và hạnh phúc của chính bạn, mà còn tăng khả năng giành được một công việc tốt hay kiếm được một người bạn đời tuyệt vời. Đó là chìa khóa để mang lại những thứ mà chúng ta trân trọng nhất trong thế giới hiện đại: sự tự do, quyền tự quyết, sự tự chủ và tự cải tiến. Trí tò mò là đường dẫn đến sự tự do.

Khả năng đặt ra bất cứ câu hỏi nào bao gồm hai điều: Quyền tự do theo đuổi câu trả lời và khả năng thách thức uy quyền để đặt ra câu hỏi: “Bạn chịu trách nhiệm như thế nào?”

Trí tò mò bản thân nó là một dạng sức mạnh và cũng là một dạng can đảm.

* * *

Ngày bé, tôi béo và lùn. Tình hình vẫn không được cải thiện khi tôi đến tuổi niên thiếu. Khi tốt nghiệp đại học, tôi có khá nhiều mỡ thừa quanh bụng. Tôi bị chòng ghẹo ở biển. Trông tôi thật ẻo lả dù mặc hay không mặc áo.

Tôi quyết định phải thay đổi bản thân. Năm 22 tuổi, tôi thay đổi chế độ ăn và tập luyện thể dục đều đặn – phải nói là rèn luyện mới đúng. Tôi nhảy dây mỗi ngày. 200 lần một phút, 30 phút mỗi ngày và 7 ngày trong tuần. 6.000 lần nhảy dây mỗi ngày trong suốt 12 năm. Dần dần cơ thể tôi thay đổi, những ngấn mỡ thừa bắt đầu biến mất.

Tôi không ép mình phải có một cơ thể săn chắc. Và trông tôi cũng không giống một ngôi sao điện ảnh. Nhưng tôi cũng không giống những gì mà các bạn tưởng tượng về một đạo diễn phim. Phong cách của tôi có phần khá suồng sã. Tôi đi giày sneaker đi làm. Tóc tôi được vuốt keo dựng đứng và tôi cười khà khà.

Và giờ tôi vẫn tập thể dục bốn đến năm lần mỗi tuần, đó thường là việc trước tiên tôi làm vào mỗi buổi sáng, tôi thường dậy trước 6 giờ để đảm bảo mình có đủ thời gian (Giờ tôi không nhảy dây nữa bởi tôi thực sự không còn ngấn mỡ.) Tôi đã 63 tuổi và trong suốt 40 năm qua, tôi không bao giờ trở về thể trạng yếu xìu như trước nữa.

Tôi đã chọn một giải pháp và biến nó thành thói quen, thành một phần trong lối sống hằng ngày của mình.

Tôi cũng làm điều tương tự với trí tò mò.

Dần dần, bắt đầu với công việc thư ký pháp lý đầu tiên ở Warner Bros., tôi đã biến trí tò mò thành một phần công việc thường ngày của mình một cách có ý thức.

Tôi đã giải thích bước đầu tiên, việc tôi cương quyết xin gặp bất cứ ai sở hữu các hợp đồng pháp lý mà tôi phải giao đến. Nhờ đó, tôi đã rút ra hai điều từ thành công của mình. Đầu tiên, những người – thậm chí cả những người nổi tiếng và quyền lực – đều vui vẻ nói chuyện, đặc biệt là về bản thân và công việc của họ; thứ hai, nó giúp tôi thậm chí có được cái cớ dù nhỏ để nói chuyện với họ.

Đó là những gì mà câu nói: “Tôi phải giao những giấy tờ này trực tiếp cho người nhận,” một cái cớ – hiệu quả đối với tôi, đối với các thư ký và cả những người mà tôi ghé thăm. “Ồ, anh ấy cần gặp tôi trực tiếp, chắc chắn rồi.”

Một vài tháng sau khi tôi bắt đầu công việc ở Warner Bros., một phó tổng giám đốc cấp cao của hãng này bị sa thải. Tôi nhớ đã thấy họ bỏ tấm bảng tên anh ta ra khỏi cửa văn phòng.

Văn phòng của anh ta rất rộng, có cửa sổ, có hai thư ký và quan trọng nhất là nó nằm giáp với khu phòng điều hành – mà tôi gọi là các văn phòng “hoàng gia” – nơi mà chủ tịch, tổng giám đốc và phó tổng giám đốc của Warner Bros. làm việc.

Tôi đã hỏi sếp tôi, Peter Knecht, rằng liệu tôi có thể sử dụng phòng của phó tổng giám đốc khi chưa có người mới được không.

“Chắc chắn rồi,” Knecht trả lời. “Để tôi sắp xếp.”

Văn phòng mới đã thay đổi tất cả. Cũng giống như việc bạn khoác lên người đúng loại quần áo vào đúng dịp – khi đóng bộ comple, bạn sẽ cảm thấy tự tin và đĩnh đạc hơn hẳn – tới làm việc ở cái văn phòng thực sự đã làm thay đổi tầm nhìn của mình. Đột nhiên tôi cảm thấy như thể mình có một bất động sản tư, một vật sở hữu riêng.

Đó là thời kỳ đỉnh cao trong ngành làm phim ở Hollywood, cuối thập niên 1960 và 1970, cùng “khu văn phòng hoàng gia” được sử dụng bởi ba trong số những nhân vật sáng tạo và quan trọng nhất trong thời kỳ này – Frank Wells, tổng giám đốc của Warner Bros., người tiếp tục lãnh đạo Disney sau đó; Ted Ashley, người thậm chí không phải là một cái tên gia đình nhưng vẫn là chủ tịch của Warner Bros., người thực sự đã mang năng lượng và thành công quay trở lại hãng; và John Calley, phó tổng của Warner Bros., một nhà sản xuất huyền thoại, một năng lực sáng tạo, một trí thông minh của Hollywood và rõ ràng là một cá tính lập dị.

Tôi chỉ là một thư ký pháp lý nhưng tôi có một văn phòng riêng, các thư ký riêng và thậm chí còn có cả một trong những hệ thống liên lạc nội bộ loa hộp kiểu cũ trên bàn làm việc. Ngay ngoài văn phòng làm việc của tôi là ba trong số những người đàn ông quyền lực nhất Hollywood. Tôi đã tạo ra một tình huống mà có thể nói là đúng lúc, đúng chỗ.

Tôi đã bị cản trở bởi ngành giải trí và có vẻ như nhiều người trong ngành này cũng bị đánh gục bởi nó. Thật khó để có thể hiểu các bộ phim và chương trình truyền hình được làm ra như thế nào. Đó không phải là một quá trình đơn giản. Mọi người có vẻ đang dò dẫm trong làn sương mù mà không có dụng cụ dẫn đường nào.

Nhưng tôi bị hấp dẫn và quyến rũ bởi nó. Tôi giống như một nhà nhân loại học bước vào một thế giới mới, với một ngôn ngữ mới, những định chế và ưu tiên mới. Đó là một môi trường hoàn toàn mới mẻ và kích thích trí tò mò của tôi. Tôi quyết tâm học hỏi, thấu hiểu và làm chủ nó.

John Calley chính là người đã dẫn dắt và chỉ cho tôi biết ngành giải trí là gì và tương lai của nó có thể ra sao. Calley là một nhân vật lớn và là một nguồn sáng tạo trong ngành điện ảnh thập niên 1960, 1970. Dưới thời ông, Warner Bros. đã phát triển vượt trội, sản xuất ra các bộ phim như: The Exorcist, A clockwork Orange, Delverance, Dog day Afternoon, All the President’s men, the tower Inferno, Dirty Harry và Blazing Saddles.15

Khi tôi làm việc dưới thời ông, Calley tầm 44-45 tuổi, đang ở đỉnh cao quyền lực và đã là một huyền thoại – thông minh, lập dị và quyền lực. Trong thời kỳ này, Warner Bros. đang sản xuất mỗi tháng một bộ phim16 và Calley luôn nghĩ ra hàng trăm ý tưởng. Có rất ít người yêu quý ông, nhỉnh hơn số đó ngưỡng mộ ông nhưng cũng có rất nhiều người sợ ông.

Tôi nghĩ thứ mà ông thấy hấp dẫn ở tôi là sự ngây thơ và ham muốn khám phá. Tôi không tìm cách vụ lợi. Tôi còn quá non nớt và tôi thậm chí còn không biết vụ lợi cái gì.

Calley thường nói: “Grazer, vào văn phòng tôi ngồi đi.” Ông sẽ bảo tôi ngồi ở ghế sofa và tôi sẽ nhìn ông làm việc.

Để lại comment

avatar
7000