Trang chủ / Quà tặng cuộc sống / Giữa những điều bình dị – Hạt giống tâm hồn

Giữa những điều bình dị – Hạt giống tâm hồn

Giua nhung dieu binh di - Nguyen Quang Than1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả :  Đang cập nhật

Download sách Giữa những điều bình dị ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục :  SÁCH HAY VỀ CUỘC SỐNG

2. DOWNLOAD

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

 

Bạn không tải được sách ?  Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Lời giới thiệu

Nguyễn Quang Thân, sinh năm 1936 tại Sơn Lễ, Hương Sơn, Hà Tĩnh, viết văn từ năm 1957, là tác giả của năm cuốn tiểu thuyết (Lựa chọn, Chú bé có tài mở khóa, Một thời hoa mẫu đơn, Ngoài khơi miền đất hứa [đã dịch và in ở Pháp năm 1998] và Con ngựa Mãn Châu), một số kịch bản phim, nhiều tập truyện ngắn, truyện cho thiếu nhi v.v.

Đặc biệt, ông còn được độc giả biết đến nhiều trong thể loại truyện ngắn. Truyện Người không đi cùng chuyến tàu của ông ra đời năm 1980 được xem là một khởi đầu sớm cho sự nở rộ của thể loại truyện ngắn thời kỳ đổi mới. Sau đó là Vũ điệu cái bô và gần đây nhất, Gió heo may cùng nhiều truyện khác đã góp phần khẳng định thành công của ông trong thể loại này. Truyện ngắn của ông đã xuất hiện trong hơn 10 tập riêng cũng như rất nhiều tuyển tập in chung gồm nhiều tác giả. Một số truyện trong đó đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Nga, Hindu. Truyện của ông cũng đã nhận được nhiều giải thưởng văn học trong nước.

Sau thành công của tập truyện ngắn song ngữ Những tâm hồn lạc gồm nhiều tác giả, First News cùng với Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn xin hân hạnh giới thiệu với quý độc giả thêm một tác phẩm văn học Việt Nam bằng song ngữ. Đó là tập truyện ngắn Giữa Những Điều Bình Dị đang hiện diện trên tay bạn.

Có thể nói, hai dịch giả có uy tín Rosemary Nguyen, Mạnh Chương lựa chọn dịch 5 truyện ngắn này là do những yêu cầu khác nhau, trong những thời gian khác nhau, nhưng đều gặp nhau một điểm: đó là họ đã có mắt xanh chọn dịch được những truyện khá tiêu biểu và đa dạng về nội dung cũng như phong cách của Nguyễn Quang Thân. Phong cách đa dạng đó rất dễ nhận ra trong những truyện có tính dự báo đầy chua chát và kỳ quái như Vũ điệu cái bô, Thanh minh đến lối phân tích tâm lý nhân vật rạch ròi đến nghiệt ngã trong Chân dung hay thấm đẫm tình người và gợi cảm hứng lãng mạn như Gió heo may, Người đàn bà đợi ở bến xe.

Chúng tôi mong rằng, tác phẩm song ngữ này ngoài việc giúp các bạn người Việt cũng như nước ngoài nâng cao kỹ năng ngôn ngữ qua tác phẩm văn học Việt nguyên bản và các bản dịch tiếng Anh tin cậy, sẽ một lần nữa mang đến cho bạn đọc năm truyện ngắn của một nhà văn Việt Nam quen biết.

THANH MINH

Sau khi bố tôi mất thì tôi ngại về N. lắm. Bạn cũ của tôi ở đó vốn đã ít mà mỗi thằng lại tản mác một nơi. Còn bạn bè của bố tôi thì khỏi nói. Lúc bố tôi còn sống họ đăng ký đến thăm hỏi rịch ràng ngày đêm, giờ tưởng họ đã theo bố tôi về thế giới bên kia hết. Mẹ tôi sống cô đơn ở N. Một thời gian, ăn xong chỉ ngậm tăm chờ người quen đến tán chuyện gẫu cho vui mà không thấy. Tôi đón bà về Hà Nội. Trong toa tàu lỉnh kỉnh đồ đạc của nhà tôi, mẹ tôi ngán ngẩm nói: “Bố mày thật bạc phước!”. Khuôn mặt Phật của bà buồn thiu. Bà biết tôi đang cáu vì xin mãi không được một chuyến xe tải, ông nào cũng lịch sự nhưng đều từ chối, trong đó có cả một ông đã từng mang giúp bố tôi con voi sứ nặng một tạ từ Bangkok về. Sau lần chứng minh khả năng vận tải bẩm sinh này, ông ấy được cất nhắc lên giám đốc một công ty có hàng trăm đầu xe.

Sau ngày giỗ bố tôi, tôi lặn một mạch. Năm nay không hiểu sao mẹ tôi nhắc: “Thanh minh là anh phải về N. vài ngày. Xem mồ mả bố anh ra sao”. Tôi vốn ngại về N. liền thoái thác: “Mộ bố người ta đổ bê tông cốt thép, việc gì mẹ phải lo!”. Tôi xin giải thích: việc chôn cất, cải táng, cả tấm bia bằng đá hoa cương đều do “người ta”, tức là cơ quan nhà nước chu tất, mọi thứ đều tương xứng với cương vị của bố tôi. Trước khi nghỉ việc bố tôi đã đứng ra tổ chức đám tang cho người phó rất chu đáo làm ai cũng cảm động. Gia đình ông ấy không mất xu nào, còn dư ra mấy triệu đồng tiền phúng viếng, họ xây được một cái nhà to. Đám tang bố tôi đã sẵn có cái mẫu ấy để làm, sau khi quyết toán xong các khoản, mẹ con tôi lên được cái ti vi màu bảy hệ.

Tuy tôi nói thế nhưng mẹ tôi vẫn không yên tâm. Bà bứt rứt như có điều gì bí mật chưa tiện nói. Cuối cùng bà bảo tôi: “Kiểm này, anh có nhớ ông Hoàng không?”.

Tôi gật đầu: “Có mẹ ạ, cái lão mà bố vẫn gọi là Hoàng-bốc-xơ, chuyên gia đấm đá ấy phải không?”.

Mẹ tôi nói: “Đúng đấy, sau khi bố mày thay áo được hai tháng, ông ấy đưa đơn kiện khắp nơi. Ông ấy nói thời gian kháng chiến chống Pháp bố mày với ông ấy cùng bị tù, bố mày có trót khai báo gì đó”.

Tôi nói: “Thì bây giờ bố chết rồi, mẹ quan tâm làm gì!”.

Mẹ tôi chép miệng: “Khốn nỗi, ông ấy yêu cầu tổ chức tỉnh ủy đưa bố mày xuống khu B, bố mày không đủ tiêu chuẩn nằm khu A như hiện nay. Bác Bình vừa cho tao biết hôm nọ đấy”.

Tôi ôm đầu chạy ra ban công, thái dương tôi giật liên hồi, phía sau trán đau như búa bổ. Bầu trời tháng giêng ảm đạm trên cao, nhưng giờ đã ấm lên ít nhiều. Trời ơi, không biết đến bao giờ những chuyện này buông tha cuộc đời tôi. Cả một thời học sinh sống với bố mẹ tôi ở H. không đêm nào mà tai tôi không đầy ắp những chuyện đấu đá, tranh giành. Tôi không liên quan gì, nhưng cái tai non trẻ của tôi cứ phải nghe. Sự hiện diện của ông Hoàng-bốcxơ, vô hình nhưng thường trực, ám ảnh những giờ phút rỗi rãi của bố tôi, đầu độc cả đời tôi nữa. Lấy vợ, về Hà Nội ở, rồi bố tôi mất, tưởng đã thoát thân. Nào ngờ, đời chó thật!

Tôi quay vào nhà, mẹ tôi nói ngay: “Khốn nỗi ông Hoàng bây giờ lại có thế lực, ông ấy bẩy bố mày xuống khu B dễ như bỡn. Mẹ lo lắm”. Tôi đáp không suy nghĩ: “Được rồi, thanh minh này con về”. Nói xong, tôi biết là mình có đi thanh minh thì cũng chỉ để mẹ vừa lòng, thắp cho bố nén hương. Chứ nếu lão ấy quyết bẩy bố tôi xuống khu B thật thì tôi làm được cái gì nào. Thôi, ít ra thì cũng thăm người quen cũ và xa được cô vợ lắm điều vài ngày.

Quả thật, tôi chán vợ, chán nơi làm ăn và chuyện khu A khu B mồ mả này quá lắm rồi.

*

ĐỌC THỬ

Những người chết của thành phố N. chắc chắn là đông hơn người sống, nằm trên một dãy đồi bên kia sông. Mấy ngày thanh minh, phà đông nghịt. Trên phà, xe đạp, xe máy Nhật dắt bánh vào nhau. Những người ăn mày tàn tật lê lết dưới chân người đứng như nêm cối, kêu gọi tình thương, nhắc người ta đừng quá chăm chút đến mồ mả người chết mà quên người sống.

Một cái gì như móng chân con mèo cào cào vào chân tôi. Tấm lưng cánh phản của một ông béo áp vào ngực làm tôi không cựa quậy nổi. Mãi rồi tôi cũng đẩy được ông ta tiến lên phía trước bằng cả hai cánh tay cường tráng của tôi rồi cúi xuống. Tôi nhìn thấy một em bé cụt chân ngồi bệt xuống sàn phà như chiếc bao tải nát, giương đôi mắt không hồn nhìn tôi:

– Lạy chú, chú cho cháu mấy hào làm phúc…

Dạo này tiền mất giá từng ngày nên dân chúng thường ăn bớt một hai con số không cho dễ tính toán. Tôi cố nghĩ xem em bé định xin tôi bao nhiêu? Mấy trăm, mấy ngàn hay chỉ mấy chục? Tôi móc túi lấy hai trăm tiền lẻ đưa cho nó. Bỗng ông béo đã quay lại từ lúc nào chộp lấy tay tôi:

– Khoan, đồng chí, đây là vấn đề xã hội to lớn, ta phải có cái nhìn vĩ mô để giải quyết. Đồng chí đừng cho như vậy, đó là kiểu bố thí tư sản, chúng nó quen đi, không chịu làm ăn gì nữa. Cho như thế là làm hư chúng nó.

Tôi thấy lạnh sống lưng. Tôi nhận ra ông Hoàng. Nhưng ông không nhận ra tôi, con trai kẻ thù chính trị của ông. Tôi sững người vì phát hiện đó, không hồn vía nào chú ý đến bài học từ thiện có tính vĩ mô của ông nữa, lách xe đạp để rời ông ra, sợ ông nhớ lại mà nhận ra tôi chăng? Tôi quả là không muốn dây vào con người này. Chỉ định bụng từ trước là đến thắp nén hương trên mộ bố rồi về Hà nội ngay vì đang vướng một vụ làm ăn. Mấy thằng chúng tôi đang tính một mánh bịp thằng X., giám đốc một công ty dịch vụ. Nó mới học hết lớp 5, lại hám gái. Chúng tôi tính lấy của nó hai chục triệu “trong vòng pháp luật” rồi sau đó nó tính toán vào đâu hay vào tù thì kệ nó. Say sưa vì lần đầu tiên sử dụng mảnh bằng kỹ sư kinh tế, năm thằng kỹ sư xúm lại thịt một thằng lớp 5 là ăn chắc, tôi sẽ mặc lão Hoàng-bốc-xơ, cứ để ông ta giành nhau với lũ sâu đất cái xác của bố tôi. Còn linh hồn bố tôi thì không biết đang ở đâu.

Tôi len lỏi một lúc thì đến được đầu mũi phà.

Trước mặt tôi là một mái tóc.

Vâng, độc giả có thể bắt bẻ là tại sao tôi phân biệt được một mái tóc trên chuyến phà thanh minh chật chội này. Nhưng quý độc giả đã từng yêu chưa? Nếu đã từng rồi thì điều đó không có gì lạ. Bởi vì, có một ngày chủ nhật, trong một góc rừng thông kín đáo ở bờ biển, cô gái này đã gối đầu lên đùi tôi còn tôi thì say mê làm chuyện điên rồ là đếm từng sợi tóc của mái tóc ấy. Lúc đầu tôi tưởng sẽ làm xong công việc ấy trong một giờ. Nhưng Bụt không hiện ra nên suốt ngày chủ nhật hôm đó tôi chỉ đếm được có một nhúm tóc, cột lại chỉ nhỉnh hơn cái bút bi.

Mối tình của tôi tan vỡ vì bố tôi phá. Mà bố tôi đã phá cái gì thì nhất định phải thành công. Chỉ trong bốn năm ở tỉnh N. ông đã cơ bản phá xong rừng, đình chùa và di tích lịch sử. Tất nhiên không phải tay ông cầm búa và rìu, nhưng ông là chỉ huy trưởng của các chiến dịch “Thay trời làm mưa” rồi “Bắt rừng làm ra sắn gạo” rồi “Chống mê tín dị đoan” và dồn tượng Phật, hạc thờ, rùa đá thành một mớ để tiết kiệm nhà cửa. Tôi đoán linh hồn ông đang ở địa ngục là vì thế. Vậy là vì bố tôi phá mà tôi đã vĩnh viễn không thực hiện được giấc mơ chung sống với nàng. Cũng như tôi đã không bao giờ biết được tóc nàng có bao nhiêu sợi.

Từ phía sau, tôi chăm chú nhìn mái tóc quá quen thân, nghe nàng nói chuyện với người bạn cùng đi, tự an ủi có lẽ mình không đến nỗi thất đức nên mới có cuộc gặp gỡ “ngậm ngùi tình xưa” giữa ngày thanh minh này.

Cô bạn gái cùng đi hỏi:

– Vậy là mẹ cậu vẫn chưa được kiện?

– Mẹ tao chạy ba năm trời nay, nhưng đâu vẫn hoàn đấy – Nàng đáp giọng buồn.

– Tao tính thôi quách cho xong.

– Tao cũng nghĩ thế. Nhưng mẹ tao không chịu. Nhục lắm mày ơi!

Cũng may là chuyến phà đã cập bờ bên kia. Chiếc xe đen bóng chúi mũi lên trước. Tôi thấy ông Hoàng hối hả len qua đám người, làm ngã một thằng bé, rồi chui vào xe. Một làn khói nhẹ như khói thuốc lá đẩy ông và chiếc xe đi như bay. Chắc là ông cũng đi thanh minh.

Lên phà, cô bạn cùng đi với nàng bước lên trước. Một người đàn ông cao tuổi chừng đang hoạt động bí mật, tẽn tò chờ cô ta. Chắc là họ hẹn nhau đi thanh minh, thăm mộ người vợ cũ của ông ta hay người chồng đã quá cố của cô ta. Ấy là tôi đánh bạo đoán thế. Đàn ông tóc bạc đang có giá, rổ rá cạp lại còn dùng bền hơn cả đồ ni lông.

Vậy là chỉ còn nàng bơ vơ trên phà. Trong rổ xe nàng có một bó hương chùa to và một gói hoa. Nụ thiên lý thòi ra ngoài lá chuối như mắt cua bể. Tôi đạp dấn lên cho kịp nàng. Nàng đi thăm mộ ai? Chắc là bố nàng. Vậy là bác Thiết chết rồi mà cả nhà tôi không ai hay.

Bác Thiết nguyên là lái xe cho bố tôi. Trước giải phóng 1955, bác lái xe ở tòa thị chính. Ông điềm đạm, nói được tiếng Pháp, ăn mặc lịch sự và thông thạo đường ngõ thành phố. Nhìn ông ngồi trước tay lái ai cũng nghĩ rằng ông đã sinh ra cùng chiếc xe, hợp đến nỗi như ông là bộ phận nào đó của chiếc xe vậy. Bố tôi nhận ông làm lái xe cho mình. Tổ chức phản đối. Không thể tin con người đã từng lái xe cho địch mà lại còn biết tiếng Pháp. Giá như xe chở đá đổ kè bờ sông thì một nhẽ, đằng này… Họ bảo bố tôi: “Đây là vấn đề bảo vệ sinh mệnh cách mạng. Phải cảnh giác!”. Bố tôi nói: “Tôi thì lo cho sinh mệnh của tôi trước đã”. Thấy vấn đề không lớn mà bố tôi lại kiên quyết nên sau khi điều tra kỹ, người ta đồng ý cho bố tôi sử dụng bác Thiết. Hồi đó bố tôi chưa phải là “cốp” to nên việc này cũng đã cho qua. Ai cũng biết bố tôi là người hay sợ: sợ vi trùng, sợ sấm sét và tai nạn. Nghĩa là sợ chết. Cho nên nếu ông Hoàng bảo ông có khai báo gì đó trong tù thì có lẽ cũng không oan.

Bác Thiết có cô con gái đầu lòng tên là Hương. Hương thua tôi ba tuổi. Vì tính nghiêm khắc bắc bậc của bố tôi nên Hương ít khi đến nhà chúng tôi. Tôi thường ngồi lên xe đạp bác Thiết để về nhà Hương chơi. Bác coi tôi như con trai mình. Vì đã qua tuổi chơi đồ hàng nên tôi thường đến nhà Hương đọc sách. Bác Thiết mua nhiều sách lắm. Từ lớp hai, lớp ba, Hương đã đọc hết sách trong nhà. Tôi rất lấy làm lạ vì bố không mua cuốn sách nào. Ông cũng không hề đọc một cuốn sách nào. Ông nói những cuốn sách cần đọc thì ông đã đọc ở trường Đảng cả rồi, in rô-nê-ô không mất tiền mua. Ông còn nói có người không đọc sách bao giờ mà vẫn cai trị được non một tỷ người. Vân vân. Ít khi tin lời bố nên tôi vẫn đọc sách đều đều ở nhà bác Thiết. Đầu tiên tôi đọc để có chuyện nói với Hương. Có lần Hương bảo tôi: “Anh có biết không, Giăngvan- Giăng nằm trên giường của giám mục mà không ngủ được là vì nệm êm quá. Hay thật!”. Tôi không biết Giăng-van-Giăng là ai. Sau đó tôi mượn Hương cả 4 tập Những người khốn khổ rồi ngốn một mạch. Té ra trên đời, ngoài những thứ hệ trọng mà bố tôi vẫn say mê còn nhiều điều lý thú như sách chẳng hạn. Đó là phát kiến của tôi ở tuổi hai mươi.

Cuối năm học lớp 10, tôi tỏ tình với Hương. Lúc đó Hương mới mười bốn tuổi. Chủ nhật, chúng tôi ra biển chơi và tôi ngồi đếm tóc Hương trong niềm khát vọng của khám phá, sáng tạo. Giá như tôi có thể cam đoan mái tóc nàng có bao nhiêu sợi. Chỉ có thế thôi. Tôi chưa dám hôn Hương, chỉ chạm nhẹ vào người Hương tôi đã run bắn lên như giẽ.

Nhưng tình yêu của chúng tôi không được suôn sẻ. Chúng tôi còn bé tý. Vả lại, hoàn cảnh mỗi đứa một khác nhau. Chủ nhật tôi muốn rủ Hương đi chơi thì cô ấy còn phải xếp hàng đong gạo. Có lần tôi bỏ tiền ra mua lại một hòn gạch xếp lốt đầu giây cho Hương. Hương không chịu, nói: “Anh mua một mạng người rẻ quá, tội chết!”. Hương vẫn bướng bỉnh và cụ non như vậy. Tôi buồn, cảm thấy Hương cao cả, xa vời như bầu trời khó với.

Một lần khác, Hương đón tôi dọc đường, nói: “Anh Kiểm, anh nhờ bác mua hộ em hai tập Đỏ và Đen”.

Tôi ngạc nhiên: “Sao lại nhờ bố anh? Cụ có đọc sách bao giờ đâu!”.

Hương cho biết: “Người ta thông báo chỉ bán cuốn này cho cán sự 5 trở lên thôi. Bác thì thừa tiêu chuẩn mua”.

Trong nhà chỉ có bố tôi đủ tiêu chuẩn mua sách. Tôi nhờ. Bố tôi gạt phắt: “Vẽ! Mày có phải cán sự 5 đâu mà đòi. Tao không mua!”. Tôi đành chịu. Không mua được sách cho Hương tôi thấy mình không đáng một đồng xu. Hai tuần liền tôi không dám gặp Hương. Tôi biết Hương cũng buồn lắm. Buồn vì không biết đến bao giờ được đọc cuốn sách cấm đối với dân thường và những người trình độ chính trị non kém. Bao giờ Hương mới là cán sự 5, có lẽ phải kiếp sau! Bức tường vô hình ngăn cách ấy làm chúng tôi xa nhau dần.Giá như Hương bớt kiêu hãnh đi thì còn dễ. Đằng này…

Một lần khác, bố tôi nhận được giấy mời đi xem phim Chiến tranh và Hòa bình. Giấy ghi hai chỗ ngồi. Chắc là cho mẹ tôi. Nhưng mẹ tôi không đi. Bà không bao giờ xuất hiện giữa đám đông bên cạnh bố tôi. Bà chưa một lần ngồi vào chiếc xe con vẫn đón bố tôi đi về. Ông thư ký Ủy ban đưa cho bố tôi tấm giấy mời của vợ chồng ông ấy nữa. Tôi nhận thấy hễ có dịp là ông này nhường ngay các thứ cho bố tôi mặc dù bố tôi chẳng thiếu thứ gì. Bố tôi bảo bác Thiết: “Tối nay anh cho cái Hương cùng đi, đến đây đón tôi một thể”.

Chúng tôi đi xe đến rạp. Hương ngồi cạnh tôi trên ghế sau trong bộ quần áo đẹp nhất, mặt mở hội như cô Lọ Lem ngồi xe hoa về cùng với Hoàng Tử. Chúng tôi đã cùng nhau đọc cuốn tiểu thuyết này rồi. Bây giờ được đi xem phim thì sung sướng nào hơn. Nhưng khi đến rạp, tôi sững người khi đọc thấy tấm biển viết bằng phấn: Phim dành cho cán sự 4 trở lên. Vé bán về cơ quan”.

Bố tôi nói: “Thế là hỏng rồi!”.

Tôi nói: “Đây là giấy mời, mình cứ vào bố ạ”. Bố nói: “Giấy mời cũng phải giữ nguyên tắc. Bố với con ở lại, để hai cha con bác Thiết về”.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *