Trang chủ / Kinh doanh - đầu tư / Làm Giàu Trong Nền Kinh Tế Tri Thức

Làm Giàu Trong Nền Kinh Tế Tri Thức

1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK 

Tác giả : Lester C. Thurow

Download sách Làm Giàu Trong Nền Kinh Tế Tri Thức ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : KINH TẾ

2. DOWNLOAD

Định dạng ebook                  

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ? Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Lời giới thiệu

mặt trái của tờ giấy bạc một đô la có hình một kim tự tháp chưa hoàn tất, trên đỉnh có một con mắt sáng long lanh, lấy từ mặt trái đã bị quên lãng của đại huy hiệu Hiệp Chủng Quốc và do Tổng thống Roosevelt cho đặt lên tờ đô la vào năm 1935, giữa cuộc đại khủng hoảng khi mà sự giàu có của Hoa Kỳ đang giảm mạnh. Kim tự tháp được sử dụng làm biểu tượng cho sức mạnh và sự trường tồn kinh tế và chính đặc điểm chưa hoàn tất cũng nhằm biểu hiện cho sự giàu có ở Hoa Kỳ ngày càng tăng. Người Mỹ cần đặt hy vọng vào một nền kinh tế đang sụp đổ sẽ được thay thế bằng một nền kinh tế sẽ tồn tại mãi mãi, những ngày tốt đẹp nhất đối với Hoa Kỳ đang ở phía trước, không phải ở sau lưng. Một câu ghi bằng tiếng La tinh (Annuit Coeptis) cho dân Hoa Kỳ biết rằng Thượng đế ủng hộ công việc của họ. Một câu thứ hai (Novos Ordo Seclorum) tiên đoán một trật tự giàu có mới của Hoa Kỳ. Như vậy, trong những ngày đen tối nhất về mặt kinh tế, người Mỹ vừa mượn biểu tượng thành công bền vững của nhân loại, vừa cầu nguyện Thượng đế hỗ trợ. Đằng sau con mắt long lanh, một biểu tượng của sự hướng dẫn thiêng liêng, là chóp chưa hoàn tất của kim tự tháp cần phải xây dựng. Người Mỹ có thể nhìn thấy cần phải làm gì để gặt hái thành công. Họ cần phải khẳng định mình là những người kiến tạo.

Ngày nay, người châu Á nhìn thấy thế giới cũng giống như người Mỹ thấy vào những năm 1930. Sự phát triển kinh tế nhanh đã bị phá vỡ. Sự giàu có của cá nhân, của doanh nghiệp và của xã hội nhanh chóng biến mất. Thị trường chứng khoán của Indonesia giảm trên 80%. Điều mà mới đó tưởng chừng như một sức mạnh kinh tế không gì ngăn chặn nổi và sẽ khống chế thế kỷ 21 lại giống như một sự đổ vỡ vĩnh viễn. Sự phát triển kinh tế có vẻ vững như đá bây giờ lại như băng tuyết đang tan chảy.

Mô hình tăng trưởng kinh tế châu Á bằng con đường xuất khẩu đã đem hy vọng lại cho hầu hết thế giới thứ ba là sẽ thu ngắn cách biệt kinh tế với các nước đã phát triển, nay đang tả tơi. Những nước thành công đã sụp đổ. Sự tan rã tài chính châu Á đe dọa nền tảng thành công tại các nước trong thế giới thứ ba như Brasil. Vốn và công nghệ từ các nước thuộc thế giới thứ nhất đổ vào nay lại ra đi và các nhà dự báo đánh giá thấp viễn cảnh kinh tế trong tương lai. Con đường cũ đã bế tắc, đâu là con đường đúng để tích tụ giàu có?

Lục địa châu Âu nhìn thế giới trong đó mô hình ưa chuộng – nền kinh tế thị trường xã hội – nơi mà phúc lợi được trả cao và nhà nước can thiệp mạnh để phân phối rộng rãi sự giàu có không còn thích hợp. Trong khi có những biến động lên xuống mang tính chu kỳ nhưng xu hướng lâu dài về thất nghiệp ở châu Âu không ngừng tăng lên. Tỷ lệ thất nghiệp 2 chỉ số chưa bao giờ thấy từ những năm 1930 nay được xem như tình trạng thường xuyên. Một châu lục nghĩ rằng có thể đảm bảo việc làm cho công dân của mình nay mới thấy là không thể làm điều đó. Các nhà chính trị đều hứa là sẽ làm điều gì đó nhưng mọi người biết là sẽ chẳng làm gì.

Trong nền kinh tế tri thức nhân tạo mới của thế kỷ 21, toàn châu Âu gần như không có lãnh đạo công nghiệp thành công. Công ty sản xuất máy tính địa phương cuối cùng đã bán cho Đài Loan năm 1998. Châu Âu nói đến việc đuổi theo nhưng biết rằng khoảng cách công nghệ giữa họ và Hoa Kỳ ngày càng tăng. Châu lục đã từng sản sinh ra văn hóa nay phải nhập từ Hoa Kỳ. Biểu tượng tương tự như “Intel Inside” có thể được in trên hầu hết những gì mới tại châu Âu. Việc tái cấu trúc, thu gọn và đưa sản xuất ra ngoại biên được xem là mô hình kinh tế tư bản kiểu Hoa Kỳ cần phải tránh xa lại đến.

Tại châu Âu, châu Á và phần còn lại của thế giới thứ ba, nỗi băn khoăn kinh tế lên cao. Tất cả đều mong muốn sức mạnh và sự bền vững của kim tự tháp thể hiện trên tờ một đôla của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ không nằm trong những nước có mối lo lắng cao độ này. Hoa Kỳ đã phục hồi! Trong những năm 1990, Hoa Kỳ thành công nhất trong thế giới các nước công nghiệp. Khoảng cách kinh tế giữa Hoa Kỳ và các nước còn lại của thế giới lại gia tăng. Mức gia tăng 2.000 tỷ đô la tổng sản phẩm nội địa trong thập kỷ 1990 của Hoa Kỳ cao hơn tổng sản phẩm nội địa của tất cả các nước trừ Nhật Bản. Thay vì chựng lại hay sụt giảm trước tình hình khủng hoảng ở châu Á, thành tích kinh tế của Hoa Kỳ trong năm 1998 lại đạt tỷ lệ tăng trưởng 4,3%. Thất nghiệp ở mức thấp nhất trong lịch sử và không có lạm phát.

Người giàu nhất hành tinh một lần nữa lại là người Mỹ. Sự giàu có của các vua dầu lửa (Trung Đông) đã bị lu mờ. Số tỷ phú người Mỹ đã có hàng trăm.

Các doanh nghiệp Mỹ đã chiếm lại vị trí hàng đầu. Trong năm 1990, chỉ có hai doanh nghiệp Mỹ trong số 10 doanh nghiệp lớn nhất thế giới, con số này là 9 vào năm 1998. Tương tự, vào đầu thập kỷ 1990, không có một ngân hàng Mỹ nào trong số 15 ngân hàng lớn nhất, nhưng vào cuối năm 1998 đã có 9 ngân hàng Mỹ lọt vào danh sách. Ưu thế bên dưới đỉnh cao cũng rất lớn. Hai mươi trong số 25 doanh nghiệp to nhất hiện nay là của Mỹ. Nếu không có xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ đang tăng trưởng, một sự suy thoái toàn cầu có thể xảy ra trong năm 1999. Sức mạnh kinh tế của Hoa Kỳ đã được phục hồi và tái thống nhất với quyền bá chủ quân sự của họ.

Đây là thời kỳ vàng son của Hoa Kỳ.

Nhưng ngay bên trong Hoa Kỳ cũng có những ưu tư. Một nền kinh tế đang tăng trưởng nhưng cũng có những dấu hiệu đi xuống mạnh mẽ đối với nhiều người. Rất nhiều người Mỹ tin rằng con cháu của họ sẽ có mức sống thấp hơn họ – cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi mà 2/3 lực lượng lao động có mức lương thực tế thấp hơn mức lương vào năm 1973. Những gì mà họ tin rằng sẽ xảy đến cho con cháu họ cũng đang đến với họ.

Thành phần trung lưu đang giảm sụt. Một ít giàu lên nhưng phần lớn đi xuống. Cũng không đáng ngạc nhiên khi nhìn thấy những gì đang xảy ra đối với lương của thành phần thợ trung cấp nhưng cũng rất đáng ngại. Các trang thông tin tài chính hàng ngày đều cho thấy thị trường chứng khoán tăng mạnh nhưng thu nhập bình quân của các hộ gia đình lại giảm thay vì tăng lên và tài sản tài chính của họ dưới mức 10.000 đô la. Số 20% người nghèo nhất có số nợ cao hơn tài sản của họ.

Trong khi kinh tế đang tăng trưởng mạnh, hàng năm có đến 500.000 đến 700.000 công nhân bị các công ty đang làm ăn có lãi cho nghỉ việc – trong năm 1998 có đến 680.000 công nhân. Những công nhân bị cho nghỉ việc trên 55 tuổi sẽ khó tìm được việc làm tốt. Những công nhân dưới 55 tuổi phải chấp nhận mức lương thấp hơn để được thu dụng lại. Dự kiến cho một nghề đem lại cuộc sống thoải mái suốt đời đã trở thành một bí ẩn lớn – ngay cả đối với sinh viên tốt nghiệp đại học. Làm thế nào để có sự thành đạt bền vững? Tìm đâu ra sự an toàn về mặt kinh tế? Chúng ta rất thích thú nhìn những nghệ sĩ biểu diễn đi dây trên cao nhưng thật sự không thích thú chút nào nếu mình là người đi trên sợi dây đó. Cũng như trong thời kỳ Đại khủng hoảng, tốt hơn chúng ta nên ở vị trí đỉnh cao của kim tự tháp biểu hiện sự giàu có và sẽ mãi mãi bền vững.

Đáng lo ngại nhất là năng suất giảm gấp ba lần kể từ những năm 1960. Vì sau cùng, chính sự gia tăng năng suất (khả năng tạo nhiều sản phẩm hơn trong khi sử dụng ít nguyên liệu hơn) sẽ thúc đẩy việc tạo giàu có thật sự. Những biến động tạm thời trên thị trường chứng khoán có thể đem lại giàu có theo thị trường trong ngắn hạn nhưng nếu không có sự gia tăng mạnh về năng suất sẽ không tìm được của cải của sự giàu có về lâu về dài.

Con mắt long lanh trên đỉnh của kim tự tháp trên tờ 1 đôla làm người ta không quan tâm đến phần đáy của nó. Cũng thế, sự sáng chói của mức độ giàu có nằm ở nấc cao nhất trên thang phân bổ giàu có – những tỷ phú mới – làm lu mờ phần đáy của kim tự tháp, là nền tảng của chính sự giàu có. Nhưng cho dù được nằm ở đỉnh là cả một sự hấp dẫn, kim tự tháp thật được xây dựng từ đáy lên chứ không phải từ đỉnh xuống.

Vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, sáu công nghệ mới – vi điện tử, máy tính điện tử, viễn thông, nguyên liệu nhân tạo mới, rô bốt và công nghệ sinh học – đang tác động qua lại tạo ra một thế giới kinh tế mới và rất khác biệt. Những tiến bộ trong khoa học cơ bản làm nền tảng cho 6 lãnh vực này đã tạo ra những công nghệ đột phá làm nẩy sinh hàng loạt công nghiệp vừa to lớn, vừa mới mẻ: máy tính điện tử, mạch bán dẫn, tia la de… Những công nghệ này tạo cơ hội để cải tiến nhiều ngành công nghiệp cũ: Mua bán qua mạng thay thế mua bán thông thường; điện thoại di động rải khắp nơi. Nhiều sự việc mới có thể thực hiện được: cây và con biến đổi gien xuất hiện; một nền kinh tế toàn cầu hóa lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại trở thành hiện thực. Nói một cách tượng hình, đây là thời kỳ công nghiệp nhân tạo từ tri thức.

Nền tảng cũ của sự thành công đã biến mất. Đối với hầu hết lịch sử nhân loại, nguồn gốc của sự thành công là sự kiểm soát tài nguyên thiên nhiên – đất đai, vàng bạc và dầu mỏ. Bất chợt lời giải là “tri thức”. Người giàu nhất thế giới, Bill Gates, không sở hữu bất kỳ vật hữu hình nào – không đất đai, không vàng bạc, không dầu mỏ, không nhà máy, không qui trình công nghệ, không quân đội. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại người giàu nhất chỉ sở hữu tri thức.

Tri thức là cơ sở mới của sự giàu có. Điều này chưa bao giờ là một sự thật. Trước đây, khi các nhà tư bản nói về sự giàu có của mình, họ nói về quyền sở hữu nhà máy, máy móc thiết bị và tài nguyên thiên nhiên. Trong tương lai, khi các nhà tư bản nói về sự giàu có, họ sẽ nói về sự kiểm soát tri thức. Ngay cả ngôn ngữ để thể hiện sự giàu có cũng thay đổi. Người ta có thể nói về sở hữu thiết bị hay tài nguyên thiên nhiên. Khái niệm về “sở hữu” ở đây rất rõ ràng. Nhưng người ta không thể nói sở hữu tri thức. Sở hữu tri thức là một khái niệm rất lỏng lẻo. Người có tri thức không thể trở thành nô lệ. Chính xác là làm sao để sở hữu tri thức mới thực sự là vấn đề cốt lõi trong nền kinh tế tri thức.

Sự biến đổi hiện nay thường được mô tả một cách sai lầm là cuộc cách mạng thông tin hay là một xã hội thông tin. Nó còn vượt xa hơn thế nữa. Thông tin nhanh hơn hay rẻ hơn tự nó chẳng có giá trị gì. Thông tin chẳng qua là một trong những yếu tố đầu vào mới sử dụng để xây dựng một nền kinh tế khác biệt trong đó có nhiều sản phẩm và dịch vụ rất khác biệt. Thông tin nhiều hơn cũng chẳng có gì quan trọng hơn những loại nguyên liệu mới, những thực thể sinh học mới, hay những loại rô bốt mới trong việc xây dựng nền kinh tế tri thức mới này. Xã hội cần phải tổ chức lại thế nào để tạo môi trường thúc đẩy làm giàu dựa trên tri thức? Điều gì cần thiết để làm cho các nhà doanh nghiệp thay đổi và làm cho sự giàu có nẩy nở? Làm thế nào để cho sự giàu có dựa trên tri thức phát sinh? Đòi hỏi kỹ năng gì? Tài nguyên thiên nhiên và môi trường tham gia vào nền kinh tế tri thức mới này thế nào? Vai trò của việc chế tạo công cụ trong nền kinh tế tư bản tri thức là gì khi mà các công cụ vật chất không còn chiếm vị trí trung tâm của hệ thống? Qui trình nào để sự giàu có có thể mua bán được của tư nhân xuất hiện? Cơ bản là làm thế nào sử dụng “tri thức” để xây dựng một kim tự tháp giàu có mới cho cá nhân, cho công ty và cho xã hội? Đây là những câu hỏi cần phải trả lời nếu muốn thành công trong nền kinh tế tri thức.

Điều quan trọng về bất kỳ kim tự tháp nào không phải được khám phá bằng cách trèo lên đỉnh mà chính là các đường hầm dẫn đến các kho tàng ẩn giấu bên trong. Làm thế nào để lợi dụng các công nghệ mới để cải tiến sản xuất các sản phẩm cũ và tạo ra các sản phẩm cải tiến mới? Kỹ thuật xây dựng mới là gì để đưa các tảng đá to hơn (năng suất cao hơn) vào vị trí? Làm thế nào chúng ta có thể sử dụng các công nghệ mới này để xây dựng các kim tự tháp giàu có to hơn và cao hơn trong tương lai? Xây dựng một kim tự tháp giàu có bền vững đòi hỏi trước hết chúng ta phải tìm hiểu khung cảnh kinh tế mới đang hình thành. Nằm đâu đó trong khung cảnh này sẽ là một kim tự tháp biểu hiện sự giàu có mới. Một khi đã khám phá ra nó, các tính chất khảo cổ của nó cần phải được thông hiểu tường tận. Nó đã được xây dựng thế nào? Đâu là các lối vào? Thiếu các thông tin này, các nhà săn tìm kho tàng không thể tìm thấy của cải kinh tế chôn vùi bên trong.

Chỉ sau khi là những nhà khám phá, nhà khảo cổ và những người săn lùng kho tàng, con người mới có thể trở về với công việc thực của mình – học cách xây dựng cho bản thân, cho công ty và cho xã hội của chúng ta một kim tự tháp biểu tượng cho sự giàu có vĩ đại, mới và bền vững.

ĐỌC THỬ

Phần một KHẢO SÁT MỘT NỀN KINH TẾ TRI THỨC

1KHUNG CẢNH KINH TẾ

Hai trăm năm trước, vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, cuộc cách mạng công nghiệp đã chấm dứt 8.000 năm làm giàu bằng nông nghiệp. Hoạt động nông nghiệp là hoạt động kinh tế duy nhất đối với 98% dân số trong thế kỷ 18 và cũng là nguồn thu nhập duy nhất đối với chỉ có 2% dân số Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 20. Bằng cách cung ứng nguồn năng lượng lớn hơn nhiều so với khả năng của gia súc hay con người có thể tạo ra, động cơ hơi nước đã mở ra cơ hội làm được nhiều việc mà trước đây không thể làm. Leonardo da Vinci có thể tưởng tượng ra nhiều loại công cụ rất tài tình nhưng tất cả đều nằm trên giấy, không chế tạo được vì ông không thể nghĩ ra một loại động cơ để làm cho chúng hoạt động. Với sự ra đời của động cơ hơi nước, hầu hết những gì ông có thể tưởng tượng đã nhanh chóng trở thành hiện thực.

Một trăm năm sau, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, điện khí hóa và sự ra đời của việc nghiên cứu và phát triển công nghiệp một cách có hệ thống đã tạo ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 theo các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế. Đêm gần như biến thành ngày. Nhiều ngành công nghiệp mới xuất hiện – điện thoại, phim ảnh, nhôm – và các ngành công nghiệp cũ đã biến đổi (tàu hỏa chạy bằng hơi nước được đưa xuống hầm để trở thành tàu ngầm dưới mặt đất). Không chờ đợi cơ may, ranh giới công nghệ được mở rộng nhanh chóng hơn so với trước đây. Kinh tế địa phương chết đi và kinh tế quốc gia xuất hiện.

Người Mỹ và cả thế giới cần đến 50 năm đầu của thế kỷ 20 để học cách vận hành của các tổ chức kinh tế quốc gia này. Luật chống độc quyền đã được ban hành để kiểm soát xu hướng độc quyền của các công ty quốc gia mới này. Các công ty đã nhanh chóng học được là sẽ kiếm tiền nhiều hơn bằng cách kết hợp tạo độc quyền và hạn chế sản lượng thay vì tăng sản lượng. Standard Oil đã bị phân chia năm 1911. Lần đầu tiên, có nhu cầu một đồng tiền quốc gia. Hội đồng Dự trữ Liên bang được thành lập năm 1913. Một ngân hàng trung ương đã không cần thiết trong suốt 3 thế kỷ đầu của kinh nghiệm Hoa Kỳ.

Cần có kinh nghiệm đau thương của cuộc Đại khủng hoảng để dạy cho người Mỹ biết rằng thị trường tài chính không kiểm soát có thể sụp đổ và kéo theo cả nền kinh tế. Để đối phó, chính phủ đưa ra các qui định để loại bỏ các yếu điểm (mua bán nội gián, sổ sách kế toán không rõ ràng) đã phát hiện trong cơ cấu tài chính. Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch ra đời. Cuộc Đại khủng hoảng cũng chứng minh không thể để các ngân hàng mất khả năng thanh toán đối với những người gửi tiền nếu muốn đảm bảo sự phồn thịnh. Bảo hiểm tiền gửi đã được tạo ra.

Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 cho Hoa Kỳ thấy rằng các đột phá công nghệ to lớn có thể thực hiện được (ra đa, bom nguyên tử) nếu chính phủ tài trợ những tiến bộ cơ bản trong khoa học. Nghiên cứu và phát triển khoa học có thể tạo hiệu quả cao hơn. Sản phẩm mới có thể đưa ra khỏi nhà máy nhanh hơn người Mỹ có thể tưởng tượng.

Sau Chiến tranh Thế giới lần 2, người Mỹ cho rằng chủ nghĩa tư bản sẽ bộc phát tại châu Âu và Nhật Bản. Điều này đã không xảy ra. Ba năm sau chiến tranh chấm dứt, người Mỹ đã bừng tỉnh vào năm 1948 nhận thấy rằng châu Âu và Nhật Bản chưa có dấu hiệu phục hồi. Một nguy hiểm thực sự là cả châu Âu và Nhật Bản có thể từ bỏ chủ nghĩa tư bản để theo chủ nghĩa cộng sản. Một kế hoạch viện trợ ồ ạt, Kế hoạch Marshall, đã mở đường cho chủ nghĩa tư bản trở lại. Người Mỹ không còn con đường chọn lựa nào khác là phải theo dõi tình hình kinh tế lành mạnh của cả thế giới nếu họ cũng muốn lành mạnh.

Hiện nay một cuộc cách mạng công nghiệp thứ 3 đang diễn ra. Vi điện tử, máy tính điện tử, viễn thông, vật liệu thiết kế, công nghệ rô bốt, công nghệ sinh học đang làm thay đổi mọi mặt của cuộc sống – chúng ta làm gì và làm như thế nào. Công nghệ sinh học đang làm thay đổi ngay cả tính chất của đời sống. Không nhất thiết phải chấp nhận các bệnh di truyền. Nhiều loại cây, con với nhiều đặc tính khác nhau đang được tạo ra.

Cái gì đã đến trước, mạng Internet cho phép truyền đạt thông tin nhanh chóng hơn và rẻ hơn hay loại vật liệu mới như sợi cáp quang cho phép sự ra đời của mạng Internet? Điều thật sự thay đổi không phải là thông tin chúng ta có được về những gì chúng ta có thể muốn mua mà là cách chúng ta mua các thứ cần dùng cho cuộc sống hàng ngày – và những gì chúng ta mua. Các cửa hiệu vật chất sẽ biến mất và sẽ xuất hiện các cửa hiệu điện tử. Ở cả hai loại cửa hiệu này chúng ta mua áo quần may bằng lycra và kevlar thay vì bằng cô-tông.

Vi điện tử cho phép các tia lade tạo nguồn năng lượng cho các đường dây trục trong ngành viễn thông nhưng cũng chính các tia lade đó cho phép việc giải phẫu mắt và làm cho các loại kính chỉ là cái gì còn lại của thời quá khứ. Trong y tế, vi phẫu thuật là cả một cuộc cách mạng. Các loại rô bốt lớn cũng đang cải tiến sản xuất hầu hết các loại sản phẩm khác. Máy tính đặt trong một vi mạch đang làm thay đổi sự vận hành của động cơ và các bộ phận nhún trong ô tô. Tia lade trong máy hát quay đĩa CD nằm trong thùng xe đang làm thay đổi đặc tính và chất lượng âm nhạc mà chúng ta nghe.

Trong cuộc cách mạng lần thứ 3 này, công nghệ đang thay đổi nhanh chóng đến nỗi không ai có thể biết trước lợi nhuận sẽ phát sinh từ đâu. Ông Chủ tịch – Tổng Giám đốc của Công ty AT&T cũ đã quyết định tách các phòng thí nghiệm ra khỏi sản xuất để lập thêm một công ty mới mang tên Lucent. Trong tư thế Chủ tịch – Tổng giám đốc của Công ty AT&T cũ, ông ta có thể chọn giữ chức Chủ tịch -Tổng giám đốc của Công ty AT&T mới hay Công ty Lucent mới thành lập. Ông ta đã sai lầm. Ông chọn làm Chủ tịch – Tổng giám đốc Công ty AT&T mới. Lucent nhanh chóng tạo lợi nhuận cao hơn và tạo một thị trường tư bản hóa cao hơn Công ty AT&T mới đến 1/3. Ông Chủ tịch của Công ty AT&T cũ không thể quyết định vận mệnh ngay cả cho chính bản thân mình – dù ông ta không phải người kém thông minh. Sự nhầm lẫn và xáo trộn không biết đâu là thành công xảy ra mọi nơi trong nền kinh tế. Người ta thu lợi nhuận rất cao nhưng nguồn tạo lợi nhuận thay đổi rất nhanh chóng.

Ghi chú: Dưới sự lãnh đạo của ông Chủ tịch mới, giá trị cổ phiếu của Công ty AT&T mới tăng mạnh vào đầu năm 1999 và đột nhiên bắt kịp giá trị cổ phiếu của Lucent do (1) bán đi một ngành quan trọng, (2) mua lại một giá trị cao gấp 3 lần việc bán trước đó, (3) giảm biên chế 14%, (4) điều chỉnh phí sử dụng điện thoại di động, (5) thực hiện rộng rãi kế hoạch tự nguyện về hưu sớm (15.300 giám đốc ra đi), (6) thêm một động tác mua lại gấp 3 lần so với lần trước, (7) sáp nhập hoạt động quốc tế với Công ty British Telecom, (8) thiết lập chi phí tối thiểu hàng tháng cho các dịch vụ đường dài, và (9) mua lại hệ thống liên lạc toàn cầu của IBM trong khi đó tìm nguồn cung cấp máy tính cho AT&T từ IBM. Nhưng với tình hình biến động trong thị trường chứng khoán, ai biết trước được? Có thể nó lại giảm đột ngột nữa. Trong nền kinh tế tri thức, giá trị ổn định (lợi nhuận) rất khó tìm.

Cũng như kiến thức mới trước đây của Archimedes về đòn bẩy, các chủ tịch hiện đại có thể nói: “Cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ làm xê dịch được quả đất”. Nhưng không có một điểm cơ học ổn định nào cho Archimedes trước kia và những điểm kinh tế ổn định nào cho các chủ tịch hiện đại. Tất cả mọi người đều phải hành động trong điều kiện không có một điểm cố định nào để làm cơ sở cho kế hoạch của họ.

Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và thứ hai, công nhân đã từ bỏ nông nghiệp (khu vực có thu nhập thấp) để tham gia sản xuất công nghiệp và khai thác quặng mỏ (khu vực có thu nhập cao). Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, công nhân từ bỏ sản xuất và khai thác quặng mỏ (khu vực có thu nhập cao) và tham gia vào các ngành dịch vụ (khu vực thường có thu nhập thấp và có mức chênh lệch cao). Những cuộc cách mạng đem lại thu nhập cao hơn và phân phối đồng đều hơn đã được thay thế bằng cuộc cách mạng đem lại thu nhập bình quân thấp hơn và sự phân phối càng chênh lệch hơn. Cũng như các vị chủ tịch, công nhân hiện đại cũng cần có điểm cố định để làm cơ sở cho các kế hoạch tạo phồn vinh kinh tế cho họ. Nhưng điểm đó ở đâu?

Cũng như cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai đưa chúng ta từ kinh tế địa phương chuyển sang kinh tế quốc gia thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba đang đưa chúng ta từ các nền kinh tế quốc gia sang một nền kinh tế toàn cầu. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, doanh nghiệp có thể mua với giá thấp nhất ở bất cứ nơi nào trên trái đất và bán với giá cao nhất ở bất cứ nơi đâu. Công ty rất Mỹ của các công ty Hoa Kỳ, Coca Cola, hiện nay có 80% doanh số bán nằm ngoài Hoa Kỳ. Sản phẩm rất Mỹ trong các sản phẩm của Hoa Kỳ, ô tô, bao gồm nhiều bộ phận từ khắp nơi trên thế giới.

Lịch sử chuyển đổi từ kinh tế địa phương sang kinh tế quốc gia dạy chúng ta rằng trong những điều kiện tốt nhất, làm thế nào cho nền kinh tế toàn cầu mới này vận hành đòi hỏi một thời gian dài với nhiều ngạc nhiên và sai lầm trên đường đi. Nhưng sự chuyển dịch từ kinh tế quốc gia sang kinh tế toàn cầu sẽ hỗn loạn hơn nhiều so với sự chuyển dịch từ kinh tế địa phương sang kinh tế quốc gia. Khi thế giới chuyển từ kinh tế địa phương sang kinh tế quốc gia, chính quyền quốc gia đã hình thành và sẵn sàng để học cách điều hành qui trình này. Trái lại, không có chính quyền toàn cầu để học cách điều hành một nền kinh tế toàn cầu.

Các định chế quốc tế – Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Quốc tế – không nhằm để giải quyết nền kinh tế toàn cầu. Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhằm giải quyết các khó khăn tạm thời trong cán cân thanh toán giữa các nước công nghiệp giàu có. Ngân hàng Thế giới nhằm tài trợ cho các dự án hạ tầng cơ sở cơ bản tại các nước đang phát triển. Liên Hợp Quốc nhằm ngăn chặn các cuộc chiến tranh thế giới. Và Tổ chức Thương mại Quốc tế nhằm đảm bảo tự do mậu dịch giữa các nước. Tất cả đều là các tổ chức của các quốc gia hiện hữu. Không một tổ chức nào có thể bảo một chính quyền quốc gia nào đó phải hành động như thế nào. Thực tế hoàn toàn đảo ngược, các chính quyền quốc gia bảo các tổ chức này phải hành động thế nào.

Những gì đang có chỉ là bề mặt đường bệ nhưng không có thực chất bên trong. Hoa Kỳ đưa một vụ kiện ra trước Tổ chức Thương mại Quốc tế để buộc châu Âu phải mở cửa thị trường cho chuối từ các nước Trung Mỹ thay vì ưu đãi các thuộc địa của Pháp và Anh tại châu Phi và vùng Caribe. Tổ chức Thương mại Quốc tế cho rằng châu Âu vi phạm nhưng theo đúng với qui chế, Tổ chức này không đưa ra biện pháp giải quyết rõ ràng nào. Các nước châu Âu chẳng quan tâm đến kết quả. Người Mỹ đe dọa sẽ có những biện pháp trả đũa đối với các sản phẩm của châu Âu. Các nước châu Âu cũng đe dọa chống trả. Nhanh chóng, thế giới lại trở về thương lượng giữa các chính phủ quốc gia và một tổ chức quốc tế không thích hợp lui vào hậu trường.

Giải pháp hợp lý cho vấn đề điều hành này là các định chế quốc tế có thể ra lệnh trực tiếp mà không cần sự cho phép của các chính phủ quốc gia để hành động hay phải thông qua một chính phủ quốc gia nếu muốn hành động. Điều này sẽ không xảy ra. Không có gì làm Quốc hội Hoa Kỳ ghét hơn là từ siêu quốc gia. Quốc hội cũng chẳng màng thông qua việc Hoa Kỳ thanh toán nợ cho các định chế này như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Liên Hợp Quốc, đều bị hạn chế bởi quyền phủ quyết của Hoa Kỳ không cho làm điều gì mà Hoa Kỳ không đồng ý. Việc điều hành thực tế nền kinh tế toàn cầu có nghĩa là thỉnh thoảng tổ chức điều hành ít nhất cũng buộc được chính phủ Hoa Kỳ và người Mỹ làm những điều mà họ không muốn làm, chứ không phải chỉ ra lệnh cho Mexico hay Malaysia.

Tóm lại, không ai sẽ thiết lập một chính phủ toàn cầu trong một tương lai gần – cho dù có nhu cầu hay không. Kết quả là thế giới sẽ có một nền kinh tế toàn cầu nhưng không có một chính phủ toàn cầu. Điều này có nghĩa là nền kinh tế toàn cầu không có các qui luật và điều lệ đã thỏa thuận và có thể buộc áp dụng, không có ai để buộc chấp hành các qui tắc về phong cách có thể chấp nhận, cũng không có thẩm phán và bồi thẩm đoàn để kháng cáo nếu ai đó nhận thấy rằng công lý chưa được thực thi.

Lục địa châu Âu xem những gì đang xảy ra là “tư bản chủ nghĩa theo kiểu cao bồi”. Nền kinh tế toàn cầu cũng tương tự như thời Viễn Tây cũ, nơi mà các tranh chấp kinh tế (trộm súc vật) được giải quyết bằng cách đấu súng theo kiểu OK Corral. Cũng như ở miền Viễn Tây, kẻ mạnh đẩy kẻ yếu ra khỏi các vùng đất phì nhiêu, ra khỏi các khu có vàng và buộc họ lập nghiệp tại các vùng sa mạc và đất xấu. Tất cả chúng ta đều ở trên trái đất này nhưng không phải ai cũng tham gia vào nền kinh tế toàn cầu trong thời đại mới.

Sự giàu có sẽ được hình thành trong nền kinh tế toàn cầu nhưng không suôn sẻ mà thỉnh thoảng sẽ tạo ra những trận bão kinh tế bất thần. Một trận bão như thế đã ập vào châu Á trong năm 1997. Việc xảy ra tại các nước chiếm chưa được 1% tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu đã lan rộng và gần như ảnh hưởng đến mọi người kể từ giữa năm 1999. Các ngân hàng lớn (Bankers Trust, Bank of America) công bố lỗ hàng tỷ đô la khi Liên bang Nga bị cuốn hút vào trận cuồng phong kinh tế châu Á. Các ngân hàng Thụy Sĩ được tiếng là bảo thủ càng tệ hại hơn. Brasil cần có sự hỗ trợ to lớn của thế giới (trên 45 tỷ đô la) để tránh bị nhận chìm nhưng cho dù với sự hỗ trợ to lớn này, Brasil vẫn tơi tả trong cơn lốc tài chính. Tại Hoa Kỳ, một quỹ bảo đảm vốn, Long Term Capital Management (Công ty Quản lý vốn dài hạn) (một công ty chính thức thành lập tại đảo Cayman nhưng có trụ sở chính tại Connecticut và đặt văn phòng trên khắp thế giới) đe dọa cho sụp đổ và sẽ kéo theo thị trường vốn lớn nhất thế giới. Chính phủ Hoa Kỳ đã phải tổ chức một cuộc tiếp cứu không chính thức. Hội đồng Dự trữ Liên bang đã hạ lãi suất 3 lần vào mùa thu năm 1998, một lần nhằm đáp ứng tình trạng khẩn cấp. Mọi việc lắng dịu trở lại và thị trường chứng khoán hồi phục. Nhưng trong bao lâu đây?

Trong năm 1999, cả thế giới lo lắng đứng nhìn xem chính phủ Nhật Bản sẽ hành động thế nào. Hầu hết các đại công ty của Nhật (NEC, NTT, Hitachi, Fujitsu, Nissan, Toshiba) đều đang thua lỗ. Chính sách bất hành động theo kiểu Herbert Hoover đã tạo nên tình trạng có thể gọi là đại trì trệ – 8 năm tăng trưởng không đáng kể, với mức tăng trưởng âm trong năm 1998 và sẽ tái diễn trong năm 1999. Liệu Nhật Bản sẽ hành động hay vẫn để lún sâu trong sự suy thoái đang bành trướng để rồi sẽ chôn vùi cả thế giới?

Trong thế kỷ 20, khi kinh tế quốc gia thay thế kinh tế địa phương, chính quyền quốc gia cũng mạnh lên. Chính quyền cần phải mạnh để kiểm soát hệ thống kinh tế quốc gia. Qui trình này lại đảo ngược trong nền kinh tế toàn cầu. Thị trường tài chính toàn cầu là thí dụ sinh động nhất nhưng cũng đang xảy ra trong các lãnh vực khác. Không ai có thể ngăn chặn nạn di dân bất hợp pháp. Hàng triệu người di chuyển khi họ cảm thấy muốn ra đi và trong quá trình này ý nghĩa quốc gia lu mờ dần. Một quốc gia không thể kiểm soát nổi biên giới của mình thì theo một ý nghĩa cơ bản nào đó không còn là một quốc gia thực tế nữa. Hình ảnh khiêu dâm được sản xuất và truyền qua mạng điện tử từ một nơi nào đó không bị cấm đoán và các chính phủ quốc gia không thể ép buộc công dân của mình theo một tiêu chuẩn đạo đức nào đó.

Các quốc gia đang tham gia vào cuộc chơi. Từ Cộng hòa Liên bang Xô Viết cũ, 15 quốc gia đã xuất hiện. Tiệp Khắc cũng chia đôi. Nam Tư biến thành 5 và có thể là 7 nước khác nhau. Người Anh cho người Scotland được độc lập phần nào. Người vùng Basque và Catalan muốn độc lập từ Tây Ban Nha. Dân miền Bắc nước Ý muốn hất cẳng dân miền Nam ra khỏi nước Ý. Canada tranh luận không mệt mỏi về việc trao độc lập cho tỉnh Quebec.

Indonesia có lẽ sẽ không bao giờ là một nước toàn vẹn. Trước đây là hàng ngàn đảo độc lập bị người Hà Lan chinh phục và biến thành thuộc địa gọi là Tây Ấn và sau đó do hai nhà độc tài quân phiệt cai trị. Sự tan rã về kinh tế đã kéo theo sự tan rã về chính trị và không có gì hàn gắn lại được.

Biên giới sẽ được dời đổi khắp nơi tại châu Phi. Hàng chục nghìn nhóm chủng tộc khác nhau không bao giờ có thể sống chung trên một số nước được phân chia do sự gặp nhau bất đắc dĩ của hai quân đội Anh và Pháp trong thế kỷ thứ 19.

Người Anh đã thống nhất Ấn Độ và nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung của chủ nghĩa xã hội đã giữ họ lại với nhau sau khi người Anh ra đi, nhưng bây giờ cái gì sẽ giữ họ lại với nhau đây? Tại sao các vùng giàu có lại bị các vùng lạc hậu ngăn cản? Các lãnh chúa kinh tế rất có thể sẽ xuất hiện cũng giống như các lãnh chúa chính trị bị người Anh chinh phục vài thế kỷ trước. Trong khi đó, các quốc gia truyền thống tại châu Âu đang biến mất. Mười một nước đã hợp thành một. Các quốc gia không có tiền tệ riêng không hẳn hoàn toàn độc lập. Bốn thành viên còn lại của Liên minh Kinh tế châu Âu sẽ tham gia – sớm hơn thay vì chờ đợi. Các quốc gia Đông Âu đang gõ cửa. Các bước tiếp theo trong tương lai như hợp nhất về thuế đang được thảo luận sẽ làm cho các thành viên không còn là một quốc gia thật sự. Hợp Chúng Quốc Châu Âu rất có thể là một thực tế vào cuối thế kỷ tới.

Khi phạm vi, ảnh hưởng và quyền hạn của chính quyền quốc gia thu hẹp, vai trò của các công ty toàn cầu mở rộng. Càng ngày chúng càng có thể làm cho nước này đối đầu với nước khác. Các đại công ty toàn cầu đặt nhà máy tại nước nào cho chúng những thuận lợi cao nhất về tiền mặt thanh toán, về trợ cấp phí tổn, và giảm thuế (thí dụ Israel mua một nhà máy bán dẫn của Intel).

Các công ty, tương tự như các quốc gia, cũng tham gia vào cuộc chơi. Các cuộc sáp nhập (2.400 tỷ đô la trong năm 1998) to gấp 5 lần so với năm 1990 và cao hơn năm có kỷ lục cao nhất trước đó (1997) đến 50%, với nhiều cuộc sáp nhập vượt biên giới và trong phạm vi châu Âu ngày càng nhanh hơn. Chín trong mười cuộc sáp nhập lớn nhất từ trước đến nay được thực hiện trong năm 1998. Cuộc thứ 10 thực hiện trong năm 1997. Mercedes mua lại Chrysler; Deutsche Bank mua lại Bankers Trust. Các công ty mới này là công ty Đức, công ty Mỹ hay công ty toàn cầu? Tất nhiên, câu trả lời là toàn cầu. Các công ty toàn cầu mới xuất hiện to hơn chưa từng thấy so với các công ty quốc gia. Giá trị thị trường của công ty lớn nhất thế giới trong năm 1990 (Công ty điện thoại Nhật Bản – Nippon Telephone, một công ty quốc gia) chưa thấm vào đâu để có thể xếp vào hàng 10 công ty lớn nhất thế giới trong năm 1998.

Trong khi đó, xu hướng thu gọn đang thịnh hành. Chẳng hạn như Công ty Siemens, trong thập kỷ trước không bao giờ nghĩ đến việc bán đi bất kỳ bộ phận nào, đã bán đi các hoạt động không quan trọng để tập trung vào các hoạt động chủ yếu. Công ty Shell thuộc Hoàng gia Hà Lan muốn bán đi 40% các hoạt động hóa chất; Deutsche Bank chuyển nhượng 28 tỷ đô la quyền sở hữu công nghiệp. Công nhân lúc đi ngủ còn làm cho công ty này và khi thức giấc lại làm cho một công ty khác rồi. Họ không phải là người nô lệ vì họ có thể bỏ việc không làm cho ông chủ mới nhưng lại giống như những người nô lệ, họ bị bán đi mà không ai màng xin phép trước.

Ngày càng có ít người chấp nhận rủi ro để khám phá môi trường mới chưa từng biết đến. Trong khi quốc gia và công ty ngày càng nhiều, làm thế nào một cá nhân tham gia vào trò chơi kinh tế có một mức độ vừa thành công lẫn an toàn? Tôi thuộc nhóm nào đây? Nước tôi và chủ tôi đang nhanh chóng mất đi khả năng và sự sẵn sàng giúp đỡ tôi. Tôi tham gia vào trò chơi này thế nào đây?

2CON MẮT LONG LANH TRÊN ĐỈNH THÁP GIÀU CÓ

Croesus! Người đầu tiên giàu nhất thế giới đã trở thành thước đo giàu có để mọi người noi theo. Giàu có đối với ông ta cũng giống như vô cực đối với các con số. Để trở thành người giàu nhất thế giới có nghĩa là phải “giàu hơn Croesus”.

Midas! Vị vua truyền thuyết đã đạt ước nguyện của mình là bất cứ vật gì ông sờ tới đều biến thành vàng.

Thuật giả kim! Ngành hóa học không bao giờ tìm thấy, có thể biến kim loại cơ bản thành vàng.

El Dorado! Thành phố vàng hư cấu đã lôi cuốn người Tây Ban Nha chinh phục Nam, Trung và phần lớn Bắc Mỹ.

Những con người năm 49! Sự khám phá ra vàng đã lôi kéo hàng vạn người Mỹ sang bờ Tây đến California.

Rockefeller, Carnegie, Morgan! Những tỷ phú của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 vào cuối thế kỷ 19.

Bill Gates! Người giàu nhất hành tinh (có gia tài trên 83 tỷ đô la vào cuối năm 1998 – một con số tương đương với của cải của 110 triệu người Mỹ có mức giàu có thấp nhất). Biểu tượng của sự giàu có tột cùng do cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 đem lại vào cuối thế kỷ thứ 20. Tính theo số tuyệt đối, Gates giàu gấp hai lần Rockefeller nhưng nếu tính theo qui mô của nền kinh tế theo từng thời kỳ thì Rockefeller giàu hơn Gates những 13 lần.

Ai cũng muốn mình giàu có cả. Những người giàu có – bất kỳ ở mức độ nào – đều muốn mình giàu hơn và không có trường hợp ngoại lệ. Để tự an ủi mình, những người không có của cải thêu dệt những câu chuyện hoang đường về vận rủi do của cải mang lại: Vua Midas biến con gái yêu quí của mình thành vàng và ông ta không thể ăn uống gì được vì thực phẩm mà ông sờ đến đều hóa vàng. Nhưng trong thâm tâm ai cũng công nhận – người giàu không phải bất hạnh – và được xác nhận từ một cuộc điều tra xã hội khoa học: càng giàu người ta càng hạnh phúc hơn.

Sự giàu có cho ta khả năng mua nhiều hàng tiêu dùng hơn nhưng quan trọng hơn nhiều là quyền làm điều mà mình muốn. Của cải nhiều cho ta quyền thuê, cho nghỉ việc, thăng chức và giáng chức người khác và mở, đóng hay di chuyển doanh nghiệp từ chỗ này sang chỗ khác. Trò chơi “độc quyền” (Monopoly) đã trở thành một thực tế. Người ta có thể mua hay bán công ty. Những người có nhiều của cải có thể kiểm soát môi trường vật chất và con người chung quanh mình. Những người không có của cải phải tự điều chỉnh theo môi trường của họ.

Những người có nhiều của cải cho phép họ để lại dấu ấn theo thời gian. Ai cũng biết các tỷ phú của hậu bán thế kỷ thứ 19 – Rockefeller, Morgan, Carnegie, Mellon. Chỉ một số ít người còn nhớ các vị tổng thống Hoa Kỳ trong thời kỳ đó. Những người có nhiều của cải là đề tài của nhiều sách lịch sử. Họ là những người bất tử hiện đại. Các trường đại học và các viện bảo tàng nghệ thuật đặt tên họ (Đại học Carnegie-Mellon, Viện Bảo tàng Getty). Nếu họ muốn, họ có thể nổi tiếng ngay trong thời đại của họ – đó là lý do người ta mua các đội thể thao. Có ai biết đến George Steinbrenner nếu ông ta không phải là ông chủ của đội bóng chày New York Yankees?

Ảnh hưởng chính trị cũng có thể mua chuộc một cách âm thầm. Sự đóng góp vào các cuộc vận động bầu cử thực sự cho những người giàu được nhiều hơn một phiếu.

Sức mạnh chính trị có thể mua công khai. Không cần phải xin phép ai hay cũng chẳng cần có thời gian làm quen với chính trị thông thường, những người giàu có có thể trở thành những ứng cử viên tổng thống nghiêm túc (Steve Forbes, Ross Perot) và chẳng được bao nhiêu phiếu. Trên 50% thượng nghị sĩ tại Thượng viện Hoa Kỳ giàu đến mức họ được xếp vào 1% đầu của tổng dân số và nhiều thượng nghị sĩ và thống đốc nổi tiếng (thí dụ như Kennedy, Rockefeller) rất giàu. Trong thời đại mà nhu cầu tài chính dành cho các cuộc vận động bầu cử thật sự hủ hóa các chính trị gia không có đủ tiền, những người có tiền mới thật sự lương thiện – họ không bán linh hồn mình để tài trợ cho các cuộc vận động của họ.

Sự giàu có là cách ghi nhận thành tích trong chủ nghĩa tư bản. Nhà vô địch hiện nay, Bill Gates, luôn nằm trên trang bìa của mọi tạp chí. Những tư tưởng và hành động của anh ta đều được ghi nhận và theo dõi như một tổng thống. Anh ta được đối đãi như một tài tử màn bạc. Các phóng viên săn ảnh theo anh khắp mọi nơi. Jack Welch, người nổi tiếng đã tạo của cải cho General Electric, theo sát phía sau. Warren Buffett, người giàu thứ hai tại Hoa Kỳ đã từng biểu diễn trên sân khấu trong nhiều thập kỷ.

Những người có thật nhiều của cải rất quan trọng, cần được săn đón. Họ đáng được tôn trọng và đòi hỏi sự chú ý. Họ là những người chiến thắng.

Sự giàu có luôn quan trọng trong thứ tự đo lường về một cá nhân nhưng ngày càng được xem là thước đo duy nhất của giá trị cá nhân. Đây là trò chơi duy nhất cần tham gia nếu bạn muốn chứng minh sức mạnh của mình. Đây là những liên đoàn lớn. Nếu bạn không tham gia, theo định nghĩa bạn thuộc hạng hai.

Trong khi các nguồn khác về danh tiếng, uy tín và quyền lực biến đi, trò chơi kinh tế càng quan trọng. Không có các cuộc chiến tranh lớn, các tướng lãnh không thể trở thành anh hùng được. Toàn cầu hóa có nghĩa là các chính phủ mất khả năng ban hành các qui định và kiểm soát nền kinh tế để hỗ trợ người dân, và các nhà chính trị cũng không còn quan trọng. Với các phương tiện điện tử lúc nào cũng thâm nhập vào đời sống cá nhân, không ai còn có thể gìn giữ được phẩm giá của mình, và vinh quang của quyền cao chức trọng cũng biến mất. Hoạt động theo nhóm, các nhà phát minh hiện đại, không như Thomas Edison hay Alexander Graham Bell trước đây, không được biết đến ngay trong thời đại của họ. Rất ít người biết và càng ít người nhớ ai là người đã phát minh ra truyền hình, máy thu hình video, mạch tích hợp bán dẫn hay máy tính điện tử. Tên của những nhà du hành vũ trụ đầu tiên hay của phi hành gia đầu tiên đặt chân lên mặt trăng không phải là từ ngữ thông dụng trong gia đình. Họ không phải là Columbus mở ra thế giới mới để chinh phục sau này.

Các con đường thăng tiến khác của con người cần phải thỏa mãn với tài năng kém cỏi hơn. Trong các lãnh vực khác, sự thành đạt ngày càng được đo lường bằng của cải mà họ tạo ra được. Trong một vài môn thể thao (quần vợt, đánh gôn), các đấu thủ được chính thức xếp hạng trên cơ sở số tiền mà họ kiếm được nhưng ở khắp mọi nơi họ không chính thức được xếp hạng như vậy. Michael Jordan xuất hiện trên trang bìa của tập san Fortune và được mọi người nhắc đến vì số tiền mà anh ta kiếm được – phần lớn không phải từ trên sàn bóng rổ.

Chính vì sự tạo ra của cải đã làm lu mờ các hình thức thể hiện thành tích khác cho nên các tài năng trẻ giàu tham vọng ngày càng tập trung mọi nỗ lực cho mục tiêu này. Cho dù sử dụng bất kỳ thước đo nào – khả năng trí tuệ, động lực, sáng tạo, sẵn sàng chấp nhận rủi ro – các thạc sĩ quản trị ngày nay hơn xa về số lượng cũng như chất lượng so với các thạc sĩ của những năm 1960. Và không như những người theo học ngành quản trị của những năm 1950, những sinh viên này không muốn là những người nằm trong tổ chức. Họ muốn làm giàu!

Có nhiều của cải là có tất cả. Không có gì ngạc nhiên khi các quyển sách dạy cách làm giàu bán rất chạy mặc dù người mua biết rằng sách cũng chẳng giúp đỡ họ được gì. Đây là thuật giả kim hiện đại. Đó là những gì không có thật nhưng nếu có thì nhiều người sẽ vứt đi khả năng phê phán của mình để tin tưởng vào điều không thể tin được. Chuyện thần thoại bán chạy và đem lại sự dễ chịu – mặc dù người ta biết rằng đó cũng chỉ là những chuyện thần thoại.

Thời kỳ vàng son

Nhân loại đang sống trong một thập kỷ công nghệ vĩ đại nhất từ trước đến nay. Bất cứ ở đâu, người ta đều nhìn thấy những điều thần kỳ. Thực tế ảo và điều khiển học không gian (cyberspace) đã có rồi. Mạng Internet và máy tính xách tay với vận tốc của các máy tính loại lớn tạo thuận lợi cho việc mua bán điện tử. Nhu cầu cửa hàng không còn nhiều, mô hình du lịch thay đổi, và mô hình địa lý của các thành phố cũng thay đổi. Công cụ định vị toàn cầu giúp hướng dẫn máy bay và tàu thủy – và cũng sẽ tiến tới hướng dẫn cả ô tô. Con người nhân tạo thông minh hơn, lịch lãm hơn, cao hơn, đẹp hơn không còn là điều xa vời nữa – những sự vật tốt hơn sẽ được chế tạo với ngành vi trùng học. Điều kỳ diệu xuất hiện liên tục. Mảnh đất của những cơ hội kinh tế mới, vĩ đại đã được khám phá.

Những cơ hội công nghệ đang tạo lập của cải nhanh hơn bao giờ hết. Hoa Kỳ, trong vòng 15 năm trở lại đây, đã tạo ra nhiều tỷ phú nhất trong lịch sử – ngay cả sau khi điều chỉnh theo lạm phát và những biến động trong tổng sản phẩm nội địa tính theo bình quân đầu người. Trong năm 1982 có 13 tỷ phú thì đến năm 1998 có thêm 176 tỷ phú nữa. Số 189 tỷ phú này sở hữu một tổng tài sản trị giá 738 tỷ đô la. Nếu lấy số thống kê tháng 7 thay vì tháng 10, có thể có thêm 29 tỷ phú được kê vào danh sách, và với sự phục hồi của thị trường chứng khoán, có thể các người này sẽ trở lại danh sách các tỷ phú vào cuối năm nay. Để lọt vào danh sách 50 người giàu nhất Hoa Kỳ cần có tài sản trị giá tối thiểu 2,9 tỷ đô la trong năm 1998.

Những người Mỹ giàu nhất không hề che giấu sự giàu có của mình. Họ tích cực tìm cách đưa tên mình vào danh sách những người giàu nhất, kèm theo các chứng cứ tài chính. Họ muốn mọi người chứng kiến họ là những người thắng lợi về kinh tế.

Đối với những người chưa đủ giàu để được đưa vào danh sách, họ có thể phô trương sự giàu có bằng cách khác. Các loại chi tiêu dễ nhìn thấy đang gia tăng. Trong khi chi tiêu tổng quát tăng 29%, thì chi du lịch tăng 46%, chi bánh kẹo (sôcôla) tăng 51%, chi cho ngọc trai tăng 73%, chi cho xe du lịch hạng sang tăng 74% và chi cho du thuyền tăng 143%. Bill Gates có thể chi 100 triệu đô la cho cái nhà của mình nhưng cũng chỉ là cái đắt thứ hai đang được xây dựng tại Hoa Kỳ.

Đây là thời kỳ chói lọi nhất đối với người Mỹ.

Tình trạng này không phải ở đâu cũng giống nhau. Tính trên dân số, người Mỹ có cơ hội gấp 5 lần so với người châu Âu để trở thành tỷ phú và gấp 9 lần so với người Nhật. Tại sao có sự chênh lệch to lớn như thế?

Hơn nữa, sự bùng nổ giàu có này cũng không bình thường tại Hoa Kỳ. Trong các thập kỷ 1950, 1960 và 1970 đã không xảy ra những gì đang xảy ra hiện nay. Nền kinh tế đã tăng trưởng nhanh hơn nhiều (tăng nhanh gấp hai lần trong thời kỳ 1950 – 1970 so với thời kỳ 1970 – 1998), mức giàu bình quân đang tăng lên nhưng sự giàu có tột đỉnh không bộc phát bất ngờ. Người Mỹ trong các thập kỷ 1950, 1960 và 1970 không phải kém tài năng, kém sáng tạo, kém tham vọng. Hệ thống kinh tế và chính trị (dân chủ và tư bản chủ nghĩa) không thay đổi. Đơn giản là cơ hội làm giàu lúc bấy giờ chưa có.

Những gì nhìn thấy hôm nay tại Hoa Kỳ đã được chứng kiến lần cuối trong thập kỷ 1890. Lúc đó, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 đang diễn ra và có 2 phát minh đã làm thay đổi tính chất của tăng trưởng kinh tế và mở ra cơ hội để tạo thật nhiều của cải.

Với sự hình thành ngành công nghiệp hóa chất, nước Đức đã phát triển khái niệm nghiên cứu và triển khai công nghiệp có hệ thống. Kết quả là tiến bộ kỹ thuật không còn xảy ra một cách ngẫu nhiên nhưng có thể kế hoạch một cách có hệ thống. Ứng dụng khoa học, hàng loạt sản phẩm mới không ngừng được đưa ra từ các phòng thí nghiệm công nghiệp của các công ty như I.G. Farben. Phòng thí nghiệm của công ty ra đời.

Trước đây, kinh tế phát triển là nhờ sự lỗi lạc của những người mà ta có thể gọi là những nhà có đầu óc kinh doanh vĩ đại (Watt, Bessemer, Arkwright). Tiến bộ kỹ thuật không đi sát tiến bộ khoa học. Thí dụ như Bessemer không nắm được nguyên lý làm thế nào để lò luyện kim hoạt động. Ông ta chỉ mò mẫm cho đến khi nó hoạt động được.

Trong thế kỷ 20, lãnh đạo về kinh tế chỉ là việc đầu tư có hệ thống vào nghiên cứu và triển khai để chủ động phát minh ra những công nghệ mới. Để triển khai khả năng mới này, hệ thống giáo dục đã phải thay đổi để đào tạo một số lượng lớn nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, nhà quản lý và sau cùng là công nhân có tay nghề – không phải như thành phần ưu tú trong tôn giáo hay chính trị được đào tạo như trước đây. Văn hóa cần phải xây dựng lại cho phù hợp với thay đổi kỹ thuật nhanh chóng.

Nước đi đầu trước đây, Anh Quốc, không thể điều chỉnh những thay đổi xã hội cần thiết và đã rơi lại phía sau. Nguyên nhân ai cũng biết. Trong 25 năm đầu của thế kỷ 20 khi lãnh đạo về kinh tế đang chuyển sang nước Đức và Hoa Kỳ, Hoa Kỳ chi cho công tác nghiên cứu và phát triển gấp 12 lần so với Anh Quốc. Hoa Kỳ có số sinh viên đại học nhiều gấp 8 lần, có số kỹ sư xây dựng nhiều gấp ba lần và theo tỷ lệ đầu tư 70% nhiều hơn vào nhà máy và thiết bị. Kết quả là tỷ lệ tăng năng suất cao gấp 4 lần.

Nhưng nhìn sâu hơn, đâu là nguyên nhân văn hóa ngăn chặn Anh Quốc thích ứng với môi trường mới này và tiến hành những thay đổi cần thiết về mặt tổ chức? Tại sao Anh quốc không thể xây dựng một hệ thống giáo dục để đào tạo trình độ chuyên môn cần thiết cho việc nghiên cứu và triển khai có hệ thống? Bất kể nguyên nhân sâu xa nào, Anh Quốc đã không nắm được những thực tế mới của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 này. Vai trò lãnh đạo kinh tế của Anh Quốc đã chầm chậm trôi qua và mất hẳn.

Một trăm năm sau, vào năm 1998, người Anh vẫn còn viết các báo cáo cho họ về những vấn đề này. Tại sao trình độ chuyên môn của họ lại kém hơn người Đức đến 50%? Tại sao họ đứng hàng thứ 16 trong số 19 nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) – chỉ bằng một nửa của Pháp? Tại sao họ lại thất bại trong việc chuyển các nghiên cứu khoa học sang chuyên môn công nghiệp? Tại sao số bằng sáng chế họ đăng ký chưa đến 4% so với số đăng ký của người Mỹ? Tại sao năng suất lao động của họ trong ngành ô tô chỉ bằng một nửa của Nhật?

Sau khi khám phá ra nghiên cứu và phát triển có hệ thống, nước Đức đã đứng đầu về khoa học và công nghệ trong suốt 50 năm đầu của thế kỷ 20. Nhưng không ai nhanh chóng chuyển từ giáo dục từ chương (tiếng Latinh, Hy Lạp) sang đào tạo hàng loạt về kỹ thuật bằng người Mỹ. Trên cơ sở đào tạo hàng loạt này, Hoa Kỳ đã chiếm chỗ của Anh quốc là nước giàu nhất vào đầu thế kỷ 20, mặc dù Hoa Kỳ chưa phải là nước đứng đầu về kỹ thuật. Những nhà kinh doanh nổi tiếng của Anh quốc vào đầu thế kỷ 19 đã được thay thế bởi các nhà kinh doanh không kém phần nổi tiếng của Hoa Kỳ. Anh quốc là nơi người ta làm giàu vào đầu thế kỷ thứ 19, nhưng Hoa Kỳ lại là nơi người ta làm giàu vào cuối thế kỷ.

Điều lý thú là nhiều người Mỹ mới giàu lên nhận thấy rằng chính căn bản giáo dục đã đem lại sự thành công cho họ và họ muốn thúc đẩy người khác. Carnegie lập thư viện khắp nước Mỹ để cho những người không có cơ hội đến trường lớp có thể tự học. Rockefeller, Carnegie, Eastman và Mellon đều tài trợ cho các trường đại học mới.

Hoa Kỳ chưa thể thay thế nước Đức trong vai trò lãnh đạo kỹ thuật cho đến sau Thế chiến thứ 2. Suốt 50 năm đầu của thế kỷ, những ai muốn có lợi thế về đào tạo khoa học đều tìm đến nước Đức. Trong Thế chiến thứ 2, Đức là đối thủ duy nhất triển khai công nghệ tên lửa tầm xa; họ chế tạo động cơ phản lực đầu tiên và mọi sự nôn nóng trong dự án Manhattan của Hoa Kỳ là nỗi lo lắng nước Đức sẽ sáng chế ra vũ khí nguyên tử trước. Sau cùng không phải vì sự tàn phá của chiến tranh mà do chính sách phân biệt chủng tộc đã tước đi vai trò lãnh đạo của Đức về khoa học và kỹ thuật. Sự tàn phá vật chất có thể khắc phục được nhưng không thể khắc phục sự thiệt hại về con người. Hoa Kỳ đã nắm được những Einstein, những Fermi và con cháu của họ nữa. Hoa Kỳ đã chiếm vai trò lãnh đạo khoa học và kỹ thuật toàn cầu.

Phát minh thứ hai làm thay đổi tính chất phát triển kinh tế trong thập kỷ 1890 là điện. Điện khí hóa đã cho phép xuất hiện hàng loạt nhiều ngành công nghiệp mới (điện thoại, phim ảnh) và cũng làm thay đổi cơ bản các qui trình sản xuất của nhiều ngành công nghiệp cũ. Trong lãnh vực hơi nước, một động cơ khổng lồ vận hành bằng trục quay với những máy công cụ trải dài trong các nhà máy. Với mô hình sản xuất điện mới, một động cơ nhỏ có thể gắn vào từng máy công cụ và nhiều loại máy, vừa đa dạng, vừa có nhiều cấu hình khác nhau có thể được sản xuất trong cùng một nhà máy. Đây là một mô hình công nghiệp trước đây mà ngày nay người ta gọi là qui trình phân phối trong ngành công nghiệp máy tính điện tử.

Với những bóng đèn điện, đêm gần như biến thành ngày. Đường biểu diễn giá theo thời gian hoạt động của bóng đèn cũng giống như đường biểu diễn giá theo thời gian hoạt động của một máy tính điện tử hiện nay. Để có độ sáng của một bóng đèn 100 watt mua với giá 33 xu hiện nay phải mất 1.445 đô la vào năm 1880 (điều chỉnh theo độ sáng, thời gian hoạt động, lạm phát, và thay đổi về thu nhập đầu người). Nếu tính theo cùng tỷ lệ giảm giá thì một máy tính 13 triệu đô la chỉ còn 3.000 đô la – không xa mấy so với thực tế xảy ra từ thập kỷ 1960. Bóng đèn đầu tiên được sử dụng làm công cụ phòng cháy trên tàu chạy bằng hơi nước Columbia vì nó quá quý để sử dụng thắp sáng. Đèn dầu rẻ hơn nhiều.

Hoạt động về đêm đã làm thay đổi thói quen cũ. Người ta ngủ ít hơn. Thời gian ngủ bình quân 9 giờ kéo xuống còn khoảng 7 giờ. Đi theo nguồn điện là hệ thống chuyên chở (xe điện ngầm và lộ thiên, thang máy) cho phép xuất hiện nhiều thành phố lớn. Điện vận hành hệ thống điện thoại cho phép biến những chợ nhỏ địa phương thành những chợ lớn cấp quốc gia.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai làm gián đoạn đột ngột nhiều hoạt động kinh tế. Cách làm trước đây đã lỗi thời. Những gì tiếp theo sẽ rất khác. Những gián đoạn này tạo cơ hội để làm những việc mà trước đây chưa bao giờ làm hay làm những việc cũ theo cách mới. Những người nhanh trí hay may mắn không nhất thiết phải tham gia vào các loại hình kinh doanh có sự cạnh tranh cao độ để sản xuất ra sản phẩm có tỷ lệ lãi ngang bằng với thị trường trái phiếu. Theo biệt ngữ của các nhà kinh tế, lợi nhuận cao trong trạng thái mất cân đối thay thế cho lợi nhuận thấp trong trạng thái cân đối.

Các nhà kinh doanh có thể thành lập các doanh nghiệp mới có ít hay thậm chí không có đối thủ cạnh tranh và tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao đem lại lợi tức tài chính và tỷ lệ tăng trưởng cao hơn các ngành khác trong nền kinh tế. Các nhà kinh doanh có thể sử dụng các công nghệ mới này để chuyển đổi các ngành công nghiệp cũ, cắt giảm chi phí rất đáng kể và thu lợi nhuận cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp sử dụng công nghệ cũ. Do hạn chế cạnh tranh trong cả hai ngành công nghiệp mới và công nghiệp cũ sử dụng công nghệ mới, chi phí giảm nhanh hơn giá bán và do đó lợi nhuận tăng cao. Thị trường tài chính đã tư bản hóa các nguồn lợi nhuận cao hiện tại và trong tương lai này với các bội số cao cho tỷ suất giá/ lợi nhuận (P/E) (như họ làm hiện nay). Những ai thành lập và sở hữu các công ty quốc gia mới này trở nên giàu có vô cùng. Một thế hệ thật giàu có đột ngột xuất hiện.

Qui luật thứ nhấtChưa bao giờ có ai trở nên thật giàu có bằng cách tiết kiệm tiền. Người giàu nhìn thấy cơ hội hành động và đầu tư vào những tình huống có sự mất cân đối lớn. Điều này đúng đối với Rockefeller cũng như đối với Bill Gates. Trong cả hai trường hợp, tiền tiết kiệm suốt đời của họ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng tài sản của họ. Tiết kiệm một cách thận trọng và đầu tư vào những tình huống cân đối thông thường đem lại cho người ta thoải mái trong tuổi già nhưng không bao giờ thật sự giàu có cả.

Dần dần trạng thái mất cân đối luôn biến mất. Những ngành công nghiệp mới với lợi nhuận và tỷ lệ tăng trưởng cao trở thành công nghiệp lỗi thời với mức lợi nhuận cân bằng rất thấp và tỷ lệ tăng trưởng bình thường. Khi công nghệ đã chín muồi, lợi nhuận sẽ giảm do các đối thủ cạnh tranh đẩy giá xuống nhanh hơn là công nghệ giúp giảm chi phí. Tỷ lệ tham gia đối với sản phẩm mới đạt mức bão hòa. Thị trường tăng trưởng trở thành thị trường thay thế. Nhưng “dần dần” thường có nghĩa là nhiều thập kỷ. Cần có thời gian để thu hút đủ vốn và người tham gia vào các ngành công nghiệp mới này để mở rộng và trở thành các ngành công nghiệp cạnh tranh bình thường. Trong khi đó có đủ thời gian để làm giàu.

3TÌM THẤY (VÀ ĐÁNH MẤT) KHO TÀNG CỦA KIM TỰ THÁP GIÀU CÓ

Cũng như các sử gia kinh tế hiện nay đang nói về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai vào cuối thế kỷ thứ 19, tất nhiên một thế kỷ sau, các sử gia kinh tế sẽ nói về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba vào cuối thế kỷ thứ 20. Tương tự như trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, các doanh nghiệp sẵn sàng để lợi dụng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba có thể đạt hiệu quả và tỷ lệ tăng trưởng cao cho dù tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế chậm hơn ba thập kỷ trước. Nhiều doanh nghiệp lớn, và đi kèm là những cơ may lớn, phát triển nhanh chóng. Tám trong số 25 công ty lớn nhất Hoa Kỳ trong năm 1998 trước đây chưa thành lập hay hãy còn rất nhỏ trong năm 1960. Ba trong số các công ty chưa thành lập trong năm 1960 nằm trong số 10 công ty lớn nhất trong năm 1998.

Mất cân đối có nghĩa là gặp nhiều thử thách cũng như đầy cơ hội. Chỉ có 4 trong số 25 doanh nghiệp lớn nhất trong năm 1960 còn lại trong danh sách năm 1998. Nhiều doanh nghiệp sáp nhập với công ty khác nhưng 2 trong số 25 công ty này hoàn toàn biến mất. Đột phá công nghệ xảy ra, môi trường kinh tế thay đổi nhưng chúng không thể điều chỉnh để thích ứng được. Trong các thập kỷ 1950 và 1960, chẳng có đe dọa nào và cũng chẳng có cơ hội. Tỷ phú không thể mọc như nấm. Nhưng hàng triệu công nhân cũng không bị giảm biên chế vĩnh viễn.

Các đại công ty hiểu và thường tự phát minh ra các công nghệ mới làm thay đổi cả thế giới nhưng chúng gặp vấn đề cơ cấu gần như không thể nào giải quyết được. Khi các đột phá công nghệ xuất hiện, chúng phải tự hủy để tự cứu. Chúng phải tự giải thể nhưng lại không làm được. Thí dụ: Bốn trong số 5 nhà sản xuất bóng chân không không thể sản xuất thành công bóng bán dẫn hay mạch tích hợp bán dẫn khi bóng bán dẫn đã xuất hiện để thay thế bóng chân không – và nhà sản xuất thứ 5 cũng không phải là nhà sản xuất quan trọng. Khi bộ vi xử lý cho phép máy tính cá nhân thay thế loại máy tính lớn và chiếm ưu thế trên thị trường đang phát triển trong ngành máy tính, công ty đứng đầu ngành này trước đây (IBM) đã rơi xuống vực thẳm và xuất hiện lãnh đạo mới (Intel, Microsoft). IBM cũng nắm công nghệ mới và muốn cạnh tranh nhưng lại không thể bỏ việc kinh doanh máy tính loại lớn để chế tạo cái mới.

Các doanh nghiệp mới có lợi thế lớn là không phải tự hủy để tự cứu.

Mười một trong số 12 công ty lớn nhất của Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ thứ 20 sẽ không còn tồn tại để chứng kiến sự bắt đầu của thế kỷ 21. Sự sống còn không phải là vô vọng. General Electric là một trong số 12 doanh nghiệp lớn nhất vào cuối thế kỷ 19 và nó sẽ nằm gần trên cùng vào cuối thế kỷ 20 (hiện nay đang đứng thứ 2) – nhưng đây là một ngoại lệ và nó xác nhận qui luật tự hủy để tự cứu là rất khó khăn, General Electric cũng đã tự mình khám phá ra bóng bán dẫn ít lâu sau khi phòng thí nghiệm Bell của AT&T phát minh ra nó, nhưng General Electric lại là công ty sản xuất bóng chân không hàng đầu. Để giữ vị trí kinh tế, nó sẽ phải hủy nhánh sản xuất bóng chân không. Điều này General Electric không thể làm được vì nó chưa bao giờ là một nhà kinh doanh bóng bán dẫn hay chất bán dẫn.

Nhu cầu tự thanh lý và tái lập cũng xảy ra trên bình diện quốc gia. Như chúng ta đã chứng kiến, Anh quốc không thể chuyển sang mô hình của Đức trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2. Kết quả sau cùng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 chưa thể hiện nhưng Nhật Bản là một minh họa tốt về vấn đề tự hủy. Nhật Bản trở thành bậc thầy về hoạt động kinh tế từ sau Thế chiến thứ 2 trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2; nhưng trong thập kỷ 1990, Nhật Bản đã chứng tỏ những yếu kém to lớn khi tham gia cuộc chơi trong thời đại công nghiệp tri thức. Một nước mong muốn và cần sự sáng tạo để bắt đầu các công nghiệp mới sử dụng công nghệ mới không thể áp dụng câu châm ngôn thường được nhắc đến một cách phổ biến: “Cây ngay dễ đổ”. Đứng vững và làm điều gì đó khác hơn chính là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3.

Nhật Bản cần phải lập một hệ thống công nghiệp mới nhưng cho đến nay họ chưa sẵn sàng làm điều đó. Sự kiện này cùng với sự suy sụp về tài chính giải thích tại sao tỷ lệ tăng trưởng trong những năm 1990 (0,4% / năm) thấp hơn nhiều so với những năm 1980 (4% / năm). Hãy còn quá sớm để nói rằng Nhật Bản sẽ không thực hiện sự chuyển đổi cần thiết nhưng không quá sớm để nói rằng Nhật Bản đang phấn đấu.

Những thay đổi lớn lao nhất của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 rất có thể xảy ra trong ngành bán lẻ. Cũng như cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã chấm dứt 8.000 năm con người lệ thuộc vào nông nghiệp, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 có thể chấm dứt 5.000 năm thói quen mua sắm mọi thứ cần thiết cho cuộc sống ở cửa hàng gần nhà. Nếu vấn đề là mua hàng tốt và rẻ thì mua sắm điện tử sẽ rẻ hơn mua sắm theo kiểu cũ vì không cần địa điểm đắt tiền, cơ ngơi đồ sộ, giữ lượng hàng tồn kho lớn hay cần rất nhiều nhân viên để phục vụ khách hàng.

Công nghệ mới này cho phép các công ty rất nhỏ có thể cạnh tranh với Wal-Mart – Công ty bán lẻ lớn nhất Hoa Kỳ. Theo cách bán lẻ truyền thống, không ai có thể qua mặt Wal-Mart. Nhưng Wal-Mart đã đầu tư quá nhiều vào công nghệ cũ (đất, cửa hàng, và con người) để chuyển sang phương thức mới. Những khách hàng hiện có của Wal-Mart sẽ là những người đầu tiên chuyển sang cửa hàng điện tử mới, rẻ hơn của Wal-Mart. Tệ hại nhất là khách hàng của Wal-Mart có thể vẫn quyết định đến các cửa hàng cũ để chọn lựa những gì họ cần (do đó vẫn phải giữ cơ cấu phí tổn cũ) nhưng sẽ mua những gì họ đã chọn qua cửa hàng điện tử mới, rẻ hơn (buộc phải tăng thêm phí tổn). Wal-Mart sẽ đóng cửa hàng nghìn cửa hàng, phải gánh chịu hàng tỷ đô la liên quan đến phí tổn đóng cửa. Chế độ thưởng quản lý gắn liền với lợi nhuận sẽ biến mất hàng thập kỷ hay lâu hơn nữa. Nếu Wal-Mart nhanh chóng chuyển sang công nghệ mới, chính họ sẽ xua đuổi khách hàng của họ nhanh hơn bất kỳ tổ chức bán lẻ nào ngoài hệ thống của họ có thể làm được. Trong ngắn hạn và trung hạn, họ sẽ kiếm được nhiều tiền hơn bằng cách giữ công nghệ cũ.

Với cách nhận định như trên, gần đây Wal-Mart đã mở cửa hàng điện tử nhưng rất cẩn thận ghi giá có phần cao hơn các cửa hàng thường. Mặc dù điểm lợi của việc bán lẻ điện tử là phí tổn sẽ thấp hơn và giá có thể sẽ rẻ hơn đáng kể.

Gần đây, tôi nhận được một phúc trình tư vấn tiên đoán là 50% cửa hàng bán lẻ tại Hoa Kỳ sẽ đóng cửa vào năm 2010. Điều này có vẻ quá nhanh đối với tôi nhưng chắc chắn là bản phúc trình đã chỉ đúng hướng. Loại cửa hàng nào sẽ đóng cửa và nhanh chậm thế nào lệ thuộc nhiều vào xã hội học hơn là công nghệ. Con người là một quần thể và thích làm những việc theo số đông. “Thú vui” mua sắm vẫn có thể cạnh tranh với mua sắm điện tử đối với một số mặt hàng nhưng chưa ai xác định được mặt hàng nào. Khách hàng nào chấp nhận mua với giá cao hơn nếu mua sắm trong điều kiện kết hợp với thú vui và khách hàng nào chỉ muốn mua với giá thấp nhất? Ai nhìn thấy trước sự chọn lựa này sẽ làm giàu.

Mua sắm điện tử chỉ là sự thay đổi sâu sắc do cuộc cách mạng liên lạc điện tử mang lại. Toàn cầu hóa sẽ buộc các nhà kinh doanh phải đi lại nhiều hơn nhưng hội nghị bằng phương tiện truyền hình lại làm cho họ không cần phải di chuyển. Ảnh hưởng nào sẽ khống chế? Thế giới này cần nhiều khách sạn, sân bay, hãng hàng không và tắc xi hơn hay ít hơn? Trong tư thế một nhà đầu tư, bạn chọn lựa thế nào?

Với báo cáo điện tử cho cấp lãnh đạo, việc phân cấp quản lý, nơi làm việc của lãnh đạo cũng như nhu cầu truyền thống về văn phòng trung tâm đều thay đổi. Công nhân cổ trắng có thể làm việc với máy tính tại nhà nhưng điều này sẽ làm giảm đến mức nào nhu cầu về văn phòng, giảm tiền thuê và làm giảm thu nhập của những người làm chủ các tòa nhà văn phòng? Ở đây cũng thế, xã hội học hơn là công nghệ sẽ quyết định.

Khi nói rằng người ta có thể làm việc tại nhà không có nghĩa là ai cũng muốn làm việc tại nhà. Làm việc tại nhà một mình cảm thấy cô đơn – “hoàn toàn cô lập” theo lời của những người đang làm việc tại nhà không còn cơ hội để trò chuyện với người cùng làm việc chung quanh. Con người không phải là người sống ẩn dật. Họ thích cùng làm việc vì ở đó mới có bạn bè. Đi đến nơi làm việc xây dựng sự ràng buộc, làm tăng lòng trung thành đối với tổ chức trong khi đó liên lạc điện tử không có. Sự nghi ngờ những người liên lạc từ xa có thể không làm việc cho nên các ông chủ sử dụng hệ thống theo dõi điện tử không khác gì hệ thống điện tử dùng theo dõi can phạm được tại ngoại hay bị hạn chế không được rời nơi cư trú. Anh Cả đang theo dõi. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy năng suất giảm nếu công nhân liên lạc bằng điện tử nhiều hơn 1 hoặc 2 ngày mỗi tuần nhưng công ty tiết kiệm được tiền do không lo văn phòng cho họ.

Dầu mỏ là thí dụ điển hình do ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 đối với một ngành công nghiệp cũ. Từng là một ngành công nghiệp dựa vào may rủi và cơ bắp (xem phim Giant do James Dean đóng) đã biến thành một ngành công nghiệp lệ thuộc vào năng lực trí tuệ. Các siêu máy tính cho phép tạo âm thanh 3 và hiện nay là 4 chiều. Khả năng tìm được các mỏ dầu mới tăng gấp 10 lần; tỷ lệ khai thác tăng gấp 2 lần. Khả năng khoan dò tìm ở độ sâu 2 dặm, Na Uy đã trở thành nước xuất khẩu dầu đứng hàng thứ 2 thế giới thay vì cạn kiệt theo dự đoán 2 thập kỷ trước. Trên các dàn khoan nằm ngoài khơi, những công nhân tạp vụ không biết chữ nhưng được hưởng lương cao được thay thế bởi các công nhân có kiến thức hưởng lương cao. Ngành này vẫn tiếp tục sản xuất dầu nhưng với phương thức hoàn toàn khác cho nên có thể được xem như ngành công nghiệp tri thức mới. Nhờ các công nghệ mới này người ta có thể mở rộng nguồn cung ứng nhanh hơn nhu cầu và giá thực tế đã xuống mức thấp nhất chưa từng có trong lịch sử loài người.

Hãy xem xét một ngành kinh doanh khác – hoa. Với công nghệ điện tử hiện nay, ngành kinh doanh hoa cắt cành không còn nằm trong tay của người trồng hay người bán nữa. Nó nằm trong tay của người Hà Lan vì họ xây dựng được hệ thống hậu cần toàn cầu để trồng hoa ở bất cứ nơi đâu có chi phí thấp nhất và bán ở nơi có giá cao nhất. Nhiều người có thể trồng hoa. Nhiều người có thể bán hoa. Nhưng chỉ có người Hà Lan là có thể giao một hoa loa kèn Phục Sinh trồng tại Colombia cho một khách hàng tại Maine và đảm bảo là hoa sẽ nở vào ngày Phục Sinh. Chính vì khả năng này mà người Hà Lan kiếm ra tiền nhiều nhất trong ngành kinh doanh hoa.

Tương tự, một người bán áo quần ngoài trời ở vùng nông thôn Maine, J.J. Bean, có thể bán hàng trăm triệu đô la áo quần cho Nhật Bản mà không cần có cửa hàng tại Nhật. Bán hàng qua mạng Internet, bằng fax, qua điện thoại và catalô cho phép vượt qua các cản ngại (luật pháp cấm không cho mở các cửa hàng lớn, khó tìm vị trí bán lẻ tốt) làm cho các nhà bán lẻ bình thường ở nước ngoài không thể thâm nhập thị trường Nhật Bản trước đây.

Cũng như sự chuyển đổi từ kinh tế địa phương sang kinh tế quốc gia cho phép xuất hiện nhiều doanh nghiệp quốc gia to lớn, ngày nay sự chuyển đổi từ kinh tế quốc gia sang kinh tế toàn cầu cho phép xuất hiện nhiều doanh nghiệp toàn cầu mới còn to lớn hơn. “Intel Inside” được tìm thấy khắp thế giới. Hầu hết các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ có trên 50% doanh số bán từ bên ngoài Hoa Kỳ. Nguồn cung ứng toàn cầu, sản xuất toàn cầu và bán toàn cầu là sự kết hợp cả một chuỗi cung cấp không có sự ngăn cách. Khi doanh nghiệp chưa phải thuộc loại toàn cầu thì sự sáp nhập sẽ biến chúng trở thành toàn cầu. Mercedes kết hợp với Chrysler; Ford mua lại Mazda và Jaguar; BMW mua Rover và Rolls Royce; Volkswagen mua Bentley và General Motors mua Saab.

Mercedes mua lại Chrysler là một thí dụ điển hình cho cơ hội và khó khăn. Nếu cả hai có thể kết hợp với nhau tốt thì sự công bố sáp nhập sẽ tạo ra một công ty mới hoàn toàn, không phải Đức mà cũng không phải Mỹ. Nó sẽ là một công ty toàn cầu, trong đó cả hai phía đều có thể học hỏi lẫn nhau. Một bên sản xuất xe cho thị trường đại chúng; một bên sản xuất xe cho thị trường cao cấp. Một bên rất mạnh về xe tải nhỏ; bên kia lại mạnh về xe tải hạng nặng. Một bên có chu kỳ phát triển nhanh; bên kia có chu kỳ phát triển chậm. Một bên được chú ý với các thiết kế sáng tạo; bên kia thiết kế không bao giờ thay đổi. Một bên gặp trục trặc về chất lượng; bên kia được chú ý vì chất lượng cao. Một bên có giá thành sản xuất thấp; bên kia có giá thành sản xuất cao. Một bên chỉ bán nội địa nhưng nguồn cung ứng nguyên liệu một phần toàn cầu; bên kia bán sản phẩm trên khắp thế giới nhưng một phần nguồn nguyên liệu do trong nước cung ứng. Công tác nghiên cứu song trùng về tế bào năng lượng và hệ thống chống tai nạn có thể được loại bỏ và công ty có thể dễ dàng sử dụng các nghiên cứu cơ bản ở cả hai nước Đức và Hoa Kỳ. Sự sụt giảm trong doanh số bán rất hiếm xảy ra cùng lúc trên các thị trường kết hợp. Khi châu Âu giảm, Hoa Kỳ sẽ tăng.

Nếu vấn đề con người có thể giải quyết được do sự kết hợp hai nền văn hóa khác nhau, ai đó sẽ làm giàu từ sự kết hợp đó. Nhưng những vấn đề về con người lại rất lớn và có thể không giải quyết nổi. Họ sử dụng thang lương của Hoa Kỳ hay của Đức? Tổng Giám đốc Chrysler lãnh 18 triệu đô la một năm; Tổng Giám đốc Mercedes lãnh 2 triệu. Chi tiết sử dụng lực lượng kỹ thuật của doanh nghiệp Đức và Hoa Kỳ rất khác nhau. Công đoàn Mỹ có được cùng quyết định tại Hoa Kỳ như công đoàn tại Đức?

Như đã nói trước đây, với nền kinh tế toàn cầu hóa, các chính phủ quốc gia đã mất đi nhiều khả năng để kiểm soát nền kinh tế của họ. Hãy nhìn qua thị trường đầu tiên chịu ảnh hưởng của toàn cầu hóa – tài chính. Sự giàu có về tài chính có thể dễ dàng nằm bên ngoài sự chi phối của một chính phủ. Chính khả năng này đã biến quần đảo Cayman trở thành trung tâm ngân hàng đứng hàng thứ 5 thế giới. Bất kể vị trí địa lý ở đâu, hiện nay ai cũng có thể vay trên thị trường tài chính toàn cầu. Cầm cố nhà tại Hoa Kỳ cùng gộp chung với các loại cầm cố khác, được bảo đảm và bán trên thị trường tài chính – có thể là cho một công ty bảo hiểm Nhật Bản. Các ngân hàng địa phương chỉ quản lý chứng từ. Người vay chẳng biết ai là người cung ứng vốn. Người cho vay cũng chẳng bao giờ nhìn thấy tài sản mà mình tài trợ.

Với việc thông qua luật pháp nhằm tách rời và kiểm soát thị trường tài chính quốc gia để ngăn chặn các hoạt động đầu cơ quốc tế, Thủ tướng Malaysia đã chứng minh một kinh nghiệm lý thú về sự suy giảm quyền lực quốc gia. Ông ta có thành công hay không trong việc cắt giảm các hoạt động đầu cơ quốc tế. Ông ta có thể thật sự ngăn cản các nhà tài phiệt quốc tế đưa tiền ra nước ngoài mà không cần phải chờ 2 năm? Hay là thị trường tài chính toàn cầu tách Malaysia ra khỏi nguồn vốn và công nghệ cần thiết cho sự phát triển đất nước? Trung Quốc lục địa chưa bao giờ cho phép tự do chu chuyển tiền tệ nhưng vào năm 1998, Trung Quốc đã mất đi trên 60 tỷ đô la dự trữ. Các nhà xuất khẩu không mang ngoại tệ về nước. Thật sự, Trung Quốc không thể đóng cửa. Một người kinh doanh tiền tệ sẽ chọn thị trường toàn cầu hơn là Malaysia. Nếu chúng ta chấp nhận một định nghĩa rộng hơn về văn hóa (tất cả các hoạt động hưởng nhàn), văn hóa là nền công nghiệp lớn nhất thế giới. Người ta trở thành tỷ phú bằng cách tổ chức các chuyến du lịch bằng tàu biển hay quay phim truyện. Một đội bóng, Manchester United, đã bán được trên 1 tỷ đô la. Thế giới văn hóa là một xã hội trong đó người thắng cuộc được tất cả, nơi mà người giỏi nhất được trả thù lao để biểu diễn cho tất cả mọi người (Pavarotti trên các đĩa nhạc, Michael Jordan trên sàn đấu bóng rổ) và người đứng thứ 2 hay thứ 3 không còn giá trị thị trường.

Văn hóa là những gì thế hệ trước dạy lại thế hệ sau các truyền thống của xã hội. Văn hóa ngày nay bỏ qua thế hệ cũ và nhảy ngay đến thế hệ trẻ. Người nước ngoài cho đây là một sự xâm nhập nguy hiểm của văn hóa Mỹ nhưng mặc dù phần lớn văn hóa này được sản xuất tại Hoa Kỳ (gần đây 5 phim hàng đầu chiếu tại Pháp là của Hoa Kỳ), cái đang được xuất khẩu không phải là giá trị truyền thống của Hoa Kỳ. Người Mỹ cũng như những người không phải người Mỹ nhận thấy sự thay đổi này là cả một sự đe dọa cho nền văn hóa truyền thống. Đặc tính khác biệt của nền văn hóa mới này là thế hệ trẻ sẵn sàng trả giá để mua. Nếu một khía cạnh nào đó không thể bán được, các phương tiện truyền thông điện tử không quan tâm và cho dù khía cạnh đó có một giá trị nội tại, nó sẽ không thể chuyển cho thế hệ kế tiếp.

Chính phủ có thể thông qua những luật lệ về phim ảnh khiêu dâm nhưng với thông tin toàn cầu, chính phủ đó không thể áp dụng luật được. Hình ảnh khiêu dâm được đưa lên mạng từ một nơi nào đó trên thế giới không bị cấm đoán – hay thậm chí không được xem như khiêu dâm. Trong vùng Vịnh Ba Tư một phụ nữ để cánh tay trần được xem là khiêu dâm. Hoa Kỳ có chấp nhận cho các doanh nghiệp của mình bị truy tố do sử dụng các loại hình ảnh này trong quảng cáo? Tất nhiên là không. Tương tự, cái gì Hoa Kỳ cho là khiêu dâm có thể không được xem như vậy tại Phần Lan. Ai có thể tin rằng chỉ một thời gian ngắn trước đây thôi, 50% phim trong các khách sạn tại Hoa Kỳ là phim khiêu dâm – phim ảnh khiêu dâm sẽ là nguồn lợi chính của các khách sạn?

Với khả năng giáo dục chất lượng cao qua hệ thống điện tử, thay đổi giáo dục (cơ hội, đe dọa) đang ở phía trước. Không trường đại học nào có thể qua mặt Harvard trong đào tạo cao cấp truyền thống, nhưng họ có thể bị đánh bại trong đào tạo điện tử từ xa chất lượng cao. Lãnh đạo giáo dục trong thế kỷ thứ 21 đang diễn biến.

Doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận hơn là các trường đại học không nhằm tạo lợi nhuận sẽ chiếm vị trí của định chế giáo dục hàng đầu trong tương lai. Giáo dục điện tử cần phải đầu tư trước rất nhiều cho nên chỉ có một số trường cao đẳng hay đại học có thể chịu được – hãy nghĩ đến phí tổn sản xuất phim Sesame Street so với phí tổn của một trường mẫu giáo – và ngay cả khi họ có thể chịu đựng được, rất có thể họ sẽ không chịu thay đổi cách sản xuất truyền thống. Trong khi đó, những gì mà Công ty thang máy Otis học được từ lực lượng bảo trì toàn cầu của họ, họ có thể sử dụng trong các hình thức giáo dục vì lợi nhuận khác. Có thể các định chế giáo dục vì lợi nhuận sẽ không giết chết các định chế giáo dục không vì lợi nhuận, nhưng cũng có thể như thế – và rất nhanh chóng. Hãy nghĩ đến những thay đổi nhanh chóng trong việc chăm sóc sức khỏe. Một công nghiệp khống chế bởi các bệnh viện không cần lợi nhuận trong suốt một thế kỷ đã biến thành một công nghiệp vì lợi nhuận trong vòng 10 năm nay.

Qui luật thứ 2Các doanh nghiệp thành công phải sẵn sàng tự hủy để tự cứu. Chúng phải sẵn sàng phá hủy cái cũ trong khi đang thành công nếu muốn xây dựng cái mới trước khi thành công. Nếu chúng không biết tự hủy, người khác cũng sẽ tiêu diệt chúng.

Chính phủ dân cử (chọn lọc từ quan điểm của cử tri qua các dân biểu và thượng nghị sĩ) đã được phát minh ra để bù lại sự chậm chạp của hệ thống vận chuyển và liên lạc của thời hậu thuộc địa Hoa Kỳ. Với công nghệ hiện đại cho phép mọi người có thể bỏ phiếu điện tử trực tiếp cho mọi vấn đề, tại sao chúng ta lại cần chính phủ dân cử? Có thể chúng ta không cần và nó cũng sẽ biến mất. Một cuộc họp thành phố New England tương đương cấp quốc gia có thể thay thế cho Quốc hội Hoa Kỳ.

Hãy xem xét tính chất của chiến tranh. Một siêu cường (một quốc gia có đủ vũ khí nguyên tử và hệ thống phóng đi để tiêu diệt cả thế giới) được thay thế bởi một siêu siêu cường. Một siêu siêu cường có thể sử dụng các vệ tinh và các công nghệ khác để nghe và nhìn thấy tất cả mọi thứ và thông tin trực tiếp cho lực lượng của mình. Siêu siêu cường còn có thể ngăn chặn các nước khác trong quan sát, nghe ngóng hay liên lạc để biến các đơn vị quân đội của các nước này trở thành mù, câm và điếc. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh có 2 siêu cường – Hoa Kỳ và Liên bang Xô Viết. Hiện nay chỉ có một siêu siêu cường – Hoa Kỳ.

Những tử vong quân sự được đưa lên truyền hình không tương ứng với những cái chết do báo chí đăng tải. Cử tri quan tâm đến loại thứ nhất hơn là thứ hai. Tại Somalia, chỉ một vài lãnh chúa hiếu chiến và một số tử vong ít ỏi (18) cũng đủ để xua đuổi một siêu siêu cường – mặc dù siêu siêu cường này có một quân đội chuyên nghiệp gồm những người tình nguyện muốn đánh giặc và nhận thức được rủi ro. Không phải chỉ có Hoa Kỳ. Tỷ lệ tử vong thường được chấp nhận không còn được chấp nhận nữa tại cả Nga hay Israel.

Chỉ có một mình Peter Arnett tại Baghdad trong thời gian chiến tranh vùng Vịnh. Nhưng với hệ thống thông tin liên lạc lúc đó tốn đến 500.000 đô la thì nay chỉ còn dưới 5.000 đô la (dưới 3.000 đô la nếu không cần pin mặt trời để cung cấp điện). Trong một cuộc chiến sắp tới giống như cuộc chiến vùng Vịnh, sẽ có hàng nghìn phóng viên ngay tại thành phố đang bị oanh kích. Phóng viên sẽ chịu cảnh bom đạn. Công chúng sẽ được xem truyền hình trực tiếp cuộc đổ bộ vào bãi biển Omaha để giải cứu binh nhì Ryan.

Một số người sẽ ghét, một số khác sẽ thích nhưng công nghệ sinh học sẽ đưa đến việc cây cối, súc vật và con người có phần nào đó nhân tạo. Qui trình sẽ bắt đầu với việc chữa trị các căn bệnh về gien và tiếp nối với việc tạo ra con người to hơn, thông minh hơn, và đẹp hơn. Tạo những chú lùn bằng gien có độ cao bình thường cũng chẳng khác gì biến các trẻ em bình thường trở thành đấu thủ bóng rổ. Giả sử cha mẹ muốn cho con cái mình được thêm 30 điểm trong hệ số thông minh. Bạn có muốn không? Nếu bạn không muốn và những người láng giềng của bạn lại muốn, thì con của bạn sẽ là đứa bé ngu đần nhất trong xóm. Vi sinh học là một trong các công nghệ làm cho thế giới này rất khác biệt – và trong quá trình đó tạo ra nhiều tỷ phú.

Cũng như trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 một trăm năm trước, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 đang tạo cơ hội cho sự xuất hiện giàu sang lớn. Công nghệ mới có nghĩa là thay đổi. Thay đổi có nghĩa là mất cân đối. Mất cân đối đem lại lợi nhuận cao, cơ hội tăng trưởng cao. Những người chiến thắng nắm được công nghệ mới, và may mắn đến đúng chỗ vào đúng thời điểm, và có đủ sự khôn khéo để lợi dụng tình hình mới này. Họ trở nên giàu có.

Tình trạng mất cân đối thường tùy thuộc vào những biến đổi căn bản trong công nghệ, nhưng đôi khi các nhà kinh doanh có thể tạo ra tình trạng mất cân đối lợi dụng thời cơ về mặt xã hội để thay đổi thói quen của con người. Starbucks đã thuyết phục người Mỹ thay thế một cốc cà phê 50 xu mua ở nhà hàng ăn bằng cốc cà phê giá 2,50 đô la mua tại quán cà phê. Họ đã biến một sản phẩm rất cạnh tranh có rất nhiều điểm phân phối nhưng lãi ít thành một sản phẩm khác biệt không bị cạnh tranh và nhanh chóng tạo ra một ngành công nghiệp có tỷ lệ lợi nhuận cao, có thể xuất hiện tỷ phú.

Những người thành lập các công ty vận tải hành khách bằng đường biển đã biết lợi dụng sự thay đổi về mặt xã hội trong nhân khẩu học (dân số học). Họ nhận thấy rằng sức mua tương đối của người cao tuổi đã tăng gấp đôi trong vòng 25 năm qua. Những người trên 70 tuổi, 20 năm trước có thu nhập thấp hơn thu nhập của những người ở độ tuổi 30 đến 40% đột nhiên có thu nhập bằng tiền cao hơn thu nhập của những người ở độ tuổi 30 đến 20%. Các chuyến du hành trên biển, một công nghệ có từ thời Cleopatra, là những ngày nghỉ tuyệt vời cho người cao tuổi. Chúng tôi đưa các người đi; các người không cần phải di chuyển. Các hãng tàu trở thành tỷ phú.

Trong cả hai trường hợp, các nhà kinh doanh đã tạo ra cái có thể gọi là mất cân đối xã hội, tương phản với mất cân đối về công nghệ.

Vấn đề ở đây là sự giàu có tạo ra từ sự mất cân đối về mặt xã hội thường phản ảnh sự chuyển dịch của cải sẵn có hơn là tạo ra của cải mới. Những người bán cà phê truyền thống bán ít cà phê đi và các nhà hàng mất thu nhập trong khi 2 đô la chi thêm cho mỗi cốc cà phê Starbucks được lấy đi từ doanh số của ai đó trong nền kinh tế.

Một hình thức mất cân đối khác có thể được gọi là quá trình phát triển. Cơ hội này phát sinh từ sự chênh lệch về thu nhập ở các nước và các nhà kinh doanh có thể lặp lại hoạt động ở các nước đã phát triển tại các nước kém phát triển.

Biên giới Hồng Kông và Trung Quốc là một điển hình. Khoảng một năm trước khi Hồng Kông được giao lại cho Trung Quốc, tôi ngồi trong một phòng chờ tại sân bay Hồng Kông nghe lỏm cuộc trò chuyện của hai thương nhân giàu có Hồng Kông đang trên đường sang Vancouver ở 6 tháng để lấy hộ chiếu Canada – một sự đảm bảo nếu có điều gì không hay xảy ra cho Hồng Kông. Họ than phiền là phải ở Vancouver đến 6 tháng vì họ không thấy khả năng sử dụng thời gian để kiếm tiền. Theo sự mô tả của họ, Vancouver là một sa mạc kinh tế. Tại sao? Vì Vancouver giàu hơn Hồng Kông.

Câu trả lời là do không có sự mất cân đối phát triển tại Canada. Tại Hồng Kông, hai thương nhân này trở nên giàu có bằng cách lợi dụng sự chênh lệch giữa thế giới phát triển và người nghèo trong môi trường Trung Quốc vừa mở cửa. Họ chỉ làm theo những gì đã làm trong thế giới phát triển và lặp lại tại Trung Quốc. Hoạt động sản xuất với tỷ lệ lợi nhuận thấp và triển vọng tăng trưởng thấp ở thế giới đã phát triển đã trở thành lợi nhuận cao và cơ hội tăng trưởng cao tại Trung Quốc. Sự khôn khéo trong kinh doanh của họ là bắt chước tốt và nắm bắt đúng thời điểm chín muồi cho một hoạt động nào đó tại Trung Quốc.

Tại Vancouver không có những cơ hội tương tự cho hai thương nhân này. Tất cả các hoạt động bình thường trong thế giới phát triển ở đây đã có đầy đủ. Để làm giàu tại Vancouver, người ta cần có đột phá mới về công nghệ hay những khái niệm mới về xã hội. Hai thương nhân giàu có của Trung Quốc này không có bất kỳ điều kiện nào vừa nói trên. Đối với họ, Vancouver thật sự là một sa mạc kinh tế.

Nhưng mất cân đối phát triển không phải nơi nào cũng có trong thế giới đang phát triển. Nếu châu Phi bắt đầu phát triển, tất nhiên người châu Phi sẽ cần hàng hóa và dịch vụ hiện đang cung ứng trong thế giới phát triển; thị trường mới đối với những gì thế giới phát triển cho là cũ sẽ bộc phát tại châu Phi; và những nhà kinh doanh châu Phi sẽ trở nên giàu có. Nhưng châu Phi thì chưa giàu lên. Tổng sản phẩm nội địa tính theo đầu người vẫn thấp hơn mức năm 1965. Trừ khi thu nhập bắt đầu tăng, sẽ không có cơ hội để lặp lại những hoạt động thông thường trong thế giới phát triển. Những nhà kinh doanh khôn khéo dựa trên sự chênh lệch giữa Hồng Kông và Trung Quốc không thể hoạt động tại châu Phi. Điều kiện chưa phù hợp. Cũng như Vancouver, châu Phi là một sa mạc kinh tế.

Ở châu Á, người ta có thể làm giàu nếu có đủ khéo léo lặp lại và am hiểu khi nào điều kiện và thời điểm thích hợp (trình độ giáo dục, thu nhập, hạ tầng cơ sở hỗ trợ, chính phủ thích hợp) để đưa các hoạt động bình thường tại thế giới phát triển đến những nơi mà trước đây chưa có. Tất nhiên đây là lý do tại sao sự bùng nổ tỷ phú tại Hoa Kỳ được đối ứng bởi sự bùng nổ tại châu Á cho đến khi những nhà tỷ phú này bị phá sản do sự sụp đổ tài chính tại châu Á. Các tỷ phú châu Á đã lợi dụng sự mất cân đối phát triển. Với sự sụp đổ, số 41 tỷ phú ở Nhật Bản chỉ còn có 9 theo số thống kê mới nhất.

Nhưng khi nói đến sự sản sinh ra tỷ phú, bí mật không phải ở châu Mỹ, châu Á hay châu Phi. Bí mật nằm ở châu Âu. Tại sao người châu Âu không thể khai thác cơ hội mất cân đối phát triển giữa Tây Âu và Đông Âu theo kiểu châu Á hay cơ hội mất cân đối công nghệ do phát sinh công nghệ mới theo kiểu Mỹ? Tại sao họ không sáng tạo ra sự mất cân đối xã hội mới? Không có tỷ phú châu Âu là một bí mật sẽ được giải đáp sau trong quyển sách này.

Qui luật thứ 3: Doanh nghiệp muốn phát triển nhanh với lợi nhuận cao phải biết lợi dụng sự mất cân đối về công nghệ, khai thác mất cân đối và phát triển, hay tạo mất cân đối về xã hội. Tất cả các hoạt động khác đều đem lại tăng trưởng chậm và tỷ lệ lợi nhuận thấp.

Thời kỳ tệ hại nhất

Trong khi các tỷ phú và sự giàu có chi phối các tin hàng đầu trên báo, còn có một cách khác để nhận định cách làm giàu có thể đem lại những thông tin hàng đầu rất khác biệt nếu có ai đó quan tâm. Giàu có thật sự là khả năng tạo ra của cải nhiều hơn với ít công sức hơn – tạo ra sản phẩm và dịch vụ mà không cần hy sinh cái gì đó có giá trị tương đương. Của cải thực tế một cá nhân hy sinh thời gian nhàn rỗi của mình để lao động và tạo ra một nguồn thu nhập sẽ không được đo bằng giá trị tư bản hóa của thu nhập thu được. Giá trị của thời gian hy sinh thêm phải được trừ đi từ của cải tạo ra để xác định xem có sự gia tăng của cải thực tế hay không. Thí dụ, Hoa Kỳ đứng đầu về tổng sản phẩm nội địa tính theo đầu người nhưng lại đứng hàng thứ 9 nếu tính theo tổng sản phẩm theo giờ công lao động. Người Mỹ có nhiều tiền hơn vì họ có ít thì giờ nhàn nhã hơn.

Tính tổng sản phẩm nội địa theo giờ thay vì theo đầu người đưa Nhật Bản từ vị trí thứ 3 xuống thứ 18 thế giới. Ngược lại, Bỉ sẽ từ vị trí thứ 10 tính tổng sản phẩm quốc nội theo đầu người lên hạng nhất khi tính theo giờ lao động.

Nếu thời gian nhàn nhã hy sinh có giá trị cao hơn sản phẩm mới tạo ra, cá nhân đó nghèo hơn mặc dù tạo ra của cải thị trường nhiều hơn. Sự giàu có thực tế không phải được tạo ra bằng cách lấy đi thời gian thực hiện hoạt động khác và tập trung cho các hoạt động tạo ra tiền. Sự giàu có thực tế chỉ được tạo ra bằng cách gia tăng năng suất lao động theo cách nói của các nhà kinh tế: cùng một thời gian lao động tạo ra nhiều thu nhập hơn (và do đó giàu hơn) trước đây.

Nhưng điều này cũng đúng đối với sự giàu có tạo ra bởi đầu tư vào nhà máy và thiết bị. Nếu hy sinh tiêu dùng để đầu tư, phần này phải được trừ đi từ nguồn thu nhập do đầu tư mới đem lại. Hàng hóa tiêu dùng bị mất đi là phần phải trừ đi từ của cải thực tế. Ở đây cũng thế, của cải thực tế sau cùng không do việc tiết kiệm tiêu dùng và đưa vào đầu tư. Của cải tăng thêm là do năng suất của đồng vốn – tạo thêm của cải với cùng một số vốn hay sử dụng ít vốn hơn nhưng vẫn đạt của cải ở mức cũ.

Khi cả thời gian và vốn đều được xem xét, các nhà kinh tế gọi là tổng năng suất của yếu tố (sản xuất). Sử dụng ít thời gian và vốn hơn nhưng vẫn đạt mức thu nhập cũ. Hay mức hy sinh vẫn như cũ nhưng đạt mức thu nhập mới cao hơn. Nói một cách đơn giản, xã hội giàu hơn là xã hội có tổng năng suất của các yếu tố cao hơn.

Tương tự, làm giàu tính theo thời giá bằng cách khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên hay làm ô nhiễm môi trường không tạo ra của cải thực. Của cải thực phát sinh từ sự nâng cao tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Sản phẩm làm ra có sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên không? Sản phẩm làm ra và sử dụng không gây tác hại đến môi trường? Nếu được như thế thì năng suất của tài nguyên thiên nhiên và môi trường của nền kinh tế đã tăng và của cải thực đã được tạo ra. Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường thường không được tính vào tổng năng suất các yếu tố vì khó khăn về mặt kỹ thuật trong đo lường nhưng đúng ra cần phải luôn luôn tính vào.

Năng suất là kho tàng thực có thể tìm thấy trong kim tự tháp giàu có. Không tăng năng suất, bên ngoài của kim tự tháp chỉ là một bề mặt uy nghi. Gia tăng năng suất quyết định tổng sản lượng có thể phân chia. Một cái bánh kinh tế to dần nhưng chậm có thể tái phân chia để tạo sự giàu có cho những người nằm ở đỉnh. Nhưng một cái bánh kinh tế to lên nhanh chóng có thể tạo ra xã hội giàu có trong đó mọi người đều tham gia vào việc tạo ra sự giàu có. Lương của số đông nằm ở đáy không thể tăng nếu năng suất không tăng mạnh mẽ.

Điều bí ẩn chủ yếu nằm ở đây. Không ai phủ nhận là trong thập kỷ vừa qua của cải tính theo thời giá được sản xuất nhiều hơn và đem lại sự giàu có to lớn hơn bất kỳ thập kỷ nào khác trong lịch sử Hoa Kỳ. Bề mặt của kim tự tháp nguy nga nhất mà loài người chưa từng thấy. Nhưng khi khám phá bên trong của kim tự tháp, thập kỷ vừa qua là thập kỷ tệ hại nhất về mặt tăng năng suất trong lịch sử Hoa Kỳ. Năng suất lao động chỉ tăng 1,1% / năm, chỉ bằng 1/3 mức gia tăng trong thập kỷ 1960 (3,2%). Mặc dù có sự gia tăng đôi chút từ năm 1996 đến 1998, đây là thành tích kém nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngay cả trong thời kỳ đại khủng hoảng, từ 1929 đến 1939, năng suất cũng tăng 1,6% / năm. Tính trên bình diện năng suất lao động, việc tạo ra của cải nằm dưới mức bình thường rất xa. Thay đổi công nghệ tưởng là nhanh nhưng thực sự là chậm.

Trong suốt 10 năm qua, tổng năng suất của các yếu tố không tăng gì cả. Tính trên bình diện tổng năng suất các yếu tố, thập kỷ vừa qua không tạo ra của cải thực. Bên trong kim tự tháp trống rỗng. Sự sáng chói bên ngoài là giả tạo. Không có kho tàng thực để tìm kiếm.

Bối cảnh nào thực sự thay đổi công nghệ nhanh chóng mà chúng ta cảm nhận, trông thấy và ngửi được hay sự tăng trưởng năng suất chậm chạp mà chúng ta đo lường?

Sự chênh lệch giữa cảm nhận và đo lường đã đưa những người theo cảm nhận cho rằng có điều gì đó không ổn trong số thống kê về năng suất. Đối với những người theo lý trí, họ muốn thấy bằng chứng là những cải thiện về năng suất không đo lường được có thể đủ lớn để loại bỏ nghịch lý giữa cái chúng ta thấy và cái chúng ta đo lường. Đến nay chưa ai có thể cung cấp cho họ bằng chứng mà họ mong muốn.

Những người tin vào mức tăng năng suất không đo lường được cho rằng nếu lạm phát được ước tính quá cao theo ủy ban của chính phủ (Ủy ban Boskin) và tranh luận của Chủ tịch Hội đồng Dự trữ Liên bang Greenspan thì sản lượng thực bị đánh giá thấp vì đã tính giảm phát quá mức và mức tăng trưởng năng suất thực cao hơn mức báo cáo.

Sự tranh cãi này gặp 2 vấn đề. Cho dù lạm phát được dự kiến cao hơn 1% và do đó cho sản lượng thấp hơn, điều này chỉ giải thích được một nửa của mức giảm năng suất 2%. Điều gì sẽ giải thích cho một nửa kia? Và sự tranh cãi sẽ không giải quyết được vấn đề trừ khi người ta lập luận rằng lạm phát được ước tính quá cao trong thập kỷ 1990 nhưng không quá cao trong thập kỷ 1960. Không ai, kể cả các thành viên trong Ủy ban Boskin, sẵn sàng chấp nhận lập luận này. Đơn giản là không có lý do nào để tin tưởng như thế.

Cũng có lập luận trái ngược. Mức tăng năng suất có thể còn tệ hại hơn các con số chính thức cho thấy. Những cuộc điều tra riêng cho thấy là công nhân làm việc nhiều giờ trong tuần hơn là số thống kê chính thức. Sử dụng ước tính làm việc nhiều giờ hơn sẽ cho mức tăng trưởng năng suất lao động bằng không và do đó mức tăng trưởng của tổng năng suất của các yếu tố sẽ là số âm.

Số khác cho rằng các cải thiện chất lượng trong ngành dịch vụ chưa được đo lường đầy đủ. Thủ tục thống kê ở Hoa Kỳ được hình thành khi dịch vụ còn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng sản lượng, không phải chiếm đến 70% như hiện nay, và các cố gắng đo lường những cải tiến chất lượng chủ yếu tập trung vào khu vực hàng hóa.

Hầu như thống kê về tăng năng suất cho rằng không có việc tăng năng suất trong ngành dịch vụ. Nhưng rõ ràng là có. Thí dụ lợi ích từ việc có thể rút tiền qua máy tự động 24 giờ mỗi ngày, 365 ngày mỗi năm đã không được tính vào thống kê năng suất như là một cải thiện về chất lượng.

Nhưng những đo lường tốt hơn trong ngành dịch vụ cũng có thể cho thấy rất nhiều tăng trưởng năng suất âm. Trong hai thập kỷ qua, cuộc sống được kéo dài thêm 4% tại Hoa Kỳ nhưng mức chi cho chăm sóc y tế tăng đến 500%. Người Mỹ chi tiêu gấp đôi người Nhật hay người Anh về chăm sóc y tế nhưng bất kỳ với thước đo nào họ chẳng khỏe gì hơn người Nhật hay người Anh. Nếu chúng ta tính các dịch vụ cho ô tô, chúng ta có thể thấy rằng nạn kẹt xe và thời gian di chuyển dài hơn làm mất đi lợi ích là xe tốt hơn cần bảo trì ít hơn.

Tại Hoa Kỳ, số cảnh sát công và tư cũng như việc đầu tư vào khóa cửa và hệ thống báo động đã tăng rất nhiều trong vòng 25 năm qua. Các người kiểm tra hành lý tại các sân bay không hề có trước đây. Họ tăng thời gian làm việc để tạo điều kiện cho sự di chuyển 1 dặm và làm giảm năng suất. Người Mỹ đang sử dụng thời gian và tài nguyên để bảo vệ mức sống của họ thay vì nâng cao nó lên.

Hầu hết những cải thiện về sản lượng dịch vụ, chất lượng, và từ đó là năng suất đều có thể đo lường được nhưng rất tốn kém và Hoa Kỳ chưa sẵn sàng chi số tiền cần thiết để có số liệu thống kê tốt hơn. Nếu người Mỹ thật sự muốn biết năng suất của mình, họ sẽ xây dựng một hệ thống định vị kinh tế toàn cầu thích hợp. Cho đến lúc này, chúng tôi chỉ tranh luận đâu là sự thật hơn là chi tiền để xác định nó. Không chi tiền và tập trung cố gắng vì không có gì rõ ràng cho thấy là với những đo lường tốt hơn về năng suất dịch vụ sẽ loại bỏ sự giảm sút năng suất. Thật ra có thể cho thấy năng suất lại tăng.

Có một điều bí ẩn thực sự. Không phải là điều tưởng tượng về dữ liệu. Do một vài nguyên nhân chưa xác định được, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 vừa tạo ra của cải rất lớn tính theo thị trường nhưng lại có thành tích về năng suất rất kém.

Có thể giá trị thị trường của các loại chứng khoán hiện nay chỉ là bong bóng, cũng tương tự như sự điên cuồng chạy theo hoa tu líp 360 năm trước. Lúc đó một hoa tu líp đen mua được một căn hộ 5 tầng nằm dọc bờ kênh ở Amsterdam. Các tỷ phú hoa tu líp kéo dài chỉ một vài năm và sau đó biến mất. Có thể các tỷ phú của chúng ta cũng sẽ đi vào quên lãng trong sử sách như là một câu chuyện vẻ vang – nhưng một câu chuyện không có ý nghĩa kinh tế lâu dài và vinh quang hơn hoa tu líp.

Hay rất có thể những sự giàu có to lớn và mới này biểu hiện sự huy động thêm tài nguyên (hy sinh thêm thời gian nhàn rỗi, hy sinh thêm tiêu dùng hiện tại, sử dụng nhiều hơn tài nguyên thiên nhiên, tình trạng môi trường tệ hại hơn) và sự chuyển dịch của cải từ đa số sang cho thiểu số. Lợi nhuận và giá trị chứng khoán tăng trên các thị trường tài chính trong khi lương tại nhà máy lại giảm. Ở một mức độ nào đó, có bằng chứng xác minh những đề xuất này.

Trong 25 năm qua, sự giàu có của 5% dân số hàng đầu đã tăng từ 16,7% lên 21,4% tính trên tổng số của cải. Hiện nay số 5% này sở hữu của cải theo giá thị trường bằng của cải của số 60% dân dưới cùng. Đối với 20% hộ trung lưu, tỷ lệ phân chia trong tổng số của cải và mức giàu có tuyệt đối của họ có điều chỉnh theo lạm phát đã giảm từ 1989 đến 1997 (từ 10% còn 3%).

Trong hơn 25 năm qua, tổng sản phẩm nội địa thực tính theo đầu người, có điều chỉnh theo lạm phát, đã tăng trên 55%. Trong khi đó, thu nhập của các hộ trung bình tại Hoa Kỳ chịu những biến đổi dữ dội nhưng chẳng đi đến đâu – tăng 4,8% từ 1969 đến 1979, giảm 5% từ 1979 đến 1983, tăng 11,1% từ 1983 đến 1989, giảm 8% từ 1989 đến 1993 và tăng 4,5% từ 1993 đến 1996. Trong năm 1998, thu nhập của các hộ trung bình cao hơn 3% so với mức trong năm 1973 và 4% thấp hơn so với mức 1989. Thành phần trẻ chịu ảnh hưởng nặng nhất. Đối với những hộ gia đình có chủ hộ dưới 25 tuổi có thu nhập bình quân thấp hơn mức trong năm 1973 đến 25% và đối với những chủ hộ từ 25 đến 34 tuổi, thu nhập giảm 8%.

Tính theo dài hạn (từ 1973) và trung hạn (từ 1989) lương thực tế gần như không thay đổi hay giảm đi đối với 80% lực lượng lao động nam ở mức thấp nhất. Thành phần trẻ hiện nay có mức thu nhập thấp hơn so với trước đây ở bất kỳ trình độ giáo dục nào, kể cả tốt nghiệp đại học. Chỉ có thành phần có bằng cấp cao hơn mới có mức lương thực tế cao hơn. Đối với phụ nữ, mức sụt giảm lương có thấp hơn và ảnh hưởng đến ít người hơn – chỉ có 50% thành phần thấp nhất chịu thiệt hại. Thành phần trung bình trong phân bổ thu nhập chịu ảnh hưởng nặng nhất – tỷ lệ những người có mức thu nhập cao hơn mức trung bình 50% hay gấp đôi đã giảm từ 71% xuống còn 62% của cả lực lượng lao động.

Trong năm 1997 và 1998, với mức thất nghiệp rất thấp và sự gia tăng đáng kể mức lương tối thiểu, các xu hướng trên đã gián đoạn và có sự gia tăng lương thực tế cho những người bị thiệt hại trước đây. Xu hướng này sẽ tiếp tục hay không vẫn phải chờ xem. Từ năm 1973, có nhiều năm lương tăng nhưng sau đó lại trở về xu hướng giảm. Ngay cả việc thay đổi xu hướng trong các năm 1997 và 1998 cũng không làm thay đổi mô hình phân bổ tăng lương. Lương vẫn tiếp tục tăng nhanh hơn cho thành phần trên cao so với thành phần thấp nhất và tăng rất ít cho nhóm ở giữa. Đối với lao động nam, 10% cao nhất của lực lượng lao động lương tăng 6,2%, 10% ở giữa tăng 4% và 10% dưới cùng tăng 4,8%.

Bên dưới các con số này, tình hình thực tế càng tệ hơn. Trong các hộ trung bình và dưới trung bình, trình độ giáo dục bình quân của cả vợ chồng đều tăng. Trình độ tốt nghiệp trung học tăng gấp đôi và tốt nghiệp đại học tăng gần gấp 4 lần. Với trình độ giáo dục cao hơn, những hộ gia đình này đáng lẽ phải có thu nhập cao hơn nhưng không được như vậy.

Các bà vợ cũng phải tăng đáng kể trong cố gắng làm việc của họ. Tỷ lệ các bà vợ làm việc quanh năm tăng gấp đôi đối với những gia đình có con cái và tăng 50% đối với gia đình không con. Thời gian làm việc của những cặp vợ chồng tăng 617 giờ / năm, hay trên 15 tuần làm việc toàn thời gian trong khoảng từ 1979 đến 1996. Nhưng công việc làm thêm này không mang lại lương cao hơn cho gia đình. Các bà vợ phải làm việc nhiều hơn để bù cho mức lương thấp hơn của chồng.

Biểu tượng của sự không bình đẳng này, tuy không phải là nguồn duy nhất, là lương của các vị tổng giám đốc – tăng từ 44 lần lên 212 lần so với lương bình quân của một lao động Mỹ trong vòng 30 năm. Càng đáng chú ý hơn là lương của các tổng giám đốc tăng mạnh hơn so với người đứng thứ 2 trong cùng công ty và cao hơn so với những người cùng điều hành các công ty lớn ở nơi khác. Lương của các tổng giám đốc ở Hoa Kỳ cao hơn ở Anh quốc 34%, cao hơn ở Pháp 106%, cao hơn ở Nhật Bản 155% và cao hơn ở Đức 169%.

Có thể tranh luận rằng sự giàu có gia tăng đối với những người ở trên cùng vì của cải bị tước đoạt từ những người dưới cùng, vì thu nhập đã chuyển thành lợi nhuận và vì thời gian nhàn rỗi bị hy sinh để tăng sản lượng. Nhưng tất cả các yếu tố này cũng chưa đủ để giải thích tại sao mức tăng năng suất chậm lại rất nhiều trong khi đó của cải lại tăng rất lớn. Thí dụ như hầu hết số thu nhập của lao động bị mất đi không phải chuyển dịch sang người giàu mà được chuyển cho người già dưới dạng tiền nghỉ hưu cao hơn.

Bên ngoài Hoa Kỳ, áp lực tăng mức chênh lệch về lương tại châu Âu và Nhật Bản đang gia tăng. Tỷ lệ thất nghiệp cao ở châu Âu có thể xuất phát từ tiền lương quá cao dành cho lao động châu Âu với trình độ chuyên môn kém hơn. Với cùng trình độ chuyên môn, người ta có thể trả lương thấp hơn ở bất cứ nơi nào khác và kết quả là các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp châu Âu, đang mở rộng việc sử dụng lao động bên ngoài châu Âu. Mercedes và BMW đang mở rộng sản xuất tại Hoa Kỳ, nơi có chi phí thấp hơn là tại châu Âu, nơi có chi phí cao hơn.

Trong khi đó, chính phủ ở khắp nơi đang mất đi khả năng hỗ trợ cho những người không thể cạnh tranh thành công trong trò chơi kinh tế mới này. Phúc lợi chủ yếu đã chấm dứt do thất bại kinh tế tại Hoa Kỳ. Họ phải chấp nhận lao động bắt buộc – và phải lao động với số lương rất thấp – hay ít nhất trên lý thuyết chịu đói. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), câu lạc bộ của những nước giàu nhất thế giới, thường khuyên các thành viên châu Âu cắt chi tiêu cho phúc lợi xã hội. Trong thế kỷ 21, họ cho rằng các nước thất bại về kinh tế không thể được trợ giúp nếu toàn xã hội muốn có các nước thành công về kinh tế.

Theo một ý nghĩa nào đó, phúc lợi của chính phủ đối với công ty cũng đã chấm dứt. Công ty không còn được bảo vệ đối với cạnh tranh nước ngoài bằng thuế hay hạn ngạch nữa. Công ty không còn nhận được trợ cấp của chính phủ. Nếu chính phủ cố tìm cách bảo vệ công ty của mình trong thị trường nội địa, những công ty này sẽ bị tách rời khỏi thị trường toàn cầu và đối với các công ty lớn, thị trường toàn cầu quan trọng hơn thị trường nội địa.

Đối với các công ty, khoảng cách giữa thành công và không thành công ngày càng rộng hơn. Tại Hoa Kỳ, số doanh nghiệp đóng cửa trong bất kỳ năm nào cũng gần bằng số doanh nghiệp mới tham gia kinh doanh. Những nhà tư vấn về chiến lược cho công ty chỉ có thể tư vấn cho các đại công ty toàn cầu hay các công ty có thị trường chuyên biệt (niche). Sáp nhập để có qui mô toàn cầu hay thu gọn để có thời gian phản ứng nhanh. Các công ty quốc gia tầm trung đang gặp khó khăn – chắc chắn sẽ biến mất. Chúng sẽ đóng cửa (Gimbels) hay bị mua lại (Rolls-Royce).

Tình trạng này cũng đúng đối với các quốc gia. Khoảng cách thu nhập tính theo đầu người giữa các nước có chiều hướng thu hẹp trong các thập kỷ 1950, 1960 và 1970 nhưng nay thì lại đang mở rộng. Trong những nước thường được xem là thế giới thứ 2 (các nước cộng sản có thu nhập ở mức trung bình) sự sụt giảm tổng sản phẩm nội địa tính theo đầu người đã đưa hầu hết trở về thế giới thứ 3. Hầu hết ở các nơi khác trên thế giới, thu nhập đầu người tuột dưới mức cao nhất trước đây rất xa. Tại hầu hết châu Phi, thu nhập đầu người thấp hơn mức năm 1965. Tại hầu hết các nước châu Mỹ La tinh, thu nhập đầu người thấp hơn mức năm 1980. Phần lớn châu Á đang ở dưới mức năm 1997 rất xa. Trong một vài nước, như Indonesia chẳng hạn, tất cả những gì thu được trong suốt 30 năm qua đã mất trắng. Tất nhiên, trường hợp đặc biệt nhất là Trung Quốc. Và đây đúng là trường hợp đặc biệt nhất – sự tăng trưởng nhanh đang nâng cao mức sống cho 1/5 nhân loại.

Trong thế giới thứ nhất, sự bình đẳng sau Thế chiến thứ 2 rõ ràng đã chấm dứt, mặc dù Nhật Bản đã qua mặt châu Âu, sự suy thoái kinh tế của Nhật Bản có thể được xem như là một hình thức bình đẳng đảo ngược. Tuy nhiên, thành tích kinh tế nổi bật của Hoa Kỳ trong thập kỷ 1990 đã đưa một nước có tổng sản phẩm xã hội đầu người cao nhất trong các nước lớn càng xa hơn. Thí dụ, thu nhập quốc dân của Hoa Kỳ đã tăng hơn Canada đến 1/3 trong thập kỷ 1990.

Đối với những ai muốn làm giảm sự cách biệt kinh tế giữa cá nhân, giữa công ty và giữa các quốc gia, không có gì quan trọng hơn là hiểu kim tự tháp giàu có được xây dựng thế nào trong nền kinh tế tri thức. Cố gắng bảo vệ cái gì hiện có – kim tự tháp giàu có xây dựng trong thời kỳ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 – là vô vọng. Uy lực của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3, như chúng ta sẽ thấy, có thể được chuyển hướng để không làm tăng sự cách biệt, nhưng các chính phủ không thể đánh bại uy lực này trong một trận chiến trực diện.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *