Hồi ký - danh nhân

Tự Truyện Benjamin Franklin

1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả : Benjamin Franklin

Download sách Tự Truyện Benjamin Franklin ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : DANH NHÂN


2. DOWNLOAD

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ? Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách


3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

PHẦN GIỚI THIỆU

Benjamin Franklin sinh tại đường Milk, Boston vào ngày 6 tháng 1 năm 1706. Cha của ông, Josiah Franklin, là một người thợ làm nến từng có hai đời vợ và Benjamin là con trai út trong gia đình gồm 17 người con. Ông nghỉ học khi lên 10 tuổi và ở tuổi 12, ông theo học nghề in từ người anh, James, người sau này xuất bản tạp chí New England Courant. Benjamin từng đóng góp bài và có thời gian làm biên tập danh dự cho tạp chí này. Tuy nhiên, hai anh em nảy sinh bất đồng và Benjamin bỏ đi, chuyển đến New York, sau đó đến Philadelphia vào tháng 10 năm 1723. Ông nhanh chóng tìm được công việc ở một nhà in, nhưng sau đó vài tháng, ông bị Thống đốc Keith thuyết phục đến London. Tuy nhiên sau đó Benjamin nhận ra những lời hứa của Thống đốc chỉ là hão huyền. Benjamin quay lại với công việc nhân viên sắp chữ in cho đến khi được một thương gia tên Denman đề nghị một vị trí trong công việc kinh doanh của ông này và cả hai quay trở lại Philadelphia. Sau khi Denman mất, Benjamin quay về nghề trước đây của mình và không lâu sau mở một xưởng in riêng, nơi ông xuất bản tạp chí The Pennsylvania Gazette, tạp chí mà ông đóng góp nhiều bài viết như một công cụ để khuấy động những phong trào cải cách địa phương. Năm 1732, để nâng cao sự phong phú, ông bắt đầu xuất bản cuốn sách nổi tiếng Poor Richard’s Almanac (Niên lịch của Richard Nghèo Khổ) ghi chép lại những câu châm ngôn súc tích về cuộc sống mà ông sáng tác hay sưu tầm. Đây là cuốn sách đóng góp một nền tảng lớn vào danh tiếng của ông. Năm 1758, Benjamin ngừng viết cuốn Niên lịch và cho ra đời Father Abraham’s Sermon (Những Bài Giảng Của Cha Abraham), tác phẩm được xem là nổi tiếng nhất trong nền văn học thuộc địa Mỹ.

Cùng lúc đó, Franklin cũng ngày càng quan tâm đến các vấn đề công vụ. Ông vạch ra kế hoạch xây dựng một học viện, sau này được tiếp nối và phát triển thành Đại học Pennsylvania và ông cũng sáng lập ra tổ chức “Hiệp hội Khoa học Mỹ” với mục đích giúp các nhà khoa học có cơ hội gặp gỡ, trao đổi và thảo luận những khám phá của mình. Bản thân ông cũng bắt đầu các thí nghiệm điện cùng một số nghiên cứu khoa học khác trong quãng thời gian hoạt động kinh doanh và chính trị cho đến cuối đời. Vào năm 1748, khi đã có cuộc sống vật chất khá sung túc, ông bán nhà in của mình để có thời gian dành cho việc học; vài năm sau, ông có một khám phá khiến tên tuổi của mình được biết đến trên toàn châu Âu. Trong lĩnh vực chính trị, ông chứng tỏ mình có khả năng trong cả vai trò điều hành lẫn tranh luận, nhưng lý lịch chính trị của ông đã dính nhiều vết nhơ khi dùng quyền lực để nâng đỡ những người họ hàng của mình. Thành tựu chính trị lớn nhất của ông chính là việc cải cách hệ thống bưu điện, nhưng tên tuổi của ông lại chủ yếu được nhắc đến với vai trò như một chính khách thông qua hoạt động ngoại giao giữa các thuộc địa với nước Anh và sau đó là nước Pháp. Năm 1757, ông được cử sang Anh để phản đối ảnh hưởng của gia tộc Penn trong Chính phủ thuộc địa và ông đã ở lại Anh 5 năm, cố gắng thuyết phục người dân và Chính phủ Anh chấp nhận các điều kiện đối với thuộc địa. Trong lần trở về Mỹ, sự kiện Paxton mà ông đóng vai trò danh dự sau đó đã làm ông mất ghế trong Quốc Hội. Tuy nhiên, năm 1764, ông lại được cử đến Anh với tư cách một đại diện của Chính phủ thuộc địa để kiến nghị khôi phục Chính phủ từ tay các địa chủ tư sản. Tại London, ông tích cực phản đối Đạo Luật Tem. Tuy nhiên, ông đã mất rất nhiều lòng tin và sự tín nhiệm vì đã bảo vệ quyền lợi cho văn phòng đại diện một công ty sản xuất tem của người bạn mình tại Mỹ. Ngay cả những nỗ lực mang lại hiệu quả cao của ông nhằm bãi bỏ đạo luật trên cũng không giúp ông khỏi bị ngờ vực. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục những nỗ lực bảo vệ quyền lợi các quốc gia thuộc địa khi rắc rối ngày càng tăng do khủng hoảng từ Phong trào Cách Mạng. Năm 1767, ông đến Pháp và được chào đón long trọng. Nhưng trước khi trở về quê hương vào năm 1775, ông mất chức Bộ Trưởng Bộ Bưu Điện vì dính líu đến việc tiết lộ cho bang Massachusetts lá thư nổi tiếng của Hutchinson và Oliver. Trên đường trở về Philadelphia, ông được chọn làm thành viên Quốc hội Lục Địa và vào năm 1777 ông được cử đến Pháp dưới vai trò đại sứ của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ông ở lại Pháp tới năm 1785, như một nhân vật được cộng đồng Pháp yêu thích và với thành công trong những sứ mạng đại diện cho đất nước mình. Cuối cùng, ông trở về quê hương như một người hùng của nước Mỹ độc lập và nhận được vị trí cao chỉ sau Washington. Ông mất ngày 17 tháng 4 năm 1790.

Năm chương đầu của cuốn Tự truyện của Benjamin Frankalin được viết ở Anh vào năm 1771, được tiếp tục vào năm 1784-1785 và bắt đầu viết tiếp vào năm 1788, ông giảm xuống chỉ còn những sự kiện diễn ra tới năm 1757. Sau hàng loạt chuyến phiêu lưu phi thường, bản thảo đầu tiên cũng như cuối cùng được John Bigelow in ra và giờ đây được tái bản để ghi nhận giá trị của cuốn sách như một bức tranh về một trong những nhân vật đáng kính nhất thời thuộc địa và là một trong những cuốn tự truyện xuất sắc nhất thế giới.

ĐỌC THỬ

TỰ TRUYỆN CỦA BENJAMIN FRANKLIN

(1706 -1757)

YFORD, tại Tòa giám mục thánh Asaph, năm 1771.

CON TRAI YÊU QUÝ: ta luôn vui thích khi nghe những giai thoại về cha ông. Con có thể nhớ lại chuyện ta đã dò hỏi về những người họ hàng khác của mình trong thời gian con ở Anh cùng ta và chuyến đi mà ta đã trải qua cho mục đích đó. Ta cho rằng, con cũng muốn hiểu về những sự kiện xảy ra trong cuộc đời ta, vì có nhiều thứ ta chưa kể cho con biết và mong chờ tận hưởng một tuần lễ sống an nhàn sau khi đã rút lui khỏi những hoạt động chính trị, ta ngồi đây và viết lại chúng cho con. Đó là những lý do ta có bên cạnh những xui khiến khác. Vươn lên từ cái nghèo cùng sự tối tăm mà ta đã được sinh ra và nuôi dưỡng, đạt được sự giàu có và một ít danh tiếng trên thế giới, trải qua cuộc sống có nhiều may mắn mà ta đã tận dụng như một phương tiện để hoàn tất sự ban ơn của Chúa Trời, hậu thế có lẽ muốn biết về cuộc đời ta và con có thể tìm thấy những chi tiết phù hợp với hoàn cảnh của mình để noi gương.

Cái may mắn của ta, khi suy ngẫm về nó, nhiều lần đã khiến ta phải nói rằng, nếu ta có được một chọn lựa, ta sẽ không chối từ việc lặp lại cuộc sống giống như vậy từ khởi đầu, ta chỉ yêu cầu có được quyền tác giả để sửa lại một vài lỗi sai trong ấn bản đầu tiên của cuốn sách cuộc đời. Nếu được như thế, ta có thể chỉnh lại một vài lỗi sai, thay đổi vài tai nạn và sự kiện xấu xa theo hướng tốt đẹp hơn cho những người khác. Nhưng dù cho ta không có được quyền tác giả đó, ta vẫn chấp nhận đề nghị sống lại cuộc đời mình. Vì sự tái diễn đó không thể xảy ra, điều tiếp theo và cũng là gần nhất với việc sống cuộc đời này một lần nữa dường như là chỉ có một: hồi tưởng về cuộc đời và làm cho sự hồi tưởng đó vững bền nhất có thể bằng cách viết lại chúng.

Bởi vì, mọi người có quyền chọn đọc hay không đọc tự truyện này, ở đây ta cũng sẽ dung túng cho sự thiên vị rất đỗi tự nhiên của người già khi nói về chính bản thân cùng những hành động của họ trong quá khứ; và ta sẽ dung túng mà không cảm thấy chán ngắt với sự thực rằng những người khác, những người khi đã lớn tuổi cho rằng bản thân họ có nghĩa vụ phải răn dạy ta. Và cuối cùng (ta cũng phải thừa nhận điều này vì nếu ta chối bỏ thì cũng chẳng ai tin), có lẽ ta sẽ tự thoả mãn cái hư danh của mình rất nhiều ở đây. Thực ra, ta hiếm khi nghe hoặc thấy những dòng giới thiệu: “Không hề vì hư danh bản thân, tôi xin được nói,” rồi theo ngay sau đó là những thứ phù phiếm. Hầu hết mọi người đều ghét sự hư danh ở những người khác, nhưng khi suy nghĩ công bằng về nó năm mười phút, ta thấy rằng hư danh thường tốt cho những người sở hữu nó và cho cả những người nằm trong tầm ảnh hưởng từ người đó. Vì thế, trong nhiều trường hợp, không phải hoàn toàn vô lý khi một người cảm ơn Chúa vì hư danh của mình trong số những ban ơn khác của cuộc sống.

Và giờ nói đến cảm tạ Chúa, bằng tất cả sự hèn mọn của mình, ta mong muốn tri ân những niềm hạnh phúc có được trong cuộc đời đã qua đến Đấng Tối Cao, Người đã dẫn dắt ta đến những con đường mà ta đã chọn đi và cho chúng thành công. Niềm tin vào điều này thúc giục ta hy vọng, dù đoán chừng rằng những điều tốt đẹp như thế sẽ không mãi đến với ta trong hạnh phúc vĩnh tiến hay giúp ta chống chọi với cái chết, điều mà ta sẽ phải trải qua như bao người khác đã từng: màu sắc, vận mệnh tương lai của ta chỉ Người mới thấu suốt được. Với quyền năng vô hạn, chính Người thậm chí có thể ban cho chúng ta sự phiền não.

Những ghi chép mà chú của ta (người có cùng tính tò mò thích sưu tầm những giai thoại gia đình) từng đặt vào tay ta đã đem đến cho ta những hiểu biết cặn kẽ liên quan đến tổ tiên ta. Từ những ghi chép này, ta biết được gia đình ta đã sống ở làng Ecton thuộc vùng Northamptonshire trong 300 năm, và lâu hơn bao nhiêu nữa thì chính chú của ta cũng không biết. (Có lẽ từ hồi xa xưa, khi cái tên Franklin, mà trước đây để chỉ một thứ bậc trong xã hội, được biến thành họ khi mọi người đều tự chọn cho dòng tộc mình một cái họ riêng). Chúng ta có 30 mẫu đất cùng công việc kinh doanh lò rèn. Công việc này tiếp tục cho đến đời chú của ta, người con trai cả luôn được chọn truyền lại nghề đó. Một truyền thống mà cha và chú ta tiếp tục truyền cho con trai đầu của họ. Khi tìm những thông tin đăng ký tại Ecton, ta chỉ tìm thấy một cuốn sổ hộ tịch ghi các việc khai sinh, kết hôn và chôn cất của gia đình từ năm 1555, không có đăng ký nào được ghi chép vào thời điểm trước đó. Theo bản ghi chép tìm được, ta biết rằng ta là cháu trai út đời thứ năm của người con trai út. Ông nội của ta, Thomas, sinh vào năm 1598, sống tại Ecton cho đến khi ông quá già để tiếp tục làm việc và chuyển tới sống cùng con trai của ông là John, một thợ nhuộm ở Banbury, vùng Oxfordshire, người mà cha ta xin theo học việc. Ông đã mất và được chôn tại đó. Chúng ta tới thăm phần mộ của ông vào năm 1758. Người con trai cả của ông, Thomas, sống trong một ngôi nhà ở Ecton và truyền lại quyền thừa kế ngôi nhà cùng mảnh đất cho đứa con gái duy nhất của mình, người cùng với chồng là một ngư dân vùng Wellingborough đã bán lại tài sản đó cho ông Isted, người chủ sở hữu hiện tại trang viên đó. Ông nội ta có 4 người con trai: Thomas, John, Benjamin và Josiah. Ta sẽ kể cho con những câu chuyện mà ta biết được về họ bằng những lá thư và nếu ta không đãng trí quên mất việc này, con sẽ tìm thấy nhiều điều thông tin chi tiết khác.

Ông Thomas được cha truyền nghề thợ rèn nhưng do bản tính thông minh và (như tất cả những người anh em của ta) được khuyến khích học tập với một thầy tu có tên tuổi trong làng. Ông Thomas đã tự mở cho mình công việc kinh doanh sao chép văn tự, trở thành một trong những người quan trọng nhất của hạt, nhân vật chủ chốt trong những hoạt động của cộng đồng hạt hay thị trấn Northampton và ngôi làng, nơi còn lưu giữ rất nhiều dấu ấn về ông. Thomas cũng được Huân Tước Halifax chú ý và giúp đỡ rất nhiều. Ông mất do tuổi già vào ngày 6 tháng 1 năm 1702, chỉ 4 năm trước khi ta ra đời. Ta nhớ rằng cuốn sổ ghi chép lại những thông tin về cuộc đời và tên tuổi của ông từ những người già ở Ecton mang đến cho chúng ta một cảm giác phi thường, tương tự như những gì con biết về cuộc đời ta.

“Vì ông đã mất cùng ngày cha ra đời, cha có thể là sự chuyển kiếp của ông.” Con có thể nói vậy.

Ông John được truyền nghề dệt, ta nghĩ là dệt vải len. Ông Benjamin được truyền nghề dệt tơ và theo học việc ở London. Ông là một người thông minh. Ta nhớ về ông rất rõ ràng vì khi ta còn là một đứa trẻ, ông đã đến thăm và sống cùng cha ta ở Boston trong vài năm. Ông sống rất thọ. Cháu nội của ông, Samuel Franklin, giờ đang sống ở Boston. Ông ấy để lại hai tập thơ khổ bốn do ông sáng tác, bao gồm những tác phẩm nhỏ viết cho bạn bè, người thân và phần ông gửi cho ta chỉ mới là bản nháp. Bản nháp đó được viết tốc ký theo cách ông đã dạy ta nhưng vì chưa bao giờ luyện tập nên ta đã quên mất rồi. Ta được đặt tên theo tên người họ hàng này vì giữa cha ta và ông có những tình cảm rất đặc biệt. Ông là một người rất mộ đạo, tham gia đầy đủ những buổi thuyết giảng của các thầy giỏi nhất, ghi tốc ký lại các bài giảng và lưu giữ lại nhiều bản. Ông cũng là một nhà chính trị, có lẽ là rất chính trị, trong hoàn cảnh của ông. Gần đây,ta có tìm được ở London một bộ sưu tập những cuốn sách chuyên đề mà ông từng viết liên quan đến những vấn đề công vụ từ năm 1641 đến năm 1717. Rất nhiều bộ bị thiếu khi xem lại số trang sách, nhưng vẫn còn đủ 8 bộ cho khổ hai và 24 bộ cho khổ bốn và khổ tám. Một nhà buôn sách cũ quen biết ta sau nhiều lần ta mua sách từ người này đã tìm thấy chúng và đem đến. Có vẻ như ông đã để lại những cuốn sách khi sang Mỹ cách đây 50 năm. Bên lề các cuốn sách vẫn còn đầy các ghi chú của ông.

Gia tộc vô danh của ta được đánh dấu từ đầu thời kỳ Đổi Mới và tiếp tục là những Người Tin Lành trong thời kỳ trị vì của Nữ Hoàng Mary, gia đình ta đôi khi bị đặt dưới tình trạng nguy hiểm do quá nhiệt tâm đối đầu với giáo hội La Mã. Chúng ta có một cuốn Kinh Thánh bản tiếng Anh, và để che giấu cũng như bảo vệ cuốn sách đó, gia đình ta đã cột chặt cuốn sách đang mở bằng băng keo dưới gầm chiếc ghế đẩu thấp. Khi ông cố của ta đọc Kinh Thánh cho cả gia đình nghe, ông lật ngược chiếc ghế và giở những trang giấy dưới cuộn băng. Một đứa trẻ trong gia đình sẽ đứng canh cửa để báo động khi phát hiện tay thuộc lại nào đó, một dạng sĩ quan của toà án tôn giáo, đang tiến lại gần. Trong trường hợp đó, ông sẽ lật úp chiếc ghế xuống và cuốn kinh sẽ lại được giấu kín như cũ. Đây là giai thoại ta nghe được từ chú Benjamin của ta. Gia đình ta tiếp tục theo nhà thờ Anh giáo cho đến hết thời kỳ trị vì của Charles Đệ Nhị, khi một vài mục sư bị buộc tội tổ chức các cuộc họp tôn giáo bất hợp pháp ở Northamptonshire, Benjamin và Josiah gia nhập cùng những người này và tiếp tục theo Anh giáo trong suốt phần đời còn lại. Những người khác trong gia đình tiếp tục theo Nhà Thờ Tân Giáo.

Josiah, cha ta, kết hôn khi còn rất trẻ,đã cùng vợ với 3 con chuyển đến New England vào khoảng năm 1682. Những cuộc họp tôn giáo bất hợp pháp đã bị pháp luật cấm và thường xuyên bị gây khó dễ. Điều đó khiến rất nhiều người quen của ông chuyển tới sinh sống ở vùng đất này. Cha ta đã bị họ thuyết phục và đã theo những người bạn này chuyển tới New England, nơi họ có thể tận hưởng niềm vui tôn giáo của mình trong tự do. Ông sinh thêm 4 người con nữa với người vợ đầu và sau đó là 10 người con với người vợ hai, tất cả là 17 người. Ta nhớ rằng ta từng thấy cảnh 13 người anh chị em ngồi chung một bàn với ông, tất cả đều đã trưởng thành và kết hôn. Ta là con trai út, gần nhỏ nhất trong nhà và được sinh ra ở Boston, New England. Mẹ ta là vợ hai, tên là Abiah Folger, con gái của Peter Folger, một trong những người định cư sớm nhất ở New England, những người vinh dự được Cotton Mather nhắc đến, nếu ta nhớ không lầm, như một “người Anh ngoan đạo, có học thức” trong cuốn sách về lịch sử nhà thờ của đất nước đó có tựa đề là Magnalia Christi Americana. Ta từng nghe nói ông thỉnh thoảng có viết những tác phẩm ngắn nhưng chỉ một tác phẩm được in mà ta đã thấy nhiều năm trước đây. Tác phẩm đó được viết vào năm 1675 dưới dạng những đoạn thơ về thời đại và con người, dành cho những độc giả quan tâm đến các vấn đề về Chính phủ lúc đó. Tác phẩm thiên về ý thức tự do và đại diện cho những tín đồ Baptist, tín đồ phái giáo hữu và những tín đồ của các dòng tin khác đang phải chịu sự đau khổ từ cuộc chiến với người da đỏ, cho những khổ đau mà đất nước đó phải gánh chịu vì bị Chúa Trời trừng phạt nặng nề do đã xúc phạm Người và thúc giục việc chấm dứt những đạo luật hà khắc đó. Với ta, toàn bộ tác phẩm đó được viết với sự thẳng thắn, đúng mực cùng sự tự do can trường. Ta quên hai dòng đầu và nhớ sáu câu kết thúc đoạn thơ, nội dung của nó nói lên sự phê bình xuất phát từ thiện chí của ông, và như thế, ông được biết đến như là tác giả của tác phẩm đó.

“Là một kẻ phỉ báng (ông nói);

Ta thật lòng ghét việc đó;

Từ thị trấn Sherburne đến đây, nơi ta đang sinh sống

Ta đặt tên mình ở đây;

Không xúc phạm đến người bạn chân chính của ngươi,

Ta là Peter Folgier.”

Các anh của ta đều được gửi đi học nhiều nghề khác nhau. Ta được cho đi học ở trường trung học vào năm 8 tuổi vì cha ta muốn một trong những người con của ông cống hiến, phục vụ cho nhà thờ. Sự háo hức muốn được học đọc từ rất sớm của ta (chắc là rất sớm vì ta không thể nhớ rõ thời gian mình không biết đọc) cùng những góp ý của bạn bè ông rằng ta sẽ trở thành một học giả giỏi đã khuyến khích ông đi theo mục đích này. Chú Benjamin của ta cũng tán đồng quyết định đó và đề nghị tặng cho ta tất cả các bản tốc ký của những bài thuyết pháp mà ta cho rằng là để chuẩn bị phòng khi sau này ta muốn noi theo gương chú. Tuy nhiên, ta chỉ theo học ở trường trung học không đầy một năm, dù rằng trong thời gian theo học, ta đã vươn lên giỏi nhất lớp từ vị trí trung bình và được chuyển lên lớp trên để từ đó có thể chuyển sang học lớp 3 vào cuối năm đó. Nhưng trong thời điểm đó, vì cha ta đã thay đổi quyết định do nhận thấy các khoản chi phí dành cho việc học quá lớn khiến gia đình đông đúc của ông không thể được chu cấp tốt, và cũng một phần vì những người học ra trường có cuộc sống rất vất vả – đó là những lý do ta nghe ông nói với bạn bè. Ông cho ta nghỉ học ở trường trung học và gửi ta đến học ở trường chuyên dạy viết và Số học được điều hành bởi một cái tên nổi tiếng, George Browell, một người nhìn chung khá thành công trong nghề nghiệp của mình theo những cách thức rất ôn hoà và đầy tính khích lệ. Theo học ông, ta sớm có được kỹ năng viết khá tốt nhưng lại thất bại ở môn Số học và không thể tiến bộ. Lúc 10 tuổi, ta trở về nhà để phụ cha kinh doanh nến và nấu xà phòng. Công việc kinh doanh này không phải nghề ông được truyền lại nhưng ông đã đảm nhận khi chuyển đến New England do công việc nhuộm với nhu cầu ít ỏi không đủ nuôi sống gia đình. Theo đó, ta được giao nhiệm vụ cắt tim nến, đổ đầy những khuôn ngâm và khuôn nấu nến, canh cửa hàng cùng những việc vặt khác, v.v…

Ta không thích nghề này mà thích đi biển nhưng cha ta phản đối sở thích này. Tuy nhiên, sống gần biển, ta nhanh chóng khám phá về nó, học để biết cách bơi giỏi từ rất sớm và cách điều khiển những chiếc thuyền. Khi đi thuyền hay xuồng với những cậu trai khác, ta thường được giao quyền chỉ huy, nhất là khi gặp phải những khó khăn. Trong những tình huống khác, ta cũng thường là thủ lĩnh của bọn con trai, nhưng cũng đôi khi dẫn chúng vào những rắc rối và ta sẽ cho con một ví dụ về việc này, dù rằng đây là một hành động sai nhưng nó cho thấy đó là xu hướng yêu thích các hoạt động công của ta trong tương lai.

Có một đầm lầy nước mặn bao quanh một phần của chiếc hồ, nơi chúng ta hay đứng để câu cá tuế. Chúng ta giẫm lên nó quá nhiều khiến nó thực sự trở thành một đầm lầy. Ta đề nghị xây một cầu cảng để đứng và chỉ cho các “đồng chí” của mình chỗ một đống đá lớn người ta định sử dụng để xây nhà gần đầm lầy rất phù hợp với mục đích của chúng ta. Theo kế hoạch, vào buổi chiều khi những người thợ xây ra về, ta triệu tập những người bạn chơi lại và làm việc chăm chỉ như những con kiến, thỉnh thoảng 2 đến 3 người khiêng một tảng đá, chúng ta khiêng tất cả đi và xây cho mình một cầu cảng nhỏ. Sáng hôm sau, những người thợ xây rất ngạc nhiên khi phát hiện đống đá biến mất và sau đó tìm thấy chúng ở cầu cảng nhỏ của chúng ta. Mọi người bắt đầu tìm kiếm thủ phạm di dời đá. Chúng ta bị phát hiện và bị mắng vốn. Nhiều đứa trong bọn bị cha mẹ khiển trách và mặc dù ta đã cố giải thích về sự hữu ích của công trình đó, cha ta giải thích cho ta hiểu rằng không có gì hữu ích nếu không thật thà.

Ta nghĩ con cần biết một vài điều về con người và tính cách của ông. Ông là một người có thân hình đẹp, dáng người trung bình nhưng cân đối và rất khoẻ mạnh. Ông rất thông minh, vẽ rất đẹp, có chút ít kỹ năng về âm nhạc và có giọng nói rất dễ nghe, vì thế nghe ông vừa chơi đàn vĩ cầm vừa hát những giai điệu thánh ca, việc ông thỉnh thoảng làm sau một ngày làm việc, là một điều cực kỳ dễ chịu. Ông cũng là người giỏi cơ khí và đôi lúc rất khéo léo trong việc sử dụng những công cụ của nghề khác, nhưng tài năng lớn nhất của ông nằm ở khả năng thấu hiểu sâu sắc và đưa ra những phán quyết vững chắc đối với những vấn đề quan trọng với cá nhân ông cũng như vấn đề công vụ. Trong giai đoạn tiếp theo của cuộc đời mình, thực tế, ông chưa bao giờ có cơ hội thể hiện tài năng đó trong một công việc chính thức nào do phải tập trung kinh doanh và chăm lo cho gia đình đông người của mình. Nhưng ta nhớ rất rõ rằng đã có nhiều lãnh đạo địa phương đến thăm ông để xin lời tư vấn về những vấn đề công vụ của thị trấn hay trong nhà thờ nơi ông sinh hoạt, và họ tỏ ra rất tôn trọng những phán quyết và lời khuyên của ông. Những người khác cũng đến xin ông cho lời khuyên về những vấn đề của họ khi có khó khăn và ông cũng thường xuyên đóng vai trò phân xử giữa hai bên khi có tranh cãi.

Ông thường xuyên mời một vài người bạn tới nhà để thảo luận về những đề tài thông minh hay hữu ích để có thể phát triển tư duy của các con ông. Bằng cách này, ông hướng sự chú ý của chúng ta đến những điều tốt đẹp, chính nghĩa, khôn ngoan trong cách sống và thường ít khi hoặc không bao giờ nói đến những đề tài “cơm áo gạo tiền”, dù tốt hay xấu, đúng với thời điểm hay không, dễ hay khó nhìn nhận, được ưa thích hay kém ưa chuộng hơn những đề tài khác cùng loại, để từ đó ta được nuôi dưỡng trong môi trường hoàn toàn không hướng đến những vấn đề đó, không quan trọng và cũng không thèm chú ý đến chuyện ta sẽ ăn gì, nên tới giờ nếu được hỏi sau khi dùng bữa chỉ vài tiếng ta cũng không nhớ mình đã dùng món gì. Thói quen này rất có ích với ta khi đi đó đây, trong khi những người bạn của ta thường thỉnh thoảng không hài lòng vì muốn ăn những món ăn tinh tế hơn, phù hợp với sở thích và cách thức ăn uống cầu kỳ về mùi và khẩu vị của họ.


Giang Vi

Tôi là một người yêu sách cuồng nhiệt và đã hơn 20 năm. Tôi dành cả ngày để đọc, viết blog về sách và viết bình luận. Tôi tin rằng sách là công cụ mạnh mẽ nhất trong cuộc sống để mở mang đầu óc cho những ý tưởng và quan điểm mới. Các thể loại yêu thích của tôi bao gồm tiểu thuyết lịch sử, giả tưởng, khoa học viễn tưởng và phi hư cấu. Tôi cũng thích tìm hiểu về các nền văn hóa khác nhau thông qua văn học.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Related Posts:

Back to top button