Trang chủ / Hồi ký - danh nhân / Từ Beirut Đến Jerusalem

Từ Beirut Đến Jerusalem

tu beirut den jerusalem sach ebook1. THÔNG TIN SÁCH/EBOOK

Tác giả : Thomas Friedman

Download sách Từ Beirut Đến Jerusalem ebook PDF/PRC/MOBI/EPUB. Tải miễn phí, đọc online trên điện thoại, máy tính, máy tính bảng.

Danh mục : SÁCH HỒI KÝ – DANH NHÂN

2. DOWNLOAD

Download ebook                      

File ebook hiện chưa có hoặc gặp vấn đề bản quyền, Downloadsach sẽ cập nhật link tải ngay khi tìm kiếm được trên Internet.

Bạn có thể Đọc thử hoặc Xem giá bán.

Bạn không tải được sách ?  Xem hướng dẫn nhé : Hướng dẫn tải sách

3. GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Bảng niên đại khu vực Trung đông

1882 Kết quả của việc bức hại người Do Thái ở Nga và Romani một năm trước đó, cuộc nhập cư trên diện rộng đầu tiên của người Do Thái định cư sang Palestine được tiến hành.

1891 Các nhân sĩ người Ả rập ở Jerusalem gửi đơn thỉnh cầu tới chính quyền Ottoman ở Constantinople yêu cầu ngăn cấm việc nhập cư của người Do Thái tới Palestine và việc mua bán đất của người Do Thái.

1896 Nhà báo người Áo, Theodor Herzl, người sáng lập của Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái hiện đại, xuất bản cuốn sách Nhà nước của người Do Thái, trong đó lý luận rằng “Vấn đề của người Do Thái” có thể được giải quyết chỉ bằng cách thiết lập một nhà nước Do Thái ở Palestine hoặc ở một nơi nào đó, vì thế người Do Thái có thể sống tự do mà không còn lo sợ bị bức hại. Một năm sau đó, Herzl tổ chức Đại hội Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái lần đầu ở Basel, Thụy Sĩ, để thúc đẩy việc nhập cư tới Palestine.

1908 Những tờ báo tiếng Ả rập của người Palestine đầu tiên xuất hiện: Al-Quds ở Jerusalem và Al-Asma’i ở Jaffa.

1916 Anh, Pháp và Nga ký kết hiệp định Sykes-Picot, chia nhỏ Đế chế Ottoman sau thất bại của nó tại Thế chiến thứ Nhất. Như quy định trong Hiệp định, Anh sẽ giành quyền kiểm soát khu vực Palestine, còn Pháp là khu vực bây giờ là Liban và Syria.

1917 Tuyên bố Balfour được Bộ trưởng Ngoại giao Anh, Arthur J. Balfour ban hành, xác nhận ý tưởng thành lập một “quê hương bản quán” cho dân tộc Do Thái ở Palestine.

1920 Sắc lệnh của người Pháp về việc thành lập Liban Lớn hơn, nối vùng núi Liban với các khu vực Beirut, Tripoli, Sidon, Tyre, Akkar, và Thung lũng Bekaa.

1936-1939 Bị ảnh hưởng bởi các phong trào chủ nghĩa dân tộc của các nước Ả rập khác, người Ả rập ở Palestine nổi dậy với nỗ lực nhằm ngăn chặn việc thành lập quê hương cho người Do Thái ở Palestine. Cả những người Do Thái định cư với các đơn vị quân đội của Anh đều rơi vào cuộc tấn công.

1943 Các lãnh đạo Hồi giáo và Cơ đốc giáo của Liban thống nhất một “Công ước Dân tộc” để chia sẻ quyền lực và cân bằng những khuynh hướng giữa Ả rập và phương Tây ở Liban, cho phép quốc gia của họ trở thành một nhà nước độc lập, không phụ thuộc vào nước Pháp.

1947 Liên Hợp Quốc biểu quyết phân chia Palestine thành hai nhà nước, một cho người Do Thái và một cho người Ả rập Palestine, với Jerusalem trở thành một vùng đất quốc tế.

1948 Anh rút khỏi Palestine. Thay vào đó là thi hành kế hoạch chia cắt của Liên Hợp Quốc, các nhà nước Ả rập xung quanh kết hợp với người Palestine ở địa phương cố gắng ngăn cản việc xuất hiện một nhà nước Do Thái. Israel được thành lập bằng bất cứ giá nào; Jordan chiếm cứ Bờ Tây, còn Ai Cập là Dải Gaza.

1956 Israel kết hợp cùng với lực lượng của Anh và Pháp tấn công Ai Cập của Gamal Abdel Nasser, chiếm cứ hầu hết vùng Bán đảo Sinai. Dưới áp lực của cả Liên Hợp Quốc và Liên bang Xô viết, sau đó Israel đã rút quân.

1958 Cuộc nội chiến đầu tiên ở Liban nổ ra, và có khoảng 15 nghìn lính Mỹ được gửi tới Beirut để giúp ổn định tình hình.

1964 Những người đứng đầu nhà nước Ả rập do Nasser lãnh đạo thành lập Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) ở Cairo.

1967 Isarel lao vào một cuộc tấn công trước chống lại Ai cập, Syria, và Jordan vì họ đang chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại nhà nước Do Thái. Cuộc chiến Sáu ngày kết thúc với Israel chiếm cứ Bán đảo Sinai, Cao nguyên Golan, Dải Gaza, và Bờ Tây.

1969 Yasir Arafat, lãnh đạo của tổ chức du kích al-Fatha, được bầu chọn làm chủ tịch ủy ban chấp hành của PLO.

1970 Quân đội của vua Hussein đánh bại lực lượng du kích PLO của Arafat trong một cuộc nội chiến nắm quyền kiểm soát Jordan.

1973 Ai Cập và Syria lao vào một cuộc tấn công bất ngờ chống lại Israel để giành chiếm cứ Bán đảo Sinai và Cao nguyên Golan.

1974 Hội nghị thượng đỉnh Ả rập ở Rabat, Ma-rốc phê chuẩn PLO là “đại diện hợp pháp và duy nhất” của người Palestine.

1975 Cuộc nội chiến bùng nổ một lần nữa ở Liban.

1977 Tổng thống Ai Cập, Anwar Sadat tới Jerusalem, phát biểu trước nghị viện Israel, và đề nghị một nền hòa bình trọn vẹn đổi lại là Isreal phải rút hoàn toàn ra khỏi Sinai.

1979 Ai Cập và Israel ký kết hiệp định hòa bình.

1982 Tháng Hai Chính phủ Syria tàn sát hàng nghìn thường dân trong khi đàn áp cuộc nổi loạn của người Hồi giáo nổi dậy ở thị xã Hama.

1982 từ tháng Sáu tới tháng Chín Israel xâm lược Liban. Lãnh đạo lực lượng quân đội của Phalange, Bashir Gemayel bị ám sát sau khi được bầu làm Tổng thống Liban. Lực lượng quân đội Phalang đã tiêu diệt hàng trăm người Palestine ở trong các trại tị nạn Sabra và Shatila ở Beirut, trong khi lực lượng Isrel bao vây những trại tị nạn này. Lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ tới Beirut với vai trò là lực lượng gìn giữ hòa bình đa quốc gia.

1983 Đại sứ quán Hoa Kỳ và trụ sở của Lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ ở Beirut bị nổ tung do vụ đánh bom cảm tử bằng xe hơi.

1984 Tháng Hai Chính quyền Liban của Tổng thống Amin Gemayel bị đập tan sau khi người Hồi giáo Shiite và Druse ở Tây Beirut lao vào một cuộc nổi dậy chống lại quân đội Liban. Tổng thống Reagan từ bỏ hy vọng tái lập Liban và ra lệnh cho lực lượng Lính thủy đánh bộ trở về nước.

1984 Tháng Chín Đảng Lao động và Đảng Likud của Israel cùng gia nhập vào một chính quyền thống nhất quốc gia sau khi những cuộc bầu cử tháng Bảy kết thúc trong bế tắc.

1985 Israel đơn phương rút lực lượng quân đội khỏi hầu hết các vùng ở Liban.

1987 Tháng Mười hai Người Palestine nổi dậy, hay là intifada, bắt đầu ở Bờ Tây và Dải Gaza.

1988 Tháng Mười hai Arafat thừa nhận quyền tồn tại của Israel. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, George P. Shultz cho phép mở một cuộc đối thoại với PLO. Đảng Likud và Đảng Lao động cùng liên kết để thành lập một chính quyền thống nhất quốc gia khác ở Israel sau cuộc bầu cử không có kết quả khác.

1. Mở đầu: Từ Minneapolis tới Beirut

Tháng Sáu năm 1979, tôi và vợ tôi, Ann đáp chuyến bay của Hãng Hàng không Trung Đông từ Geneva tới Beirut, mất bốn giờ bay trên chiếc máy bay 707 màu đỏ trắng. Đó là khởi đầu cho chuyến đi gần mười năm ở Trung Đông được nói tới trong cuốn sách này. Khởi đầu cũng như kết thúc, đều bất ngờ.

Khi chúng tôi đứng xếp hàng lần lượt đi qua máy dò kim loại trước cửa lên máy bay, chúng tôi chợt nhận ra mình đang đứng ngay sau ba người đàn ông Liban vạm vỡ, râu ria um tùm. Cứ mỗi lúc tiến gần tới cái máy dò kim loại thì nó lại càng kêu to và đèn đỏ sáng lòe, như thể là một chiếc máy trò chơi pinball đang nhả đạn. Cảnh sát Thụy Sĩ lập tức lao vào kiểm soát các vị hành khách của chúng ta, hóa ra đó không phải là những tên không tặc mang đầy súng và dao, mặc dù họ mang theo vô vàn kim loại; đó chỉ là một gia đình người Armeni chuyên nghề kim hoàn đem theo những thỏi vàng quay trở lại Beirut. Mỗi chàng trai trong gia đình đeo một chiếc thắt lưng đặc biệt có tới sáu thỏi vàng quanh bụng, và mỗi người cũng mang một hộp giày đổ đầy kim loại quý. Trên máy bay, họ ngồi ngay cạnh tôi và Ann, và suốt chuyến bay họ mang những thỏi vàng ra chơi trò tung hứng giải khuây.

Rốt cuộc rồi máy bay cũng hạ cánh xuống Sân bay Quốc tế Beirut, tôi nhận thấy những ô cửa sổ bị vỡ của nhà chờ, những vết đạn nham nhở, và những người lính gác có vũ khí đi lại, đầu gối tôi khởi sự run lên vì sợ hãi. Ngay tức khắc tôi nhận ra rằng mặc dù có bỏ ra hàng năm trời chuẩn bị cho thời khắc này – trở thành một phóng viên nước ngoài ở Trung Đông – thì tôi cũng chưa thực sự sẵn sàng được theo cái cách đang bày ra trước mắt.

Ở Minneapolis, Minnesota, nơi tôi sinh ra và lớn lên, tôi chẳng bao giờ ngồi cạnh những người mang vàng ra mà tung hứng với nhau trong khoang hạng phổ thông của hãng hàng không cả. Tôi cho rằng gia đình tôi là một gia đình Do Thái lai Mỹ trung lưu điển hình có khá khẩm một chút. Bố tôi chuyên bán vòng bi, mẹ tôi thì bếp núc và làm thủ thư bán thời gian. Khi còn nhỏ, tôi đã được gửi tới trường Do Thái năm ngày mỗi tuần, nhưng sau lễ Bar Mitzvah năm mười ba tuổi thì hội đạo Do Thái chỉ hấp dẫn tôi đôi chút; tôi trở thành một người Do Thái ba-ngày-một-năm – hai lần vào dịp năm mới (Rosh Hashanah) và một lần vào Ngày Chuộc tội (Yom Kippur). Năm 1968, chị cả tôi, Shelley, đang học ở Đại học Tel Aviv; đó cũng là năm chiến thắng huy hoàng của Israel trong Cuộc chiến Sáu ngày – khoảng thời gian mà Israel chiếm vị trí lớn lao trong những người Do Thái lai Mỹ trẻ tuổi. Trong dịp nghỉ lễ Giáng sinh năm 1968, bố mẹ đưa tôi tới Israel để thăm chị gái tôi.

Chuyến đi đó đã thay đổi cuộc đời tôi. Lúc đó tôi mới mười lăm tuổi và bắt đầu nhận biết về thế giới. Chuyến bay tới Jerusalem đánh dấu chuyến đi đầu tiên của tôi qua biên giới Wisconsin và cũng là lần đầu tiên tôi được đi máy bay. Tôi không biết có phải là bị sốc trước những điều mới mẻ, hay là sự chờ đợi mê hoặc thôi thúc khám phá, nhưng có điều gì đó ở Israel và Trung Đông đã chiếm giữ cả trái tim và tâm trí tôi. Tôi hoàn toàn bị dẫn dụ bởi nơi này, bởi những người dân và mâu thuẫn của nó. Từ thời khắc đó, tôi chẳng bao giờ bị thu hút bởi điều gì khác nữa. Quả là như thế, ngày đầu tiên tôi bước dọc thành phố cổ có bức tường bao quanh của Jerusalem, hít thở hương vị nơi này, và đắm mình trong dòng sông muôn màu của bao kiếp người chảy qua những mê cung ngoắt nghoéo của nó, tôi cảm thấy như đang ở nhà. Chắc hẳn, trong kiếp trước, có lẽ tôi đã là một người bán hàng tạp hóa, hay một người lính Franks, hoặc một người Thổ Nhĩ Kỳ, hay chí ít cũng là một tay chép sử biên niên người Do Thái thời Trung cổ. Có thể đó chỉ là do đấy là chuyến đi nước ngoài đầu tiên của tôi, nhưng năm 1968, tôi biết rằng sau này và mãi mãi tôi thực sự gắn bó với Trung Đông, hơn cả Minnesota…

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *